LUẬN VĂN: Vai trò của văn hoá kinh doanh trong đàm phán thương mại Việt - Nhật - Pdf 10

- -
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG………………
LUẬN VĂN Vai trò của văn hoá kinh doanh trong đàm
phán thương mại Việt - Nhật
Mục lục

- -
2

hợp với nền văn hoá Nhật bản.
Hoạt động giao lưu kinh tế Việt nam - Nhật bản đã trải qua 4 thế kỷ phát
triển và ngày một được nâng cao cả về chất lẫn lượng. Rõ ràng Nhật bản -
một nền kinh tế lớn với trình độ khoa học kỹ thuật cao, dân số xấp xỉ 125
triệu người là một đối tác hết sức quan trọng đối với Việt nam. Đây còn là
một đối tác có nền văn hoá kinh doanh tiên tiến; mang đậm bản sắc văn hoá
dân tộc. Là một sinh viên hiện đang theo học tiếng Nhật, có cơ hội được gặp
gỡ và làm việc với nhiều doanh nghiệp Nhật bản, trong bài khoá luận tốt
nghiệp của mình, tôi mong muốn được đóng góp một vài ý kiến quanh vấn đề
“Vai trò của văn hoá kinh doanh trong đàm phán thương mại Việt - Nhật”.
2- Kết cấu của khoá luận:
Bài khoá luận được chia làm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về văn hoá kinh doanh và đàm phán thương mại
quốc tế
Chương II: Vai trò của văn hoá kinh doanh trong đàm phán thương mại
Việt – Nhật
Chương III: Những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng văn hoá kinh
doanh trong giao dịch đàm phán với các đối tác Nhật bản thời gian tới.
3- Mục đích và phạm vi nghiên cứu:
Văn hoá kinh doanh là một đề tài rất rộng nên khoá luận chỉ tập trung
nghiên cứu những lý luận cơ bản về văn hoá kinh doanh, đàm phán thương
mại, và đánh giá vai trò của văn hoá kinh doanh đến đàm phán thương mại
giữa các nhà kinh doanh Việt nam – Nhật bản. Trên cơ sở những kết luận rút
ra trong quá trình nghiên cứu, khoá luận xin mạnh dạn đề xuất một số biện
- -
4
pháp với hy vọng góp phần voà việc nâng cao hiệu quả sử dụng văn hoá kinh
doanh trong giao dịch đàm phán với các đối tác Nhật bản trong thời gian tới.
Có thể thấy đây là một đề tài khá phức tạp, cộng thêm những hạn chế
nhất định của người viết nên bài luận văn này chắc chắn không thể tránh khỏi

Xét về mặt ngôn từ: Văn hoá xuất phát từ một thuật ngữ La tinh là
“Cultus” có nghĩa là “trồng trọt”. Đây là một khái niệm rộng, gồm có 2 mặt:
Văn hoá vật chất - tức là trồng nên cây trái để giúp cho con người tồn tại và
Văn hoá tinh thần - tức giáo dục, cải tạo con người sống tốt đẹp hơn.
Theo quan điểm của các nhà nhân loại học: "Văn hoá hay Văn minh
xét theo nghĩa nhân loại học nói chung, là tổng thể bao gồm tri thức, tín
- -
6
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ khả năng và thói
quen nào mà con người thu nhận được với tư cách là thành viên của xã hội.
Điều kiện Văn hoá trong các xã hội loài người khác nhau, ở một chừng mực
có thể kiểm soát được theo những nguyên tắc chung, là đối tượng thích hợp
để nghiên cứu quy luật tư duy và hành động của con người" (Edward.B.Tylor)
[12,23].
Định nghĩa trên liệt kê một cách khá đầy đủ các yếu tố cấu thành nên
khái niệm song lại ít quan tâm tới khái niệm văn hoá vật chất - vốn là một bộ
phận khá phong phú trong kho tàng văn hoá nhân loại.
Bách khoa toàn thư Anh (trang 741) cho rằng có thể coi Văn hoá và
Văn minh là hai từ đồng nghĩa. Từ đó có thể nói tất cả những biến đổi do con
người tạo ra ở ngoài cơ thể được gọi là các thành tựu văn hoá, tập hợp các
thành tựu ấy ta gọi là văn hoá, các thời kỳ đỉnh cao của văn hoá ta gọi là văn
minh [5,20]. Khái niệm này đã nhấn mạnh được hàm ý: nói đến văn hoá là
phải nói đến con người, mà nói đến con người trước hết phải nói đến tư
tưởng, tâm lý, tư duy, tình cảm Đó là cốt lõi của văn hoá. Lịch sử văn hoá là
lịch sử con người và loài người đã tạo nên văn hoá. Ngược lại, văn hoá làm
cho con người trở thành người. Song định nghĩa này lại thiếu tính cụ thể với
cách hiểu còn chung chung
Trong lĩnh vực tâm lý học, các học giả lại định nghĩa "Văn hoá là hành
vi, hành động, thái độ của con người" [5,20]. Vì vậy, bên cạnh giáo dục tri
thức, kỹ năng, phải đặc biệt coi trọng giáo dục các thái độ mà chúng ta gọi

