MỤC LỤC
HỌC PHẦN 1 1
NHÓM TƯỢNG XƯƠNG SỌ, TƯỢNG PHÁC MẢNG, TƯỢNG LỘT DA
VÀ TƯỢNG CHÂN DUNG 1
MỞ ĐẦU 1
MỤC TIÊU 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ ĐIỀU KIỆN HỖ TRỢ 1
NỘI DUNG BÀI HỌC 1
1. Những kiến thức chung về Hình hoạ 1
1.1. Khái niệm 1
1.2. Nguồn gốc hình hoạ 3
1.3. Vai trò của hình họa với học tập và sáng tác mỹ thuật 11
2. Đặc tính của chất liệu vẽ chì đen trắng với các bài vẽ khối cơ bản 24
2.1. Các yếu tố biểu đạt 24
2.2. Khả năng biểu đạt của chất liệu chì đen 24
2.3. Đặc điểm tâm lý thị giác trong bài vẽ hình hoạ đen trắng 25
3. Hướng dẫn tự học 26
3.1. Tìm hiểu thêm để củng cố kiến thức chung 26
3.2. Phân tích khả năng biểu đạt của chất liệu chì trong các bài hình hoạ và
tranh vẽ đen trắng 27
4. Yêu cầu cần đạt 28
5. Câu hỏi ôn tập 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
HỌC PHẦN 1
NHÓM TƯỢNG XƯƠNG SỌ, TƯỢNG PHÁC MẢNG, TƯỢNG LỘT DA
VÀ TƯỢNG CHÂN DUNG
(2 tiết lý thuyết)
MỞ ĐẦU
Tái tạo không gian ba chiều trên mặt phẳng hai chiều là công việc của người
học và sáng tạo nghệ thuật hội hoạ (trong đó có hình hoạ). Sử dụng các thủ pháp diễn
tả thông qua đường nét, hình mảng, đậm nhạt, màu sắc để tạo không gian cho bài vẽ
Hiện thực của tự nhiên và xã hội luôn là đối tượng trung thành cho con người đi
tìm cái đẹp. Sự tìm tòi và khám phá vốn là thuộc tính của nghệ sỹ. Vì vậy, nghiên cứu
thực tế, vẽ lại thiên nhiên một cách trung thực là yêu cầu rất cần thiết đối với người
mới học mỹ thuật.
Theo “Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông”, hình hoạ là môn vẽ người hoặc
vật (mẫu) tương đối kỹ và chính xác, được thể hiện bằng nhiều kỹ thuật và chất liệu
khác nhau như chì đen, than, bột màu, sơn dầu. Từ trước tới nay, nghiên cứu và thể
hiện vẻ đẹp của con người luôn được đề cao, là đối tượng để hoạ sỹ khám phá, sáng
tạo. Con người là sản phẩm cao quý nhất, đẹp nhất của tự nhiên. Việc nghiên cứu ng-
ười mẫu (nhất là người mẫu khoả thân) luôn là mục tiêu của người học và sáng tác mỹ
thuật. Bởi con người là một hình mẫu đẹp nhất về cấu trúc, tỷ lệ. Những hình tượng
nghệ thuật thể hiện trên người khoả thân khác hẳn về chất, nội dung và hình thức nghệ
thuật với những loại tranh ảnh thiếu lành mạnh. Tuy nhiên, để vẽ được người mẫu, cần
có những luyện tập từ thấp tới cao, từng bước một với những kiến thức và kỹ năng cơ
bản của vẽ hình hoạ.
Những pho tượng lý tưởng về tỷ lệ, cấu trúc và vẻ đẹp của cơ thể con người đã
được các nhà điêu khắc cổ đại Hy Lạp như Pô-li-clét, Mi-rông, Phi-đi-át thể hiện mãi
mãi là những chuẩn mực tuyệt tác của nhân loại. Vì thế người ta đã mệnh danh cho đất
nước Hy lạp là “Vương quốc của cái đẹp”. Không thoả mãn với những gì đã có, các
hoạ sĩ thời Phục Hưng Ý, mà tiêu biểu là Lê-ô-na đờ Vanh-xi, Mi-ken-lăng-giơ, Ra-
pha-en đã vẽ nên những bức hình hoạ tuyệt đẹp về vẻ đẹp con người. Lịch sử mỹ
thuật đã cho thấy, hầu hết các hoạ sỹ nổi tiếng đều có trình độ rất cao về hình họa. Đó
chính là cái gốc giúp họa sĩ thành công trong xây dựng tác phẩm.
