Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm tra, kiểm soát là một chức năng quan trọng của quản lý, kiểm tra
không phải là một pha hay một giai đoạn của quản lý mà nó thực hiện tất cả các
giai đoạn của quá trình này nh: giai đoạn định hớng cần có những dự báo về nguồn
lực và các mục tiêu cần đạt tới..., giai đoạn tổ chức thực hiện và giai đoạn điều
chỉnh các định mức và các mục tiêu. Kiểm tra, kiểm soát gắn liền với quản lý, đồng
thời gắn liền với mọi hoạt động. Kiểm tra kiểm soát nảy sinh và phát triển từ chính
nhu cầu quản lý.
Vì vậy trong thực tế vấn đề kiểm tra, kiểm soát trong quản lý rất đợc sự quan
tâm của hầu hết các doanh nghiệp nói. Cũng nh đối với các công ty lớn nh đối với
Tổng công ty xăng dầu Việt Nam, vấn đề hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và
xây dựng các thủ tục kiểm soát luôn đợc đặt lên hàng đầu. Trải qua quá trình hoàn
thiện của minh Tổng công ty đã xây dựng đợc một cơ chế quản lý, một hệ thống
kiểm soát nội bộ, cũng nh một hệ thống các thủ tục kiểm soát khá chặt chẽ, tuy
nhiên bên cạnh đó vẫn còn có nhiều vấn đề đặt ra cần đợc hoàn thiện.
ở Việt Nam, trong thời kì cơ chế kế hoạch hoá tập trung, kểm tra kiểm soát
đã đợc quan tâm ngay từ thời kỳ xây dựng đất nớc.tất nhiên trong cơ chế kế hoạch
hoá, tập trung quan liêu bao cấp công tác kiểm tra và bộ máy kiểm tra cũng đợc tổ
chức phù hợp với cơ chế đó. Nhà nớc với t cách là đơn vị chủ sở hữu kiểm tra, kiểm
soát nội bộ chủ yếu đợc thực hiện thông qua tự kiểm tra của kế toán. kiểm tra kiểm
soát thực hiện thông qua xét duyệt hoàn thành kế hoạch, xét duyệt quyết toán thông
qua các vụ việc ... Hoạt động kiểm tra, kiểm soát này cha đáp ứng đợc đòi hỏi của
thực tiễn, biểu hiện cụ thể là kỉ cơng, luật pháp bị buông lỏng, hiệu năng quản lí và
hiệu quả hoạt động không cao.
Từ những năm 1990, sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ cơ chế tập trung
bao cấp sang cơ chế thi trờng, các doanh nghiệp đợc đặt lên một sân chơi bình
đẳng, trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi nhà quản lí cũng nh các chủ thể
ra quyết định khác phải đợc cung cấp thông tin tin cậy phục vụ cho quá trình ra
quyết định. Để đáp ứng yêu cầu đó, Kiểm toán Nhà nớc và Kiểm toán độc lập ra
đời nhằm đảm bảo hợp lí rằng thông tin mà hệ thống kế toán cung cấp là trung
Phơng pháp nghiên cứu trình bày
Trong đề tài này, em đã dùng các phơng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
So sánh số liệu nghiên cứu của đề tài cả về mặt tuyệt đối lẫn tơng đối nhằm
đa ra các kết luận về sự tăng trởng và phát triển của Tổng công ty trong quá trình
hội nhập và đi lên của đất nớc. Đồng thời với việc so sánh em còn dùng các phơng
pháp phân tích đã học để phân tích kỹ hơn hiệu quả của các thủ tục kiểm soát đã đ-
ợc áp dụng trong, từ đó nhằm tìm tòi và phát hiện các u điểm và nhợc điểm của hệ
thống kiểm soát nội bộ của Tổng công ty.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Hệ thống kiểm soát nội bộ và
các thủ tục kiểm soát của nó trong Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam
PETROLIMEX.
