Lời nói đầu
Một quốc gia muốn tăng trởng và phát triển đòi hỏi phải đẩy mạnh các hoạt
động đầu t. Có đẩy mạnh hoạt động đầu t mới tận dụng hết các tiềm lực kinh tế,
thúc đẩy mọi hoạt động của nền kinh tế đi lên. Đặc biệt trong tình hình hiện nay,
thế giới đang có xu hớng khu vực hoá toàn cầu hoá thì các hoạt động đầu t trong
và ngoài nớc càng trở nên sôi động. Đó là thuận lợi lớn đối với một nớc đi sau,
chậm phát triển nh nớc ta trong việc thu hút các nguồn vốn cho đầu t phát triển, rút
ngắn khoảng cách so với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Đối với một
doanh nghiệp, việc mở cửa nền kinh tế, tăng cờng các hoạt động đầu t của đất nớc
đã đem lại nhiều thuận lợi lớn trong việc mở rộng hoạt động sản xuất cũng nh mở
rộng thị trờng. Đồng thời cũng đặt doanh nghiệp trớc nhiều thách thức mới do
cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đầu t có hiệu quả,
tức là làm thế nào để hoạt động đầu t vừa mang lại lợi ích vừa phù hợp với mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc?
Mỗi hoạt động đầu t có rất nhiều đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ thuật lại
chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố bất định. Do vậy, một công cuộc đầu t muốn đạt
hiệu quả đòi hỏi phải có một sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị này
thể hiện ở việc soạn thảo dự án bao gồm việc tính toán toàn diện các khía cạnh
kinh tế - kĩ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trờng xã hội pháp lý... có liên quan đến
quá trình thực hiện dự án. Tuy nhiên thực tế cho thấy, mỗi hoạt động đầu t chỉ
thực sự mang lại hiệu quả khi nó đợc thẩm định một cách khách quan trên tất cả
các phơng diện.
Thẩm định dự án là một khâu quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị đầu t,
công tác thẩm định càng đợc chuẩn bị tốt thì các quyết định đầu t càng trở nên
đúng đắn và dự án đảm bảo đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên trên thực tế, còn rất nhiều
hạn chế trong quá trình thực hiện công tác này. Vì vậy hoàn thiện công tác thẩm
định dự án đầu t là một vấn đề cấp thiết hiện nay. Trong phạm vi chuyên đề này
em xin nêu ra một số biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lợng thẩm định dự án tại
Cục đầu t phát triển Hà Nội.
1
Chuyên đề này có kết cấu 3 phần:
-Theo quan điểm của xã hội (quốc gia): Đầu t là hoạt động bỏ vốn phát triển để từ
đó thu đợc hiệu quả kinh tế - xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia.
2) Khái niệm dự án đầu t
Một quốc gia muốn tăng trởng và phát triển đòi hỏi phải đẩy mạnh các hoạt
động đầu t. Có đẩy mạnh hoạt động đầu t mới tận dụng đợc hết các tiềm lực của
nền kinh tế, thúc đẩy mọi hoạt động của nền kinh tế đi lên. Vấn đề đặt ra là làm
thế nào để đầu t có hiệu quả, tức là làm thế nào để hoạt động đầu t vừa mang lại
lợi ích cho nhà đầu t, vừa phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nớc? Có thể khẳng định rằng đầu t theo dự án là điều kiện cần, quan trọng để đảm
bảo một công cuộc đầu t thành công, hiệu quả.
Ta hãy xem xét các khái niệm về dự án đầu t:
Về mặt hình thức: Dự án đầu t là một tập hồ sơ, tài liệu trình bày một cách
chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đợc
những hiệu quả và thực hiện đợc những mục tiêu nhất định trong tơng lai.
3
Trên góc độ quản lý: Dự án đầu t là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn,
vật t, lao động để tạo ra các kết qủa kinh tế, tài chính trong thời gian dài
Trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu t là một công cụ thể hiện kế hoạch chi
tiết của một công cuộc đầu t sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội làm
tiền đề cho các quyết định đầu t và tài trợ cho dự án. Dự án đầu t là một hoạt động
kinh tế riêng biệt, là khâu đầu tiên trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói
chung.