thời cổ đại, kinh doanh đã mang tư cách là một ngành nghề với sự góp sức
của tầng lớp doanh nhân.
- -
8
Vậy “kinh doanh” là gì ?
Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên định nghĩa về kinh doanh như
sau: Kinh doanh tức là “dùng công sức, tiền tài mà tổ chức các hoạt động để
kiếm lời như buôn bán, mở nhà máy” [20,573]. Định nghĩa này rõ ràng là còn
thiếu, còn chung chung, chưa nêu được bản chất của hoạt động kinh doanh.
Từ điển Từ và ngữ Việt nam của Nguyễn Lân giải thích: "kinh doanh là
tổ chức hoạt động về mặt kinh tế để sinh lời” [21,994]. Định nghĩa này chỉ
làm nổi bật được mục đích tối thượng của kinh doanh, còn vẫn thiếu tính cụ
thể.
Học giả Đỗ Minh Cương trong cuốn “Văn hóa kinh doanh và Triết lý
kinh doanh” đã đưa ra một số định nghĩa về khái niệm này như sau:
 Kinh doanh là một dạng thức của kinh tế với mục đích chính là
đạt được lợi nhuận cho chủ thể.
 Kinh doanh là tất cả nhứng hoạt động có mục tiêu cơ bản là đạt
được lợi nhuận cho chủ thể.
 Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [19,994].
Trong ba định nghĩa trên về “kinh doanh”, có thể thấy định nghĩa thứ ba
là đầy đủ và cụ thể nhất. Với cách hiểu này, có thể thấy kinh doanh giữ một
vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội: Kinh doanh là tác nhân
đồng thời là điều kiện và phương tiện thúc đẩy nền khoa học kỹ thuật và công
nghệ phát triển, tạo ra sự thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của xã hội loài
người trên tất cả mọi lĩnh vực.
* Đặc điểm
- -

thể) cùng có lợi.
Trên đây, chúng ta vừa tìm hiểu hai khái niệm là khái niệm “văn hoá” và
khái niệm “kinh doanh”. Hiểu đúng về hai khái niệm sẽ giúp chúng ta nắm
được mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa hoạt động kinh doanh và các yếu
tố văn hoá.
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa văn hoá và kinh doanh
Thứ nhất, "Kinh doanh có văn hoá" tạo cơ sở cho một sự phát triển bền
vững
Từ trước tới nay, văn hoá thường bị liệt vào lĩnh vực “sản xuất phi vật
chất”, luôn phụ thuộc vào lĩnh vực kinh tế. Kinh tế có phát triển thì mới có
điều kiện vật chất để phát triển văn hoá.Tuy nhiên, “Khi các mục tiêu tăng
trưởng kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hoá thì kết quả thu
đưọc sẽ rất khập khiễng, mất cân đối cả về kinh tế lẫn văn hoá, đồng thời tiềm
năng sáng tạo của mỗi dân tộc sẽ bị suy yếu đi rất nhiều” (Tổng Giám Đốc
UNESCO F.Mayor) [5,33]. Điều này là dễ hiểu vì bản chất của hoạt động
kinh doanh là lợi nhuận: “Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can
đảm. Được bảo đảm 10% lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu
cũng được; được 20% thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50% thì nó trở nên thật sự
táo bạo; được 100% thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được 300%
thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo
cổ”(C.Mác) [19,22].
Về vấn đề này, những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu
cho thấy: Sự thành công và năng động của các quốc gia Châu Á - Thái Bình
Dương là do có sự bắt nguồn từ các yếu tố truyền thống, trong đó tính cộng
đồng và ý thức dân tộc thể hiện rất cao trong quan hệ làm ăn, kinh doanh, sự
- -
11
ham học hỏi, ham hiểu biết, sự cần cù vươn lên và tính nghiêm túc, kỷ luật
cao trong công việc đã được nhấn mạnh.
Nền kinh tế Việt nam cũng đã có một bước tiến đáng kể. Nguyên nhân