3
Phần nội dung
Chơng I
Lí luận chung về hệ thống Kiểm soát nội bộ
1.1. lý luận chung về kiểm soát nội bộ
1.1.1. Kiểm tra, kiểm soát trong hệ thống quản lý
Kiểm tra là quá trình xem xét, đo lờng và chấn chỉnh việc thực hiện nhằm
đảm bảo cho các mục tiêu, kế hoạch đợc hoàn thành một cách có hiệu quả.Còn
kiểm soát là xem xét để nắm bắt hoạt động và phát hiện, ngăn chặn những gì trái
với qui định đặt trong phạm vi của mình.
a. Kiểm tra, kiểm soát gắn liền với hoạt động quản lí, là một chức năng
của quản lí
Quản lí là một quá trình định hớng và tổ chức thực hiện các hớng đã định
trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Kiểm tra không
phải là một giai đoạn hay một pha của quản lí mà nó đợc thực hiện ở tất cả các giai
đoạn của quá trình này.
b. Kiểm tra, kiểm soát đợc thực hiện khác nhau đối với các đơn vị và cá
nhân tuỳ thuộc vào nguồn ngân sách, vào quan hệ quản lí trong bộ máy nhà nớc,
a. Định nghĩa hệ thống KSNB
Nh trên đã biết, kiểm tra, kiểm soát là một chức năng của quản lí. Nhng
kiểm tra thờng mang tính thứ bậc hành chính (cấp trên với cấp dới) trong khi kiểm
soát có thể là của cấp trên với cấp dới, cũng có thể là kiểm soát trong nội bộ doanh
nghiệp và thờng đợc dùng với nghĩa KSNB nhiều hơn.
KSNB là việc tự bản thân doanh nghiệp thiết lập và tiến hành các thủ tục và
các bớc kiểm soát nhằm điều hành các hoạt động của mình. Hoạt động KSNB sẽ có
hiệu quả hơn nếu chúng hình thành hệ thống. Trong văn bản chỉ đạo về kiểm toán
quốc tế, hệ thống KSNB đợc định nghĩa là một hệ thống các chính sách, các biện
pháp kiểm soát và các thủ tục kiểm soát nhằm các mục đích sau:
1. Bảo vệ tài sản và sổ sách kế toán
2. Bảo đảm tính tin cậy của thông tin
3. Bảo đảm duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến
hoạt động của đơn vị.
4. Bảo đảm hiệu quả của các hoạt động và hiệu năng của quản lí
Các chính sách trong KSNB bao gồm tất cả các chính sách về quản lí nhân
sự, quản lí tiền lơng, vật t, tài sản, chính sách về tài chính, kế toán, các chính sách
về hoạt động của đơn vị ...
Các biện pháp kiểm soát là các biện pháp đợc tiến hành để xem xét và khẳng
định các biện pháp quản lí khác có đợc tiến hành hiệu quả và thích hợp hay không.
Các thủ tục kiểm soát: Đó là các nguyên tắc phân công, phân nhiệm, nguyên
tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn. Chính việc tuân thủ các
nguyên tắc này tự nó đã tạo nên sự hiệu quả của kiểm soát.
Về các mục đích của hệ thống KSNB:
6
Bảo vệ tài sản và sổ sách: Tài sản của các công ty bao gồm cả tài sản hữu
hình (nh tiền mặt, vật t, TSCĐ), và các tài sản vô hình nh các tài liệu quan trọng, uy
tín của doanh nghiệp... những tài sản này của công ty có thể bị trộm cắp, bị tham
ô... nếu không có những biện pháp kiểm soát thích hợp. Việc bảo vệ tài sản và sổ
sách trở nên ngày càng quan trọng từ khi hệ thống máy tính đợc sử dụng, một số l-
các nhân tố chủ yếu là:
o Quan điểm, phong cách điều hành và t cách của các nhà quản lý cao
cấp:
Các nhà quản lý cao cấp là ngời quyết định và điều hành mọi hoạt động của
đơn vị, vì thế quan điểm, đờng lối quản trị, cũng nh t cách của họ là vấn đề trung
tâm trong môi trờng kiểm soát.