Về mặt nội dung: Dự án đầu t là một tập hợp các hoạt động có liên quan với
nhau đợc kế hoạch hoá nhằm đạt đợc các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết
quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác
định.
Nh vậy dự án đầu t phản ánh toàn bộ các vấn đề về thị trờng, kinh tế, kỹ
thuật, công nghệ, xây dựng, tổ chức thi công, xây lắp, khả năng thu hồi vốn và
sinh lời của hoạt động đầu t. Tất cả các vấn đề đó có ảnh hởng trực tiếp đến việc
vận hành, khai thác và hiệu quả thực tế của hoạt động đầu t. Vì vậy việc tìm kiếm
tăng trởng kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn 1991 - 1995, mức tiết kiệm và đầu t
trong GDP tăng mạnh, tốc độ tăng trởng thời kỳ này tơng đối cao và ổn định. Năm
1995 có tỉ lệ đầu t/ GDP là 27,3%, tiết kiệm/ GDP là 17,0% và đạt tốc độ tăng tr-
ởng cao nhất trong suốt thời kỳ qua là 12,7%, tỉ lệ lạm phát dới hai con số là
9,5%.Tuy nhiên nếu xét toàn cảnh nền kinh tế và so sánh tình hình đầu t của nớc
ta với các nớc trong khu vực ta thấy rằng mức tích luỹ và đầu t của Việt Nam còn
rất thấp. Tích luỹ của nền kinh tế hạn hẹp, mức tiết kiệm (% trên GDP) gần nh
không tăng và chịu lệ thuộc một phần vào lợng kiều hối bên ngoài. Tốc độ vốn đầu
t bình quân hàng năm tăng nhanh từ 7,8% ở thời kỳ 1986 - 1990 lên 28,3% thời kỳ
1991 - 1995 đã giảm còn khoảng 15% suốt hai năm 1996 - 1997 và năm 1998 vẫn
tiếp tục xu hớng giảm. Thực tế đã cho thấy vốn đầu t cho phát triển kinh tế ở Việt
Nam tuy đã có những kết quả ban đầu nhng vẫn còn là một lĩnh vực nóng bỏng và
là một thách thức lâu dài đối với quá trình phát triển của Việt Nam. Do đó cần
phải có những chính sách thúc đẩy đầu t phù hợp để tăng cờng việc phát huy mọi
tiềm năng về vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nớc nhằm phục vụ cho
sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ mới.
3.2- Dự án đầu t tác động đến quan hệ cung cầu về sản phẩm và dịch vụ trên
thị trờng, cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng trong xã hội.
5
Theo quy luật của kinh tế thị trờng vận động có sự quản lý vĩ mô của Nhà n-
ớc, các dự án đầu t sẽ cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ với nhãn hiệu mới, kiểu
cách mới, chất lợng và giá thành hợp lý, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của ngời
tiêu dùng. Đây là hệ quả tất yếu của việc huy động tiềm năng về vốn đầu t, việc
tăng năng lực sản xuất và dịch vụ để kích thích sản xuất phát triển, tạo thêm nhiều
công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nguời lao động...
3.3- Dự án đầu t là phơng tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế
Các dự án đầu t đặc biệt là các dự án đầu t mới có vai trò to lớn trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Dự
án đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh
thổ, khai thác các thế mạnh về nguồn lực và điều kiện tự nhiên sinh thái của từng
đòi hỏi của tình hình đầu t trong thời kỳ mới.
4) Chu trình của dự án đầu t
Dự án đầu t đợc xây dựng và phát triển trong một quá trình gồm nhiều giai
đoạn riêng biệt song gắn bó chặt chẽ với nhau và đi theo một tiến trình lôgic đợc
gọi là chu trình dự án.Có nhiều cách phân chia chu trình dự án nhng ở đây để tiện
cho việc phân tích, ta phân chia thành 5 giai đoạn là: xây dựng dự án, thực hiện dự
án, vận hành dự án, đánh giá sau thực hiện dự án và kết thúc dự án.