ngấm hương. Và do cái nếp pha trà đó, mà nhiều vị khách người nước ngoài
đã kiên nhẫn ngồi với một tiệc trà Huế hàng mấy tiếng đông hồ.
Một trong những cơ hội kinh doanh rõ rệt nhất bắt nguồn từ văn hoá là
du lịch. Tại Châu Á ngày nay, du lịch là một thị trường đầy triển vọng. Sự
phát triển ngoạn mục của ngành du lịch là một trong những thay đổi đáng kể
nhất trong thương mại quốc tế vào nửa sau thế kỷ 20. Doanh thu của hoạt
động du lịch quốc tế tăng tới 18 lần từ năm 1970 đến 1993, từ 18 tỷ USD lên
324 tỷ USD. Năm 1996, ngành du lịch chiếm gần 10% hoạt động thương mại
quốc tế [24,1]. Ngoài nguồn lợi xét về mặt thương mại ra, ngành du lịch còn
có một vai trò rất lớn trong việc truyền bá các giá trị văn hoá, truyền thống
của một quốc gia với thế giới. Tuy nhiên, điều làm cho các quốc gia đang đau
đầu hiện nay là liệu sự phát triển này có là bền vững trong tương lai mà không
làm xuống cấp các tài sản văn hoá vô giá đó.
Số lượng du khách ngày càng tăng đòi hỏi phải mở rộng thêm cơ sở vật
chất mà có nguy cơ biến những nơi yên ả, thanh bình, đầy nét truyền thống và
mang đậm bản sắc hấp dẫn trở thành những nơi họp chợ ồn ào, rẻ tiền, và bẩn
thỉu. Do nhiều nước ra sức mở rộng nhanh chóng cơ sở vật chất để phát triển
du lịch ồ ạt kiểu con buôn nên tính xác thực của yếu tố văn hoá truyền thống
bản địa đang bị chết dần, chết mòn. Mỉa mai là chính yếu tố văn hoá và các
phong tục truyền thống xác thực lại là cái mà các khách du lịch muốn xem khi
thăm di tích.
- -
13
Vấn đề này đã được bàn đến tại Việt nam trong Hội thảo do Trung tâm
di sản Thế giới của UNESCO và Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt nam tổ
chức tại Huế về “Du lịch bền vững và sự phát triển di sản văn hoá”. Một trong
những khía cạnh quan trọng nhất cuả cuộc Hội thảo nói trên là làm sáng tỏ vai
trò tiềm năng của ngành du lịch trong việc bảo tồn và duy trì di sản văn hoá
có thể làm tăng hiểu biết và lòng tự hào vủa người dân về lịch sử và nền văn
minh của mình.