Hình hoạ có vai trò rất lớn trong học tập và sáng tác mỹ thuật. Hoạ sỹ người
Pháp Anh-gơ-rơ cho rằng: “đường nét là hình hoạ hay đúng ra nó là tất cả ”. Trong
thiên nhiên, mọi vật đều tồn tại có dạng hình thể, vẽ trước hết là ghi lại các hình thể đó
trên mặt phẳng của không gian 2 chiều.
Vậy hình hoạ là gì?
“Hình hoạ là phương pháp xây dựng hình thể để mô tả đối tượng khách
quan có thực mà mắt ta quan sát được bằng đường nét, mảng, hình khối, sáng tối
một trong số những bức họa trên vách đá quý giá nhất trên thế giới. Những kiệt tác
nghệ thuật trên các vách đá trong hang động này có tuổi thọ ít nhất là 15.000 năm.
Hang động này được phát hiện vào ngày 12/9/1940 bởi 4 thanh niên có tên
Marcel Ravidat, Jacques Marsal, Georges Agnel, Simon Coencas, và chú chó Robot
của Ravidat. Sau Thế chiến thứ 2, công chúng mới có cơ hội dễ dàng tham quan khu
hang động này.
3
Hình 1- Đàn bò - nghệ thuật tiền sử
Hình 2 - Đàn ngựa trên vách động Lascaux
4
Hình 3- Bò rừng trên vách động Lascaux
Đến năm 1955, Lascaux thu hút trung bình 1.200 du khách đến tham quan mỗi
ngày khiến cho các tác phẩm hội họa bị hủy hoại khá nhiều bởi khí hecarbon dioxide.
Cuối cùng, vào năm 1963, người ta quyết định đóng cửa hang động, không cho phép
khách du lịch vào thưởng lãm nhằm bảo tồn các bức họa này.
Động Altamira độc đáo nhờ những bức họa trên vách đá. Altamira tọa lạc gần
Santilliana del Mar ở Cantabria, phía Bắc Tây Ban Nha, cách Santander 30 km về phía
Tây. Cũng giống như những hang động khác, Altamira cũng tình cờ được phát hiện ra.
Vào năm 1868, một thợ săn có tên Modesto Cubillas bị trượt ngã khi đi ngang
qua khu hang động này nhưng mãi 7 năm sau, một nhà quý tộc từ Santander có tên
Marcellino Sanz de Santuola mới chính thức khám phá ra Altamira.
5
Hình 4- Bò rừng trên vách động Altamira
Vào khoảng năm 1879, người phát hiện ra những bức họa trên vách đá trong
hang động này lại là cô con gái của nhà quý tộc tên Maria de Santuola. Hai cha con họ
quyết định giữ bí mật nhằm bảo tồn và gìn giữ những bức tranh đá đẹp tuyệt vời, mãi
cho đến khi họ qua đời, các chuyên gia vẫn còn nghi ngờ về tính xác thực của khu
động này.
Đến đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học và các chuyên gia khảo cổ học mới phát
hiện ra khu hang động nhờ vào những vết tích từ thời kỳ đồ đá còn sót lại xung quanh
bằng những biểu tượng, những nhân vật quan trọng trên nền vách đá. Một số hình ảnh
miêu tả rõ nét và phong phú các mặt đời sống tinh thần, vật chất của con người thời kỳ
tiền sử. Độc đáo nhất trong số tất cả các hang động được nhắc đến có lẽ là động
Cosquer bởi đây là một hang động dưới nước, cách đây 27.000 năm. Cosquer thuộc
vùng Calanque de Morgiou gần Marseille, Pháp, cách Cap Morgiou không quá xa.
Cửa vào hang động này đến nay vẫn ngập trong nước, dưới mực nước biển 37m. Năm
1991, Henri Cosquer đã khám phá ra chiếc hang đặc biệt này và vì vậy mà tên của ông
được đặt cho địa danh này.