4.1. Giai đoạn xây dựng dự án
4.1.1 - Nghiên cứu cơ hội đầu t
Nghiên cứu cơ hội đầu t là giai đoạn đầu tiên trong chu trình dự án. Đây là
những ý tởng ban đầu đợc hình thành trên cơ sở phát hiện những lĩnh vực có nhiều
tiềm năng để đầu t, từ đó hình thành sơ bộ các ý đồ đầu t. Trên thực tế, ý đồ về
một dự án mới có thể xuất phát từ các nguồn sau:
-Từ chiến lợc phát triển ngành hay chiến lợc phát triển kinh tế quốc dân
-Thông qua việc phát hiện các nguồn tài nguyên, nhân lực, vật liệu cha đợc khai
thác và sử dụng có hiệu quả.
-Dự án có thể đợc đề xuất để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng ở thị trờng
trong nớc và nớc ngoài còn cha đợc thoả mãn.
-ý đồ của dự án có thể nảy sinh từ yêu cầu khắc phục những khó khăn và trở
ngại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội do thiếu các điều kiện vật chất cần thiết.
7
Trên cở sở các ý đồ đầu t khác nhau đợc hình thành và đề xuất, cần tiến
hành nghiên cứu chi tiết hoá, lựa chọn ra những ý đồ dự án có triển vọng nhất (ph-
ơng án tối u) để tiến hành chuẩn bị và phân tích trong giai đoạn tiếp theo. Việc xác
định và sàng lọc các ý đồ dự án có ảnh hởng quyết định đến quá trình chuẩn bị và
thực hiện dự án sau này.
4.1.2 - Nghiên cứu tiền khả thi
Khi xác định sơ bộ đợc ý đồ, mục tiêu, phơng tiện của dự án, ta có thể tiến
hành nghiên cứu sơ bộ về các yếu tố cơ bản của dự án nh: Quy mô, công nghệ,
công suất thiết kế, thiết bị, nhu cầu về vốn cũng nh tổ chức thực hiện dự án. Trong
án vào vận hành khai thác.
Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích kỹ lỡng.
Song trong thực tế rất ít khi dự án đợc tiến hành hoàn toàn đúng nh hoạch định.
Nhiều dự án đã không đảm bảo đợc tiến độ thời gian và chi phí dự kiến, thậm chí
một số dự án đã phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp kỹ thuật không thích
hợp hay do thiếu vốn... Nói chung những rủi ro buộc hoạt động đầu t khó thực
hiện theo nh kế hoạch là các khó khăn về tài chính, các hạn chế về mặt quản lý,
các vấn đề kỹ thuật phát sinh thờng xuyên trong quá trình thực hiện dự án và do
các biến động chính trị tác động không tốt đến quá trình triển khai dự án.
4.3. Giai đoạn vận hành dự án đầu t
Giai đoạn vận hành dự án đầu t đợc xác định từ khi chính thức đa dự án vào
vận hành, khai thác cho đến khi kết thúc dự án. Đây là giai đoạn thực hiện các
hoạt động theo chức năng của dự án và quản lý các hoạt động đó theo kế hoạch đã
dự tính. Giai đoạn vận hành dự án có thể tiến hành ngay cả trong giai đoạn thực
hiện. Có thể chia giai đoạn thực hiện dự án thành những thời kỳ nhỏ hơn, chẳng
hạn, thời kỳ thứ nhất là thi công xây dựng các công trình cơ sở, sau khi hoàn thành
XDCB dự án chuyển sang thời kỳ phát triển. Trong thời kỳ này, dự án bắt đầu sinh
lợi và trả dần những khoản nợ trong thời kỳ đầu. Thời kỳ thứ ba bắt đầu khi dự án
đạt tới sự phát triển toàn bộ, nói cách khác các công trình đầu t ban đầu đã sử dụng
hết công suất và kéo dài tới khi dự án chấm dứt hoạt động.