cho chúng ta những triết lý về kinh doanh bổ ích.
Thứ tư, Văn hoá ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư duy, tình cảm, hành vi của
các doanh nhân
Mỗi một con người trong chúng ta đều luôn được đặt trong tổng hoà của
các mối quan hệ xã hội. Chính các mối quan hệ mang đậm bản sắc văn hoá
của từng cộng đồng ấy đã có ảnh hưởng sâu sắc đến từng cá nhân trong xã
hội. Nó quyết định tới mọi hành vi, tư duy tình cảm của con người. Mặt khác,
chính con người lại là chủ thể của mọi hoạt động. Như vậy, các cá nhân thuộc
các nền văn hoá khác nhau thì có cách tiến hành hoạt động khác nhau. Một ví
dụ điển hình đó là: tại các nước phương Tây, con người luôn có thói quen đặt
cái tôi lên trước. Ngược lại, ở phương Đông, nhân sinh quan của con người là
hướng về cộng đồng. Một nhà kinh doanh được coi là tài ba sẽ không chỉ là
một con người tháo vát, biết làm giàu cho bản thân mình, mà còn phải là một
con người có “tâm”, biết làm giàu cho cả xã hội. Điều này lý giải tại sao ở các
nước phương Tây, mại dâm lại được coi là một thứ nghề, có thể được công
khai kinh doanh. Trong khi đó, người dân các nước phương Đông lại khó
chấp nhận được tình trạng này bởi nó đi ngược lại thuần phong mỹ tục, chà
- -
15
đạp lên các giá trị tôn trọng hạnh phúc gia đình, tôn trọng mối quan hệ giữa
vợ chồng, con cái. Ngày nay, trong bối cảnh làn sóng toàn cầu hoá đang diễn
ra mạnh mẽ, cạnh tranh kinh tế ngày một trở nên gay gắt , đương nhiên
không thể tránh khỏi những đổi thay trong hệ tư tưởng, quan điểm của mỗi
dân tộc. Thái Lan - một quốc gia châu Á tươi đẹp - vốn có truyền thống coi
trọng gia đình, coi trọng cộng đồng, thì giờ đây, đã trở thành một quốc gia với
tỷ lệ gái mại dâm, và tỷ lệ người bị nhiễm HIV khá cao so với các nước khác
trên thế giới. Ngay tại Việt nam, cũng từng có thời người ta đặt ra vấn đề có
nên coi mại dâm là một nghề kinh doanh có kiểm soát hay không.
Trên đây, chúng ta đã làm rõ mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa văn
hoá và kinh doanh. Như vậy, có thể thấy: kinh doanh tạo ra các điều kiện cơ

thông tin, ra sức cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên
liệu, quan tâm thích đáng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao
động, bồi dưỡng và phát huy tiềm năng sáng tạo của họ trong việc tạo ra
những hàng hoá và dịch vụ có chất lượng tốt, hình thức đẹp, giá cả hợp lý,
đáp ứng được nhu cầu của thị trường, giữ được chữ tín với người tiêu dùng
trong nước và ngoài nước [5,61]. Đây là cách kiếm lời nhanh nhất trên cơ sở
đảm bảo kết hợp được cả cái đúng, cái tốt, cái đẹp - vốn là những giá trị cốt
lõi của văn hoá với cái lợi là mục đích trực tiếp của kinh doanh.
Nói tóm lại, xuất phát từ bản chất của hoạt động kinh doanh đồng thời
xem xét các tác động của yếu tố văn hoá, trong phạm vi bài luận văn này,
chúng ta thống nhất định nghĩa "Văn hoá kinh doanh là việc sử dụng các
nhân tố văn hoá vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hoá
- -
17
mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh hình thành nên
những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ" [19,66].
1.1.3 Đặc điểm của "văn hoá kinh doanh"
“Văn hoá kinh doanh” là một khái niệm nằm trong khái niệm “văn hoá”.
Vì thế ngoài những đặc điểm riêng có do có sự xuất hiện của yếu tố kinh
doanh, thì khái niệm này còn mang các đặc trưng chung của khái niệm “văn
hoá”.
1.1.3.1 Đặc điểm chung
Thứ nhất, Văn hoá là sản phẩm hoạt động lao động sáng tạo của con
người, cộng đồng loài người
Có thể nói hoạt động sáng tạo là hoạt động đặc trưng của loài người. Kể
từ khi người vượn - tổ tiên của loài người xuất hiện, phải mất hàng triệu năm,
người vượn mới tiến hoá lên thành người trí tuệ. Lúc này con người mới biết
chế tạo các công cụ lao động. Văn hoá, Văn minh bắt đầu có từ đó, cuối thời
Đá cũ, đầu thời Đá mới. Như vậy có thể thấy, Văn hoá ra đời gắn liền với
hoạt động sáng tạo ra các công cụ lao động của con người. Đó là quá trình