7
Hình 8- Các hình vẽ trên vách động Magura
Hình 9 - Hình vẽ trên vách động Cosquer
Du khách có thể vào tham quan khu hang động thông qua một đường ống dài
175m nối thẳng vào cửa hang. Động có rất nhiều tác phẩm hội họa và điêu khắc có từ
thời kỳ tiền Paleolithic: những khuôn vẽ có cách đây 27.000 năm; những dấu vết của
động vật và con người cách đây 19.000 năm (thời kỳ Solutrean); những bức vẽ các loài
động vật từ bò rừng Bizon, dê rừng núi An-pơ, ngựa đến những sinh vật biển như Hải
cẩu, chim Anca và Sứa.
Động Font de Gaume là nơi cư ngụ của con người sinh sống quanh khu vực
thung lũng Dordogne cách nay khoảng 25.000 năm trước Công nguyên. Miệng hang là
nơi định cư của con người trong khoảng vài nghìn năm sau đó. Tuy nhiên, sau đó thì
hang động này bị lãng quên mãi cho đến thế kỷ thứ XIX, người dân địa phương mới
bắt đầu phát hiện ra Font de Gaume. Năm 1901, Denis Peyrony, một giáo viên đến từ
Les Eyzies, khám phá ra những bức họa bên trong Font de Gaume, có niên đại khoảng
17.000 năm, thuộc thời kỳ Magdaléni. Font de Gaume gìn giữ hơn 200 bức họa đa sắc
miêu tả rất nhiều
Hình 10 - Một bức họa trong động Font de Gaume
loài động vật như bò rừng Bizon, Ngựa và Voi Ma-mút.
8
Ngành khảo cổ học nước ta cũng đã tìm thấy những hình vẽ được khắc trên
vách đá ở động người xưa (Hoà Bình). Đó là những hình mặt người và thú được khắc
những con thú cần săn bắt. Qua những bức tranh ở Sa-ha-ra (châu Phi) có thể nhận biết
hai giống bò thông qua cấu tạo của sừng người Et-ki-mô có những ký hiệu bằng
hình vẽ rất cô đọng để chuyển tải thông tin cho nhau một cách nhanh chóng nhất.
Chữ tượng hình của người Ai cập, Trung quốc là loại chữ được biểu hiện trên
cơ sở hình tượng sự vật. Mặc dầu đã được đổi thay theo tiến trình tiến hoá lịch sử song
nhiều chữ vẫn còn mang nặng dấu ấn đó cho đến ngày nay; minh chứng khả năng hình
vẽ làm biểu tượng và là phương tiện truyền tải thông tin nhanh nhất, đơn giản nhất.
Lịch sử Trung quốc ghi nhận, có chữ ban đầu dựa vào một nguyên mẫu cụ thể,
thông qua hình vẽ làm biểu tượng cho ngôn ngữ. Qua quá trình vận động, ký hiệu đó
dần được chuyển hoá, đôi khi không còn hình dáng nguyên mẫu của ban đầu. Chữ
quân trong tiếng Hán cổ là một ví dụ. Khởi đầu là một bức chân dung vẽ người cầm
đầu bộ lạc với mặt, mồm và hai tay. Song từng bước, thời gian đã làm cho thay đổi, đi
dần đến đơn giản và thuận tiện hơn.
Tuy không hoàn toàn là chữ tượng hình, nhưng ở tấm đá của Pha-ra-ông- nac-
me-rơ (Ai cập cổ đại) với những hình khắc nổi và những dòng chữ ngắn đã kể lại một
cách đầy đủ, trọn vẹn chiến thắng của Nác-me-rơ của Vua Ai cập và đã thống nhất
đồng bằng sông Nin thành một quốc gia hùng mạnh. Tấm đá này giúp cho các nhà sử
học, ngôn ngữ học ngày nay có thể đọc và nghiên cứu khá chính xác lịch sử thời kỳ đó
thông qua các hình vẽ, hình tượng mà người Ai cập cổ đã ghi lại.