Phong cách quản lý của các nhà quản lý có thể chia ra làm hai loại:
+ Nhà quản lí quá táo bạo và mạnh dạn, những ngời này có thể sẵn sàng
mạo hiểm để đổi lấy lợi nhuận cao. Đối với những doanh nghiệp này, khả năng gặp
rủi ro lớn, các chính sách thờng không ổn định dẫn đến hoạt động của doanh
nghiệp khó đi vào nề nếp.
8
+ Nhà quản lí quá rụt rè, họ giữ thái độ thận trọng khi đa ra bất cứ một quyết
định nào. Những doanh nghiệp này thờng bị bỏ lỡ thời cơ và do đó ảnh hởng đến
hiệu quả hoạt động của đơn vị.
Qui mô và mức độ hoạt động phân tán từ đó ảnh hởng đến cơ cấu quyền lực
trong đơn vị cũng là một vấn đề tiêu biểu của đặc thù quản lí ảnh hởng quan trọng
đến hệ thống KSNB.
o Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí là tổng hợp các bộ phận đợc chuyên môn hoá
với những trách nhiệm, quyền hạn nhất định có mối liên hệ mật thiết với nhau,
nhằm thực hiện các chức năng quản lí.
Cơ cấu tổ chức đóng vai trò quan trọng trong chỉ đạo và kiểm soát hoạt động
của đơn vị. Một cơ cấu tổ chức hợp lí sẽ đảm bảo sự thông suốt trong phân công,
phân nhiệm, trong uỷ quyền và phê chuẩn, ngăn ngừa sự vi phạm các chính sách,
thủ tục kiểm soát, loại bỏ đợc những hoạt động không phù hợp có thể dẫn đến sai
lầm và gian lận.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, trong điều kiện các yếu tố
khác của hệ thống KSNB cha hoàn thiện hoặc cha vững mạnh thì cơ cấu tổ chức
hợp lí là một bộ phận quan trọng hỗ trợ công tác KSNB
kiểm toán viên rất quan tâm, đặc biệt là trong áp dụng thủ tục phân tích.
o Uỷ ban kiểm toán.
Tại một số quốc gia lớn- chẳng hạn nh Mỹ- thì các công ty cổ phần có quy
mô lớn thờng thành lập một uỷ ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Uỷ ban
10
thờng có 3 đến 5 uỷ viên, không phải là nhân viên của Công ty có nhiệm vụ, quyền
hạn nh sau:
- Giám sát sự chấp hành luật pháp của Công ty.
- Xây dựng bộ máy kiểm toán nội bộ, kiểm tra, giám sát công việc của
kiểm toán viên nội bộ.
- Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính.
- Đại diện Công ty mời kiểm toán viên độc lập và xác lập mối quan hệ với
các chủ thể kiểm toán bên ngoài.
- Hoà giải những mâu thuẫn (nếu có) giữa kiểm toán viên độc lập và ban
giám đốc.
Do có những chức năng quan trọng nh trên nên sự độc lập và hữu hiệu trong
hoạt động của Uỷ ban kiểm toán là nhân tố quan trọng trong môi trờng kiểm soát.
Vì thế để tạo đIũu kiện thuận lợi cho công tác kiểm toán, kiểm toán viên độc lập
phảI phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban này.
o Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một loại hình kiểm soát có tổ chức mà chức năng là đo
lờng và đánh giá hiệu quả của việc kiểm soát khác và mang tính nội kiểm. Đây là
một nhân tố cơ bản của hệ thống KSNB.