4.4. Giai đoạn đánh giá sau thực hiện dự án
Đánh giá sau thực hiện dự án thực chất là việc phân tích đánh giá các chỉ
tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án trong giai đoạn vận hành, khai thác. Việc đánh giá
9
này nhằm hiệu chỉnh các thông số kinh tế - kỹ thuật đảm bảo mức đã đợc dự kiến
trong nghiên cứu khả thi trên cơ sở phát hiện và tìm biện pháp đảm bảo các thông
số vận hành của dự án. Đồng thời tìm kiếm các cơ hội phát triển, mở rộng hoặc
điều chỉnh các yếu tố của dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo hiệu
quả của dự án. Dựa vào các kết quả phân tích, các cơ quan có thẩm quyền đánh
giá quá trình vận hành, khai thác dự án để có quyết định đúng đắn về sự cần thiết
dự án
Thiết kế kỹ
thuật
Kí kết hợp
đồng, đấu thầu
Đào tạo CB -CNV
kỹ thuật, quản lý
Chạy thử,
nghiệm thu
Giai đoạn3: Vận hành
khai thác dự án
Giai đoạn 4: Đánh giá
sau thực hiện dự án
Giai đoạn 5: Kết thúc
dự án
đến mức độ nào. quá trình xem xét đánh giá dự án nhằm đạt đợc các mục tiêu nói
trên đợc gọi là thẩm định dự án đầu t.
Ta hãy xem xét hai cách khái niệm sau:
Thẩm định dự án đầu t là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, có
khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hởng trực tiếp tới tính khả thi của
dự án, từ đó ra quyết định đầu t và cho phép đầu t.
Thẩm định dự án đầu t là hoạt động chuẩn bị dự án, đợc thực hiện bằng kỹ
thuật phân tích dự án đã đợc thiết lập để ra quyết định đầu t, thoả mãn các yêu cầu
thẩm định của Nhà nớc.
Nh vậy, thẩm định dự án là khâu nằm trong quá trình chuẩn bị dự án nhng
tách biệt với khâu soạn thảo dự án. Thực chất của việc thẩm định dự án là kiểm tra
đánh giá toàn diện nội dung của dự án trên cơ sở các tiêu chuẩn, quyết định, định
mức của cơ quan quản lý Nhà nớc, các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Từ đó có
các kết luận về tính khả thi của dự án để làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền
của Nhà nớc ra quyết định đầu t và cho phép đầu t.
vấn đề về môi trờng sinh thái, yêu cầu ngày càng cao của khách hàng... Những đòi
hỏi ngày càng nghiêm khắc đó của thực tế buộc các nhà đầu t phải quan tâm đến
việc nghiên cứu tổ chức tối u toàn bộ quá trình chuẩn bị dự án và thực hiện dự án.
Đồng thời đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải có kiến thức, kinh nghiệm, phẩm
chất... để đánh giá đúng đắn hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
để ra quyết định hợp lý về đầu t hay quyết định cho vay, tài trợ cho dự án. Quá
trình các nhà quản lý thực hiện các nhiệm vụ này chính là quá trình thẩm định dự
án đầu t.
Mặt khác, một dự án đầu t cho dù đợc soạn thảo kỹ lỡng đến đâu thì vẫn
mang ý kiến chủ quan của nhà đầu t và sẽ có những sai sót nhất định trong việc
nhìn nhận đánh giá các vấn đề của dự án. Dự án đợc lập thờng không tránh khỏi
tình trạng bỏ sót các yếu tố trong khi tính toán, tình trạng thiếu khách quan thiên
về mục tiêu lợi nhuận mà coi nhẹ lợi ích của xã hội. Ngoài ra do chủ đầu t hạn chế
về nguồn thông tin, trình độ chuyên môn, quản lý cũng nh phân tích tình hình thực
tế của chủ đầu t còn yếu nên dự án đợc lập ra cha chắc đã thực sự khả thi, đáp ứng
đợc đòi hỏi của thị trờng cũng nh các mục tiêu phát triển của xã hội. Công tác
thẩm định dự án nhằm làm rõ tính đúng đắn, hợp lý của dự án trên cơ sở phân tích
một loạt các vấn đề có liên quan đến hiệu quả thực hiện dự án nh mục tiêu của dự
án, thị trờng sản phẩm, kỹ thuật - công nghệ, khả năng tài chính của dự án... Nh
13
vậy, thẩm định dự án có một vai trò to lớn đối với chủ đầu t, với Nhà nớc và đối
với các nhà tài trợ trong việc đảm bảo có một dự án thực hiện theo đúng kế hoạch,
thu hồi đủ vốn ban đầu, có lãi và đáp ứng đợc các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nớc.