10
Hình 15 - Chữ tượng hình Ai cập cổ đại
Hình 16 - Chữ tượng hình Rongorongo
Hình 17 - Chữ tượng hình Rongorongo
Như vậy, trước khi có chữ viết, trong quá trình lao động, đấu tranh để tồn tại,
phát triển và tự hoàn thiện mình con người đã sáng tạo ra các ký hiệu bằng hình vẽ. Đó
là những bảng mẫu chữ viết nguyên sơ đầu tiên. Cùng với tiến trình văn minh nhân
loại, chữ viết đã không ngừng được hoàn thiện và đóng vai trò quan trọng trong đời
sống con người.
1.3. Vai trò của hình họa với học tập và sáng tác mỹ thuật
1.3.1. Hình hoạ là môn học cơ bản
đẹp của các mẫu người khoả thân.
Hình 18 - Vẽ nghiên cứu hình họa của Lê-ô-na-đờ Vanh-xi
Để xây dựng tác phẩm diễn tả cái chết của Ma-ra, một trong những lãnh tụ của
cách mạng Pháp, hoạ sỹ Đa-vít đã học được cách tạo hình bắp thịt và cơ gân của thân
thể, đồng thời tạo cho nó vẻ đẹp quí phái để đặc tả Ma-ra, người đã tự nhận sẽ mang
lấy định mệnh tuần giáo khi đang làm việc cho hạnh phúc của cộng đồng bị kẻ thù sát
hại ngay trong bồn tắm. Còn hoạ sỹ Anh-gơ-rơ thường nhấn mạnh vào qui luật về độ
chính xác tuyệt đối trong giờ vẽ hình hoạ khi dạy học. Anh-gơ-rơ có kỹ thuật diễn tả
12
hình thể con người một cách vững chãi, cặn kẽ với vẻ trong sáng đến lạnh lùng của cái
đẹp.
Hình 19 – Picasso - Những cô nàng ở Avignon
Các họa sỹ nổi tiếng cận hiện đại sau này trước khi trở thành danh hoạ với các
trào lưu nghệ thuật hiện đại nổi tiếng, họ đều là những người vẽ nghiên cứu hiện thực,
nghiên cứu mẫu người rất nghiêm túc và cơ bản. Hoạ sỹ vĩ đại bậc nhất của thế kỷ 20
Pi-cát-xô đã từng nói đại ý rằng: năm mười ba tuổi tôi vẽ được như Mi-ken-lăng-giơ
nhưng đến năm 30 tuổi tôi vẽ được như trẻ con. Điều ấy nói lên rằng trước khi sáng
tạo ra những trường phái tân kỳ cho hội hoạ thế kỷ XX, Pi-cát-xô đã từng nghiên
cứu hội hoạ rất kinh điển, bài bản và có kết quả cao. Chính sự vững vàng về nghiên
cứu hình hoạ đã giúp ông đi sâu vào tìm tòi, khám phá, tạo nên những khuynh hướng
hội hoạ mới. Đây cũng là điểm chung của các hoạ sỹ hiện đại thời trẻ. Khi còn học vẽ
tại Ma-đơ-rít, hoạ sỹ nổi tiếng Đa-li đã nắm rất vững hình hoạ kinh viện để sau này khi
tham gia phong trào Siêu thực (từ năm 1928) ông đã có thể thể hiện trên tranh những
tương phản thực và ảo cùng với những ác mộng căng thẳng về các mâu thuẫn xã hội,
các nghịch lý trong cuộc sống.
Hình 20 - Đôi giày - tranh của Van Gốc
Hình 21 - “Người đàn bà tắm” của Anh-gơ-giơ
Năm 1925 trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập. Cùng với
các môn học tạo hình khác, Hình họa được đề cao với quỹ thời gian được đào tạo
14
Hình 24 - Nét vẽ của họa sỹ Leonardo da Vinci
+ Mảng:
15
Một mặt phẳng có chu vi nhất định gọi là mảng. Vẽ là nghệ thuật diễn tả trên
mặt phẳng nhưng sử dụng các phương pháp khoa học về phép đo tỷ lệ, xa gần, tác
động của sáng tối trong không gian theo qui luật của mắt nhìn, có nghĩa là tạo được
không gian ba chiều trên mặt phẳng hai chiều.