Kiểm toán nội bộ bao trùm tất cả các hoạt động của đơn vị, nó cung cấp một
sự giám sát và đánh giá thờng xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị trong đó có
hệ thống KSNB và tham gia hoàn thiện chúng, từ đó đảm bảo sự vận hành tốt của
hệ thống KSNB.Tuy nhiên bộ phận kiểm toán nội bộ chỉ có thể phát huy tác dụng
nếu nó đợc xây dựng trên những nguyên tắc nhất định .
Ngoài những nhân tố bên trong đã nêu, thì hoạt động của đơn vị còn chịu
ảnh hởng bởi những yếu tố bên ngoài.Ví dụ nh luật pháp,sự kiểm soát của các cơ
thủ tục đợc Ban giam đốc công nhận để soạn thảovà trình bày các báo cáo tài chính
một cách trung thực về tình hình tài chính của đơn vị.
- Hình thức kế toán là phơng pháp tổ chức và phối hợp giữa các loại sổ sách
kế toán.
Sự nghiên cứu đó giúp cho kiểm toán viên tiếp cận hệ thống kế toán, để hiểu
về quá trình xử lý thông tin và đánh giá về quá trình kiểm soát nội bộ của đơn vị
qua các giai đoạn của một quá trình kế toán.
- Lập chứng từ :Đây là giai đầu tiên và rất quan trọng vì số liệu kế toán chỉ
chính xác khi việc lập chứng từ nghiêm túc,nghĩa là việc lập chứng từ đày đủ, hợp
lệ, hợp pháp và phản ánh trung thực mọi nghiệp vụ phát sinh.
- Sổ sách kế toán : Là giai đoạn chính trong quá trình xử lý số liệu kế toán,
bằng việc ghi chép, phân loại tính toán tổng hợp...để cung cấp những thông tin tổng
hợp trên báo cáo tài chính.Trong kiểm soát nội bộ, sổ sách kế toán đóng một vai trò
rất quan trọng ví dụ nh sổ chi tiết về vật t hàng hoá.
- Báo cáo tài chính: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình xử lý, nhằm tổng
hợp các số liệu trên sổ sách thành những chỉ tiêu báo cáo.
d. Các các thủ tục kiểm soát trong hệ thống kiểm soát nội bộ
Các biện pháp kiểm soát cũng là một bộ phận quan trọng của hệ thống
KSNB, có thể chia thành hai loại biện pháp kiểm soát: kiểm soát trực tiếp và kiểm
soát tổng quát.
13
Kiểm soát trực tiếp:
Kiểm soát trực tiếp là các biện pháp kiểm soát đợc xây dựng trên cơ sở đánh
giá các yếu tố dẫn liệu trong báo cáo tài chính. Kiểm soát trực tiếp bao gồm ba loại
hình cơ bản:
Kiểm soát quản lí: là việc kiểm soát các hoạt động đơn lẻ do những nhân
viên độc lập với ngời thực hiện hoạt động tiến hành. Kiểm soát quản lí là biện pháp
rất có hiệu lực để phát hiện, ngăn chặn các sai sót, gian lận.
Kiểm soát xử lí: là kiểm soát đợc đặt ra để kiểm tra việc xử lí các giao dịch,
tức là kiểm tra lại những công việc mà giao dịch đợc công nhận, cho phép, phân
đề phòng vật chất nh việc xây dựng các nhà kho, các két sắt chịu lửa, để bảo vệ tiền
tệ cũng nh chứng từ, sổ sách, trang bị hệ thống báo cháy, báo nổ, trang bị các máy
tính tiền, máy đếm tiền hay sử dụng một số loại
thiết bị xử lí dữ liệu tự động là những công cụ KSNB hữu ích đối với mục
đích bảo vệ tài sản, sổ sách.
Ngoài ra, việc hạn chế sự tiếp cận trực tiếp tài sản, sổ sách cũng là biện pháp
kiểm soát quan trọng: ban hành qui chế kiểm soát việc ra vào, qui chế tham khảo
các tài liệu kế toán, dữ liệu lu trữ trong máy điện toán...