Đối với chủ đầu t, thẩm định dự án nh là một quá trình kiểm tra đánh giá lại
toàn bộ các phơng diện của dự án dới một cái nhìn khách quan hơn. Giả sử rằng,
nếu lấy mục tiêu lợi nhuận tối đa để đi đến quyết định đầu t ta sẽ dễ dàng so sánh
giữa lợi nhuận có thể đạt đợc với chi phí đầu t đã bỏ ra. Tuy nhiên vấn đề không
hoàn toàn đơn giản nếu chúng ta chỉ xem xét một khía cạnh biểu hiện của hoạt
động đầu t là chi phí bỏ ra ở hiện tại nhng lợi nhuận là những khoản tiền nhận đợc
thời kỳ mới. Thẩm định dự án đầu t có tác dụng đảm bảo lợi ích của chủ đầu t,
đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả cũng nh đảm bảo sự trờng tồn của doanh nghiệp.
Thông qua thẩm định dự án sẽ giúp chủ đầu t lựa chọn đợc phơng án tốt nhất theo
quan điểm tính khả thi của dự án. Ngoài ra còn giúp các cơ quan quản lý Nhà nớc
thực hiện sự điều tiết của mình trong đầu t, đảm bảo sự cân đối giữa lợi ích kinh tế
- xã hội của quốc gia với lợi ích của chủ đầu t và giúp các định chế tài chính ra
quyết định chính xác về cho vay hoặc tài trợ cho dự án.
3) Mục đích thẩm định dự án
Mục đích của việc thẩm định dự án tuỳ theo cơ quan (hoặc cá nhân) thẩm
định có sự khác nhau. Ví dụ: Trong trờng hợp doanh nghiệp là nhà đầu t, thẩm
định dự án trớc hết để kiểm tra khả năng sinh lời về mặt tài chính cho doanh
nghiệp mình, trong khi đó đối với một cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nớc việc
thẩm định dự án để xem xét ra quyết định về chủ trơng đầu t đồng thời cũng đánh
giá các tác động của dự án đầu t đến chơng trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội để có biện pháp phòng ngừa hoặc hạn chế hậu quả; hoặc xem xét để có biện
pháp hỗ trợ nh miễn thuế, cấp giấy phép ... cho dự án trong quá trình thực hiện.
Với phơng châm đồng thời lấy hiệu quả chung của nền kinh tế và hiệu quả
riêng của doanh nghiệp làm mục đích, công tác thẩm định dự án phải nhằm các
mục tiêu sau:
-Có quyết định chủ trơng bỏ vốn đầu t đúng đắn, có cơ sở, đảm bảo hiệu quả
của vốn đầu t.
-Phát hiện và bổ xung thêm các biện pháp đảm bảo tính khả thi cao cho việc
triển khai thực hiện dự án, hạn chế giảm bớt các yếu tố rủi ro.
15
-Tạo ra căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích, đúng đối tợng và
tiết kiệm vốn đầu t trong quá trình thực hiện.
-Có cơ sở tơng đối vững chắc để xác định đợc hiệu quả đầu t của dự án cũng nh
khả năng hoàn vốn hoặc khả năng trả nợ của dự án và chủ đầu t.