Trong mỹ thuật, nhất là đối với bố cục tranh còn có mảng chính, mảng phụ,
mảng nổi, mảng chìm, mảng đậm, mảng nhạt đó là cách gọi một lượng đậm nhạt
màu nào đó chiếm diện tích nhất định trên mặt tranh, tạo thành một mảng riêng, khác
biệt rõ ràng với các mảng xung quanh. Một bức tranh đẹp thường được nói đến bởi sự
hài hoà chung của các hình mảng trong bố cục.
Hình 25- Thiếu nữ bên hoa huệ - Tô Ngọc Vân
Đối với người mới học vẽ bao giờ giáo viên cũng yêu cầu phải quy các vật thể
của tự nhiên định vẽ thành các mảng cụ thể để dễ nhận xét, phân tích và đẩy sâu bài
học.
+ Hình:
16
Mảng tạo nên hình nhất định, những hình khác nhau được sắp xếp tạo nên sự
cân đối hay thăng bằng trong bố cục, hình vẽ. Trong tâm lý học thị giác, hình gây ấn t-
ượng mạnh vì có tính ngưng tụ, Hình luôn tồn tại ở hai dạng: cụ thể và trừu tượng, nó
bao hàm nhiều khía cạnh, nhiều ý nghĩa, biểu hiện tính đa dạng của ngôn ngữ hội hoạ.
Trong hội hoạ khái niệm hình mảng thường không tách rời nhau. Mảng khái quát còn
hình cụ thể hơn. Hiểu được mối quan hệ của hình và mảng để sắp đặt trong một bố
cục cụ thể là việc tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo của người học mỹ thuật. Mỗi giai
đoạn, mỗi dân tộc, thậm chí mỗi cá nhân có cách xử lý hình mảng khác nhau như ng
đều đưa tới thành công và tạo nên bản sắc riêng.
Khi dạy các bài vẽ theo mẫu, cái mà sinh viên nhận biết trước tiên chính là hình
dáng bên ngoài của vật đó nhờ khối, màu và nét. Ví dụ, khi nhìn cái phích nước, cái
Nếu chú ý quan sát sẽ thấy: ngôi nhà ngói mái có khối hình chóp, khung nhà là khối
hộp, thân, cành cây là khối trụ, vòm lá là dạng khối hình quả trứng hoặc khối cầu. Cơ
thể con người là sự tổng hoà đến tuyệt vời các hình khối. Đầu người là khối hình cầu,
cổ và chân tay có dạng khối hình trụ, thân là dạng khối hộp Nếu chi tiết thêm sẽ lại
thấy từng bộ phận của cơ thể con người cũng có cấu trúc từ các khối cơ bản hoặc khối
biến dạng. Nhiều hoạ sỹ đã khai thác và sử dụng cách khái quát các hình khối vào xây
dựng nhân vật, hình tượng để sáng tác và tạo nên cách nhìn riêng, độc đáo cho mình.
Hình 28 - Bài vẽ tĩnh vật của sinh viên Sư phạm mỹ thuật
- Sáng tối và đậm nhạt:
Con người nhận biết thế giới khách quan thông qua con mắt và ánh sáng. Ánh
sáng chiếu rọi vào vật thể làm nổi hình khối, làm cho vật có màu sắc và đem lại ý
nghĩa cho việc ghi lại hình bóng của vật thể đó. Ánh sáng chiếu vào một hay hai chiều
nào đó của vật thể làm cho vật thể đó nổi hình và khối lên, các chiều khác không nhận
được ánh sáng sẽ chìm trong mảng tối. Tuỳ thuộc vào cấu tạo hình khối; màu sắc và
chất của vật mẫu; tuỳ thuộc vào nguồn sáng mạnh hay yếu mà tương quan của vật mẫu
thay đổi khác nhau. Tuân thủ đúng qui luật tạo hình và làm cho vật nổi lên trên mặt
phẳng hai chiều của tờ giấy hoặc vải vẽ là công việc của bài nghiên cứu hình hoạ. Tả
được không gian thật của mẫu ngoài tác dụng làm nổi hình khối, tạo chiều sâu của vật
thể còn có ý nghĩa miêu tả chất, màu sắc và cảm giác về chất, mùi vị của vật mẫu.