- Kiểm soát độc lập việc thực hiện:
Là việc xem xét lại một cách cẩn thận và toàn diện các biện pháp, thủ tục
kiểm soát khác. Nhu cầu kiểm soát độc lập phát sinh do cơ cấu KSNB có khuynh h-
ớng thay đổi qua thời gian và do những hạn chế vốn có của thủ tục kiểm soát.Việc
15
thực thi các biện pháp kiểm soát độc lập để lại dấu vết trên sổ sách và đó là bằng
chứng quan trọng cho kiểm toán viên bên ngoài đánh giá hệ thống KSNB.
Kiểm soát tổng quát:
Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều
công việc khác nhau. Trong môi trờng máy tính hoá, kiểm soát tổng quát thuộc về
chức năng kiểm soát của phòng điện toán.
Các bớc kiểm soát và thủ tục kiểm soát có thể không giống nhau thậm chí rất
khác nhau giữa các đơn vị và các loại nghiệp vụ. tuy nhiên, các loại kiểm soát nói
trên đều đợc xây dựng theo nguyên tắc cơ bản sau:
+ Nguyên tắc phân công, phân nhiệm
Theo nguyên tắc này, công việc và trách nhiệm cần đợc phân chia cho nhiều
ngời trong một bộ phận hay cho nhiều bộ phận trong một tổ chức, mục đích là để
không một cá nhân hay một bộ phận nào đợc thực hiện từ khâu đầu đến khâu cuối,
từ đó mà tránh đợc gian lận, sai sót.
Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng còn có sự tác chuyên môn hoá và giúp
cho việc kiểm tra, thúc đẩy lẫn nhau trong công việc
Trong phân công, phân nhiệm cần tránh cả hai xu hớng quá tập trung hoặc
đắn bởi nhà quản lí hoặc ngời đợc uỷ quyền. Bởi nếu bất cứ ai trong tổ chức đều có
thể mua bán tài sản tuỳ tiện thì sự hỗn độn và phức tạp sẽ xảy ra dẫn đến lãng phí
hoặc mất mát nguồn lực.Tuỳ theo cách điều hành của các nhà quản lý, mà họ có thể
quyết định thẩm quyền hay thủ tục phê chuẩn khác nhau.
17
Ngoài cách phân chia các yếu tố của KSNB nh trên còn có cách phân chia
khác, theo cách này, hệ thống KSNB đợc chia thành KSNB về kế toán và KSNB về
hành chính:
+ KSNB về kế toán: rà soát, đối chiếu công tác kế toán đảm bảo ghi chép kế
toán đầy đủ, chính xác, đúng thể thức về các nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh,
lập báo cáo tài chính đúng hạn, tuân theo các yêu cầu pháp định có liên quan, bảo
vệ tài sản và thông tin không bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích, thờng do một bộ
phận độc lập thực hiện.
+ KSNB về quản lí hay hành chính: rà soát và đối chiếu những hoạt động về
tài chính và quản lí ở trong đơn vị.
Tóm lại, hệ thống KSNB là một tập hợp các yếu tố có liên quan chặt chẽ với
nhau. Sự vận hành của những yếu tố này trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau, hỗ
trợ nhau sẽ tạo ra một hệ thống kiểm soát hiệu quả.Hệ thống KSNB đợc thiết kế để
điều hành mọi hoạt động, nó là một hệ thống nhằm huy động mọi thành viên trong
đơn vị cùng tham gia kiểm soát các hoạt động.
1.2. Đặc điểm của lý luận về kiểm soát nội bộ trong
loại hình Tổng công ty
1.2.1 Những hạn chế vốn có của kiểm soát nội bộ
Trong thực tế không có một hệ thống kiểm soát nội bộ hoàn hảo, nghĩa là
một hệ thống kiểm soát nội bộ không thể ngăn ngừa đợc tất cả những hậu quả xấu
có thể xảy ra. Những hạn chế đó xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Yêu cầu của những nhà quản lý là những chi phí cho kiểm tra phải hiệu
quả.