-Rút ra kinh nghiệm và bài học để phục vụ tốt các yêu cầu nghiệp vụ chung về
thẩm định dự án.
những nhợc điểm, tồn tại của dự án để có ý kiến về việc có nên đầu t cho dự án
hay không, hoặc đề xuất những nội dung cần bổ xung, điều chỉnh đối với dự án tr-
ớc khi tiếp tục thẩm định.
Trong thực tế, ngời ta thờng sử dụng các phơng pháp thẩm định sau:
5.1- Phơng pháp so sánh
Phơng pháp so sánh là phơng pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế
- kỹ thuật chủ yếu của dự án đợc so sánh với các dự án đã và đang xây dựng hoặc
đang hoạt động trên một số chỉ tiêu sau:
-Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình do Nhà nớc quy
định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận đợc
-Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ với chiến lợc đầu t công nghệ
của quốc gia, quốc tế.
-Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trờng đòi hỏi.
-Định mức về sản xuất, tiêu hao năng lợng, nguyên liệu, nhân công, tiền lơng,
chi phí quản lý... của ngành.
-Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu t của dự án.
Một điều cần lu ý trong tiến hành phơng pháp so sánh là các chỉ tiêu dùng
để tiến hành so sánh phải đợc vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể
của dự án và doanh nghiệp. Cần hết sức tranh thủ ý kiến của các cơ quan chuyên
gia (kể cả các thông tin trái ngợc) để tránh khuynh hớng so sánh máy móc, cứng
nhắc.
5.2- Phơng pháp phân tích độ nhạy
Cơ sở của phơng pháp phân tích độ nhạy là dự kiến một số tình huống bất
trắc có thể xảy ra trong tơng lai nh vợt chi phí đầu t, sản lợng đạt thấp, giá các chi
17
phí đầu vào tăng và giá tiêu thụ sản phẩm giảm, có thay đổi về chính sách thuế
theo hớng bất lợi... khảo sát tác động của những yếu tố đó đến hiệu quả đầu t và
khả năng hoà vốn của dự án.
Mức độ sai lệch của các bất trắc thờng đợc chọn từ 8 đến 10% và nên chọn
các yếu tố tiêu biểu, dễ gây ra tác động xấu đến lợi nhuận của dự án để xem xét.
II) Giai đoạn sau khi
dự án đi vào hoạt động
1. Rủi ro về cung cấp
các yếu tố đầu vào chủ
yếu
Hợp đồng cung cấp dài hạn của các công ty cung ứng
có uy tín và các nguyên tắc thoả thuận về giá mua bán.
2. Rủi ro về tiêu thụ
sản phẩm
Hợp đồng bao tiêu dài hạn và các nguyên tắc thoả thuận
về giá tiêu thụ
3. Rủi ro về tài chính Có cam kết đảm bảo nguồn vốn tín dụng, mở L/C của
các cơ quan cấp vốn
4. Rủi ro về quản lý
điều hành
Đánh giá năng lực quản lý của doanh nghiệp hiện tại, có
hợp đồng thuê quản lý (nếu cần).
5. Rủi ro bất khả kháng Mua bảo hiểm tài sản, bảo hiểm kinh doanh
Trong thực tế, biện pháp phân tán rủi ro đơn giản nhất và quen thuộc nhất là
bảo lãnh của ngân hàng, của doanh nghiệp uy tín khác và biện pháp thế chấp tài
sản.
6. Nội dung cơ bản của thẩm định dự án đầu t
Sau khi kiểm tra tính pháp lý và tính đầy đủ của các tài liệu cần thiết, việc
thẩm định tài chính dự án đợc tiến hành theo các nội dung sau:
6.1- Phân tích sự cần thiết phải đầu t
Với quan điểm mỗi dự án đầu t là một mắt xích quan trọng trong chơng trình
phát triển kinh tế dài hạn, trung hạn của ngành, vùng lãnh thổ , việc phân tích sự
cần thiết phải đầu t phải trả lời đợc các câu hỏi sau:
-Dự án có vị trí u tiên thế nào đến quy hoạch phát triển chung?