việc người Trung quốc ở một số địa phương vẫn còn duy trì tục lệ bó chân
con gái như trước. Hay người Việt nam ngày nay vẫn còn quen ăn gan gà xào
giá cho dù khoa học đã chứng minh được cách nấu này có thể làm xuất hiện
các độc tố trong thực phẩm. Thói quen này phát sinh từ những tập quán nấu
nướng trong các đám giỗ, cỗ bàn trước đây.
Thứ tư, Văn hoá tồn tại lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác
và không ngừng được bổ sung, làm mới
- -
19
Văn hoá ra đời đi liền với thuở bình minh của nhân loại. Cùng với thời
gian, mỗi một thế hệ lại tự cộng thêm những đặc trưng riêng của thế hệ mình
vào nền văn hoá của dân tộc trước khi truyền lại cho thế hệ sau. Trong mỗi
một thế hệ, thời gian qua đi, những cái mới được thêm vào, những cái cũ có
thể bị loại trừ. Bởi thế văn hoá là một đối tượng không bao giờ tĩnh tại và bất
biến mà ngược lại, văn hoá luôn luôn thay đổi và năng động. Văn hoá biết
cách tự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới, trình độ mới. Có thể thấy
rõ điều này qua sự phát triển của văn hoá phương Tây bắt đầu từ Cận đông.
Tại đó, cách đây khoảng 4000 năm trước công nguyên, con người đã sống
trong làng ấp, đã biết dệt vải, làm đồ gốm, dùng súc vật để cày bừa, trồng ngũ
cốc, có các kiến trúc vĩ đại (như Kim tự tháp ) rồi dần dần đi từ một nền văn
hoá nông nghiệp lên nền văn hoá đô thị. Ban đầu ở Cận đông có sử dụng các
dấu chữ viết Trung quốc, song không theo hình tự, mà để chỉ âm của vần, sau
đó qua người Do thái, tới người Hy lạp, người La mã mà ta có mẫu tự chữ
viết A,B,C như ngày nay. Chữ số Ả rập từ con số Ấn độ đã chuyển sang hệ
thống số từ 0 đến 9 như hiện nay. Biết nói, biết đọc, biết viết, biết tính toán là
một chỉ số văn hoá rất tiêu biểu của từng con người và của cả dân tộc. Khoa
học cũng từ đó mà phát triển theo như toán học giải tích, lượng giác, triết lý,
văn chương (như truyện “Nghìn lẻ một đêm” ).
Nếu xem xét văn minh nhân loại nói chung, ta có thể thấy văn hoá luôn
có tính kế thừa và thay đổi liên tục. Xét theo lịch đại, nhân loại đã chứng kiến

và thị trường
- -
21
Nếu như văn hoá nói chung ra đời vào thuở bình minh của xã hội loài
người, thì văn hoá kinh doanh lại chỉ xuất hiện khi nền sản xuất hàng hoá phát
triển đến một mức nhất định. Khi đó, doanh nghiệp mới có đủ thời gian trải
nghiệm qua thực tiễn để xác định cho mình con đường kinh doanh nào là
đúng đắn, chứ không đơn thuần kinh doanh tất cả vì lợi nhuận như trước kia.
Thứ ba, Văn hoá kinh doanh có thể mang tính chất quốc tế
Điều này khác với văn hoá, vốn chỉ là khái niệm gắn liền với một dân
tộc, với một cộng đồng người (tuy vậy, cũng có trường hợp văn hoá của một
quốc gia vươn lên tầm quốc tế khi có sự giao thoa, hội nhập văn hoá giữa các
quốc gia). Ví dụ như văn hoá kinh doanh của các công ty có vốn đầu tư nước
ngoài như Honda, Coca Cola Dù các công ty xuyên quốc gia trên có hoạt
động trên nhiều nước khác nhau song chúng đều có một nền văn hoá kinh
doanh riêng biệt
Thứ tư, Văn hoá kinh doanh thường được xét trên một phạm vi hẹp, cụ
thể
Phạm vi này có thể là thể nhân, pháp nhân kinh doanh, trong đó chủ yếu
là văn hoá kinh doanh của các công ty, các tập đoàn.
1.1.4 Các yếu tố cấu thành nên văn hoá kinh doanh
Học giả Đỗ Minh Cương đã phân chia văn hoá kinh doanh, xét trong
phạm vi một doanh nghiệp ra làm các thành tố sau:
- Hành vi ứng xử, phong cách và lối hành động (chung) của doanh
nghiệp.
- Các hoạt động sinh hoạt văn hoá nghệ thuật như ca, nhac, văn chương
của doanh nghiệp.
- Phong tục, tập quán, thói quen, tâm lý chung của doanh nghiệp.
- -
22