- Hầu hết các biện pháp kiểm tra đều tập trung vào các sai phạm dự kiến, vì
thế khó có thể phát hiện đợc những sai phạm đột xuất hay bất thờng.
Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
- Tiền mặt bao gồm các khoản tiền Việt Nam (kể cả ngân phiếu), ngoại tệ,
vàng bạc, kim khí quí, đá quí của doanh nghiệp tại quĩ.
- Tiền gửi ngân hàng bao gồm các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc,
kim khí quí, đá quí của doanh nghiệp gửi tại ngân hàng.
- Tiền đang chuyển là các khoản tiền Việt Nam, ngoại tệ của doanh nghiệp
đã nộp vào ngân hàng, kho bạc nhà nớc hoặc đã gửi vào bu điện để chuyển cho
ngân hàng hay đã làm thủ tục chuyền tiền từ tài khoản tại ngân hàng để trả cho đơn
vị khác nhng cha nhận đợc giấy báo của ngân hàng.
Vốn bằng tiền là khoản mục đợc trình bày trớc tiên trên bảng cân đối kế
toánvà là một khoản mục trọng yếu trong tài sản lu động.Vốn bằng tiền còn là một
khoản mục bị ảnh hởng và có ảnh hởng đến nhiều khoản mục quan trọng khác nh
doanh thu, chi phí, công nợ và hầu hết các tài sản khác của đơn vị.Tiền là tài sản đ-
ợc a chuộng nhất nên xác suất gian lận, biển thủ cao nhất và rủi ro tiềm tàng cao
nhất. Do đó, các biện pháp, thủ tục kiểm soát thích đáng là vô cùng quan trọng để
bảo vệ tài sản, nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn.
Một số chính sách, biện pháp, thủ tục cơ bản sau đợc áp dụng trong kiểm
soát vốn bằng tiền:
Một là: Xây dựng qui chế quản lí tiền mặt trong đó qui định rõ trách nhiệm
của từng ngời, từng bộ phận với việc quản lí vốn bằng tiền cũng nh đa ra các qui
định bảo vệ vốn bằng tiền.
Hai là : Thực thi các nguyên tắc quản lí:
20
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: ai phụ trách tiền mặt, ai phụ trách tiền
gửi ngân hàng, ai phụ trách tiền đang chuyển, ai phụ trách thanh toán với bên
ngoài, ai phụ trách thanh toán các khoản tiền lặt vặt, kí phát hành séc... phải dợc
qui định rõ ràng, cụ thể trong qui chế quản lí vốn bằng tiền.
Nguyên tắc uỷ quyền, phê chuẩn: Mọi khoản chi phải đợc xét duyệt và chỉ
đợc kí khi có đủ chứng từ có liên quan minh chứng cho khoản chi là thực sự có nhu
cầu chi.
sách, tìm các nguyên nhân chênh lệch để có biện pháp xử lí kịp thời.
Bảy là: Đối với tiền đang chuyển phải có một ngời chuyên theo dõi về thời
điểm chuyển và thời điểm nhận đợc giấy báo để ghi sổ kịp thời. Phải có sổ chi tiết
theo dõi riêng từng loại tiền đang chuyển, thời gian chuyển và thời gian nhận đợc
giấy báo, cuối kì khoá sổ chính xác.
Tám là: Định kì thực hiện kiểm toán nội bộ đối với vốn bằng tiền.
Ngoài những biện pháp trên thì tính liêm chính của nhân viên cũng cần bàn
đến. Nhà quản lí phải thờng xuyên theo dõi tính liêm chính của nhân viên. Đây là
yếu tố quan trọng ảnh hởng đến hiệu lực của các biện pháp, chính sách kiểm soát.
Ngoài ra khi thu, chi cần chú ý viết biên lai cho ngời nộp tiền hay yêu cầu
ngời nhận tiền phải xuất trình chứng minh th và giấy uỷ quyền nhận tiền nếu đợc
uỷ quyền.