-Dự án nếu đợc đầu t sẽ đóng góp gì cho các mục tiêu: gia tăng thu nhập cho
6.3.1- Xem xét việc lựa chọn địa điểm và mặt bằng xây dựng
Ngời thẩm định dự án phải xem xét kỹ các vấn đề sau:
Vị trí của dự án phải đợc tối u hoá về:
- Tuân thủ các quy định về quy hoạch xây dựng và kiến trúc của địa phơng
và các quy định của cơ quan quản lý Nhà nớc có thẩm quyền.
20
- Thuận lợi về điều kiện giao thông để vận chuyển nguyên vật liệu, hàng
hoá, ra vào với phơng tiện vận tải phù hợp, giá cớc hạ.
- Gần nguồn cung cấp nguyên vật liệu chủ yếu để xây dựng và phục vụ sản
xuất cũng nh gần các hộ tiêu thụ sản phẩm quan trọng.
- Hợp lý với việc đi lại của cán bộ, công nhân viên, tận dụng đợc các cơ sở
vật chất kỹ thuật hạ tầng có sẵn trong vùng để giảm chi phí.
- Các chất phế thải, nớc thải nếu độc hại đều phải qua khâu xử lý và phải
gần tuyến thải cho phép. Nếu công trình có khí thải độc hại và tiếng ồn lớn cần
phải tránh xây dựng ở các khu dân c.
Mặt bằng đợc chọn cũng cần đủ rộng để có thể phát triển trong tơng lai phù
hợp với tiềm năng phát triển của doanh nghiệp. Mặt bằng cũng không nên quá
chật để đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh công nghiệp, phòng cháy, chữa cháy...
Việc đầu t đòi hỏi xây dựng ở địa điểm mới cũng cần xem xét kỹ khả năng
thực thi việc đền bù, giải phóng mặt bằng để có thể ớc lợng tơng đối đúng chi phí
và thời gian thực hiện dự án.
6.3.2 - Xem xét việc lựa chọn hình thức đầu t và công suất của dự án
Việc xem xét lựa chọn hình thức đầu t và công suất của dự án nói chung là
nhiệm vụ của chủ dự án và những nhà chuyên môn, ngời thẩm định dự án chỉ có
nhiệm vụ xem xét, phát hiện vấn đề và trên cơ sở các kinh nghiệm và thông tin của
mình để kiến nghị với chủ dự án.
Ngời thẩm định phải nghiên cứu kỹ lỡng năng lực và điều kiện sản xuất hiện
tại của doanh nghiệp mới có thể đề xuất đợc hình thức đầu t thích hợp:
Khi công nghệ, thiết bị sản xuất hiện có đã tỏ ra lạc hậu, chất lợng và năng
suất lao động đạt thấp hoặc chi phí sản xuất cao dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp
bộ để triệt để tận dụng đợc các năng lực hiện có, tránh lãng phí.
Đối với loại thiết bị nhập khẩu, ngoài việc kiểm tra nội dung trên còn cần
kiểm tra thêm các mặt:
-Các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu có đúng với luật và thông lệ ngoại th-
ơng không
22
-Việc chấp hành đúng quy định của Thủ tớng chính phủ về việc quản lý các hợp
đồng nhập khẩu thiết bị đầu t bằng vốn Nhà nớc.
-Đối với việc nhập khẩu các thiết bị đã qua sử dụng (second-hand) cần phải
chấp hành đúng chỉ thị của Nhà nớc.
6.3.4- Kiểm tra về giải pháp xây dựng
Ngời thẩm định dự án đầu t căn cứ vào yêu cầu công nghệ, các định mức
tiêu chuẩn xây dựng loại dự án, nhu cầu xây dựng các hạng mục công trình và
xuất phát từ yêu cầu tận dụng tối đa các hạng mục công trình xây dựng sẵn có, tiết
kiệm vốn đầu t và thời gian thi công để xác định các hạng mục công trình đợc u
tiên để tập trung thi công dứt điểm để nhanh chóng đa dự án vào hoạt động, phát
huy sớm hiệu quả đầu t.