độ công nghệ thấp, lao động thủ công là chủ yếu
- Tâm lý tiêu dùng: Tâm lý này sẽ chi phối ý tưởng kinh doanh của nhà
doanh nghiệp.
- Quan hệ giữa người lao động với tư liệu sản xuất: Những người lao
động sử dụng thành thạo các tư liệu sản xuất, hoà hợp tốt với môi trường lao
động luôn là nguồn tìa nguyên quý giá đối với mỗi doanh nghiệp.
1.1.4.3 Văn hoá tổ chức quản lý trong kinh doanh:
Đây là văn hoá phản ánh đạo đức kinh doanh, phong cách kinh doanh
của nhà quản trị doanh nghiệp. Yếu tố này thường bao gồm:
- Về quy mô tổ chức quản lý: Doanh nghiệp có thể được tổ chức quản lý
theo nhiều khâu, với cơ cấu quản lý gọn nhẹ, song cũng có doanh nghiệp quản
lý theo một quy mô lớn, cơ chế quản lý cồng kềnh, theo kiểu “cấp phát xin
cho”.
- Về cách thức quản lý điều hành: Là yếu tố quan trọng phản ánh năng
lực lãnh đạo của nhà quản trị.
- Chế độ tuyển chọn và đãi ngộ nhân sự: Nhân lực là một trong ba nguồn
lực không thể thiếu được đối với một doanh nghiệp (ba yếu tố đó gồm nhân
lực, vật lực, trí lực). Làm tốt công tác tuyển chọn và có chế độ đãi ngộ hợp lý
sẽ tạo ra những cá nhân xuất sắc, góp phần đưa công ty phát triển, đồng thời
- -
24
tăng quan hệ gắn bó của người lao động với công ty, tạo nên sự phát triển ổn
định, và bền vững.
1.1.4.4 Văn hoá giao tiếp trong kinh doanh:
Yếu tố này bao gồm các bộ phận sau:
- Nguyên tắc ưu trội: Tất cả mọi cá nhân đều có những điểm mạnh cũng
như các điểm yếu riêng. Phát huy các thế mạnh có thể khiến cho các cá nhân
thêm tự tin trong giao tiếp. Ngược lại, các điểm yếu cần phải được khắc phục,
để xoá đi các mặc cảm, tự ti dẫn đến thua thiệt.
- Lối ứng xử: Là cả một thứ nghệ thuật đòi hỏi phải luôn trao dồi để có

b, Dàn xếp phương thức trao đổi thông qua hợp đồng
c, Chuyển giao quyền sở hữu theo luật đinh và trên thực tế cho một hoặc
nhiều bên khác để đổi lấy các giá trị sẽ nhận được
d, Hoàn thiện và giải quyết thành công các tồn tại của quá trình [6,27].
Định nghĩa này có vẻ phù hợp với gốc từ Tiếng Anh là Negotiation (vốn
xuất phát từ một từ La tinh là “negotium” có nghĩa là “trao đổi kinh doanh”).
Một số học giả đưa ra các định nghĩa rộng hơn. Chẳng hạn như:
L.Constantin cho rằng: “Đàm phán là toàn bộ các hoạt động cho phép kết hợp
một cách hoà bình các lợi ích đối kháng hoặc trái nhau của các nhóm người,
các thực thể xã hội, hay các cá nhân” [6,28]. Định nghĩa trên làm nổi bật được
cái đích của đàm phán song lại thiếu tính cụ thể, chưa chỉ ra các cách thức
trong đàm phán cũng như chưa đề cập tới những lợi ích thống nhất của các
bên. Định nghĩa này mới chỉ dừng ở mức coi nguyên nhân của đàm phán là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status