22
Các quá trình kiểm soát nhằm vào môt số mục tiêu kiểm soát chủ yếu đợc
thể hiện qua các bảng sau:
Biểu 1 : Mục tiêu và các quá trình KSNB chủ yếu với nghiệp vụ thu tiền
Mục tiêu KSNB Quá trình KSNB chủ yếu
Các khoản thu tiền mặt
đợc ghi sổ là số tiền đơn vị
thực tế nhận đợc
Tính có thực
- Cách li trách nhiệm giữa quản lí tiền mặt với ghi sổ.
- Kiểm soát độc lập các nghiệp vụ thu
Các khoản chiết khấu
tiền mặt đã đợc phê chuẩn
Phê chuẩn
-Một chính sách chiết khấu tiền mặt phải đợc tồn tại.
- Sự phê chuẩn các khoản chiết khấu tiền mặt.
Tất cả các nghiệp vụ
liên quanđến tiền mặt nhận đ-
-Kiểm tra nội bộ
23
Biểu 2: Mục tiêu và các quá trình KSNB chủ yếu với nghiệp vụ chi tiền
Mục tiêu
KSNB
Quá trình KSNB chủ yếu
Các khoản chi tiền mặt ghi
sổ là số tiền thực tế chi ra
Tính có thực
-Cách li trách nhiệm giữa quản lí tiền mặt với ghi sổ tiền
mặt.
-Cách li trách nhiệm giữa ngời duyệt chi và ngời thực hiện
chi.
-Kiểm soát độc lập nghiệp vụ chi.
Các khoản chi tiền mặt đã
đợc phê chuẩn
Sự phê chuẩn
-Một chính sách qui định cấp phê chuẩn.
-Sự phê chuẩn các khoản theo qui định.
Các khoản chi tiền mặt đợc
ghi sổ đầy đủ.
Tính đầy đủ
-Cách li trách nhiệm ghi sổ và quản lí tiền.
-Kiểm tra nội bộ việc ghi sổ.
Các khoản chi tiền mặt đợc
ghi sổ theo đúng số tiền thực tế
chi ra trong các nghiệp vụ
Sự đánh giá
-Cách li trách nhiệm ghi sổ và quản lí tiền.
-Cách li giữa ngời duyệt chi và ngời thực hiện chi.
mại và TSCĐ vô hình khác.
Giá trị TSCĐ thờng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Tuy nhiên do số lợng TSCĐ không nhiều, các nghiệp vụ tăng giảm phát sinh ít
trong 1 năm nên việc KSNB chủ yếu nhằm vào mục đích nâng cao hiệu quả sử
dụng và đầu t TSCĐ.
Ngoài ra, KSNB phải giúp xác định chính xác các chi phí cấu thành nguyên
giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, chi phí khấu hao tài sản do sai sót trong việc xác định
các chi phí này có thể dẫn đến sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính. Chẳng hạn
nếu không phân biệt những chi phí nào sẽ làm tăng nguyên giá TSCĐ hay đa vào
chi phí niên độ sẽ làm cho khoản mục TSCĐ và chi phí niên độ bị sai lệch. Hoặc
nếu không có qui định chặt chẽ liên quan đến việc mua sắm, bảo dỡng, thanh lí tài
sản thì chi phí phát sinh có thể sẽ lớn hơn nhiều so với thực tế.
Các công cụ kiểm soát TSCĐ bao gồm:
Một là: Kế hoạch và dự toán TSCĐ: Các Công ty hàng năm phải lập kế
hoạch và dự toán ngân sách cho TSCĐ. Trong kế hoạch này, ngời ta vạch ra những
vấn đề có liên quan đến việc đầu t, mua sắm, thanh lí, nhợng bán TSCĐ và các
nguồn vốn tài trợ cho việc đầu t, mua sắm đó.
25