Hiện nay chủ đầu t có xu hớng đầu t nặng về xây lắp mà không quan tâm
đến khả năng vốn đầu t và các điều kiện cần thiết khác để nhanh chóng đa dự án
vào sản xuất. Nếu không nghiên cứu, thẩm tra nội dung này sẽ dẫn đến hậu quả
đầu t lãng phí, ảnh hởng xấu đến tiến độ thi công , gây ứ đọng vốn, giảm hiệu quả
đầu t của dự án.
6.3.5- Đánh gía về chơng trình, tiến độ thực hiện dự án
Để có đợc số liệu hợp lý về chơng trình sản xuất của dự án cần phân tích kỹ
hệ số phát huy công suất của dự án trong những năm đầu hoạt động. Do độ dài
thời gian từ khi dự án hoàn thành cho đến khi đạt công suất mong muốn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố nh: loại công nghệ, chất lợng chế tạo và lắp đặt thiết bị, kinh
nghiệm và tay nghề của công nhân vận hành, khả năng điều hành sản xuất và cung
ứng...nên cẩn trọng trong khi xác định hệ số (%) sử dụng công suất của dự án,
tránh xu hớng đánh giá cảm tính, quá lạc quan dẫn đến có sự sai lệch lớn giữa dự
thông sản phẩm, khả năng thực tế về cung ứng vật t, nguyên nhiên vật liệu kể cả
nhu cầu dự trữ tồn kho hợp lý... nhu cầu vốn lu động đợc xác định.
-Chi phí thành lập: gồm các chi phí để mua sắm các loại vật dụng cần thiết
không phải là tài sản cố định và các chi phí để hoạt động ban đầu( đối với các dự
án du lịch, dịch vụ). Ngời ta thờng thu hồi chi phí này thông qua việc khấu hao chi
phí này trong một số năm hoạt động của dự án.
24
-Chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian thi công của các dự án đầu t xây
dựng mới và chủ dự án không có nguồn trang trải thờng đợc tính luôn vào chi phí
đầu t để khi dự án đi vào sản xuất mới hoàn trả.
Việc xác định đúng đắn mức vốn đầu t của dự án là rất cần thiết. Trong khi
thẩm định cần chú ý đến hai khuynh hớng thờng gặp trong tính toán dự án:
Một là: Tính toán quá cao để tranh thủ vốn, gây lãng phí ứ đọng vốn và
giảm hiệu quả đầu t.
Hai là: Tính toán quá thấp để tranh thủ vốn đầu t một cách giả tạo dẫn đến
quyết định đầu t sai lệch.
6.5.2- Kiểm tra việc tính toán giá thành - chi phí sản xuất
Trên cơ sở bảng tính giá thành đơn vị hoặc tổng chi phí sản xuất hàng năm
của dự án cần đi sâu kiểm tra các mặt sau:
-Tính đầy đủ các yếu tố chi phí giá thành sản phẩm. Đối với các yếu tố giá
thành quan trọng cần xem xét sự hợp lý của các định mức sản xuất, tiêu hao, đơn
giá... có so sánh các định mức và các kinh nghiệm từ các dự án đang hoạt động.
-Kiểm tra cách tính và tỉ lệ khấu hao, phân bổ khấu hao từ giá trị đầu t trong giá
thành sản phẩm phù hợp với các quy định và hớng dânx của Nhà nớc.
-Kiểm tra chi phí nhân công trên cơ sở số lợng nhân công cần thiết cho một đơn
vị sản phẩm và số lợng nhân công vận hành dự án.
-Kiểm tra việc tính toán, phân bổ chi phí về lãi vay ngân hàng (kể cả lãi vay dài
hạn, ngắn hạn) và giá thành sản phẩm.
Đối với các loại thuế của Nhà nớc đợc phân bổ vào giá bán sản phẩm tuỳ
loại tình hình sản xuất mà có sự phân tích, tính toán cho hợp lý.