19
Người họa sỹ giỏi sẽ sử dụng đậm nhạt với nhiều cung độ khác nhau để gợi tả,
tạo nên sự cuốn hút của tác phẩm nghệ thuật. Lịch sử mỹ thuật đã minh chứng, càng
về sau vai trò của sáng tối, đậm nhạt theo tự nhiên được các hoạ sĩ quan tâm đặc biệt.
Thời kỳ Phục Hưng đã khám phá ra qui luật của phối cảnh đường nét để tạo ra chiều
thứ ba, mở ra khả năng diễn tả chiều sâu và không gian của bức vẽ. Tác phẩm chân
dung nàng Mô-na-li-za (hay La Giô- công- đơ) của hoạ sỹ Lê-ô-na đờ Vanh -xi vẽ
năm 1503, nụ cười bí ẩn của người thiếu phụ càng được mê hoặc thêm bởi thiên nhiên
hùng vĩ phía sau với làn sương mờ ẩm ướt, con đường nhỏ len lỏi với những lùm
cây như ẩn, như hiện trong không gian tĩnh lặng. Không gian trong tranh với độ
chuyển đậm nhạt tinh tế, tài hoa của họa sỹ làm cho tác phẩm trở nên sống động.
thân thể con người theo qui tắc vuông. Theo ông, con người có hình dáng đẹp là người
có chiều cao đúng bằng chiều dài của sải tay mình; vòng ngực trung bình phải lớn hơn
vòng eo từ 10-15cm, chiều dài của vai phải lớn hơn hông Hoạ sỹ Lê-ô-na tán thành
quan điểm trên nhưng ông cho rằng thân hình đẹp lý tưởng phải có chiều cao tương
đối lớn vì thế ông đưa ra qui tắc tròn thay cho qui tắc vuông. Do đặc điểm cấu tạo của
người Việt Nam tỷ lệ trung bình từ 6,5 đến 7 đầu theo cách tính của Pô-ly-clê-tơ. Các
môn học giải phẫu tạo hình, luật xa gần hỗ trợ tích cực cho người học vẽ và các hoạ sỹ
trong học tập, nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật.
Hình 29 - Qui tắc vuông và tròn về cơ thể con người
1.3.3. Hình họa với sáng tác tranh
Bố cục tranh là cách sắp xếp các yếu tố tạo hình như hình, mảng, đường nét,
màu sắc, đậm nhạt sao cho hợp lý, lôgic để xây dựng nên một tác phẩm nghệ thuật làm
nổi rõ ý đồ sáng tác của hoạ sỹ. Hay nói cách khác bố cục tranh là sự tổng hoà các yếu
tố tạo hình trên mặt phẳng thông qua sự diễn tả và cách nhìn riêng của người vẽ. Trong
đó con người và cảnh vật là những đối tượng không thể thiếu trong các tác phẩm, nhất
là những bức vẽ hữu hình và có chủ đề xã hội.
Nghiên cứu kỹ cấu trúc cơ thể con người và cảnh vật, tương quan tỷ lệ giữa
chúng với nhau qua tác động của qui luật thị giác trong không gian là nhiệm vụ của
hình hoạ. Vẽ nghiên cứu hình hoạ tốt (nhất là vẽ mẫu người) luôn được các hoạ sỹ
quan tâm. Các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng từ xa tới nay trên thế giới cũng như ở
Việt Nam đều lấy hình hoạ để phác thảo và xây dựng tác phẩm, dù đó là những bức
tĩnh vật như một đôi giầy cũ, một cái ghế của Van-gốc, hay những bức tranh tuyệt mỹ
của các hoạ sỹ thời Phục Hưng như Lê-ô-na đờ Vanh-xi, Mi-ken-lăng-giơ, Ra-pha-en ,
Gióc-Giôn, Ti-Xiêng
Hình minh hoạ dưới đây cho thấy, để xây dựng tác phẩm “Buổi họp mặt kín”,
ngoài sự kết hợp hài hoà, hợp lý trong sắp xếp các nhân vật kết hợp với không gian
kiến trúc. Hoạ sỹ Lê-ô-na đờ Vanh-xi đã rất chú tâm đến nghiên cứu hình dáng, động
tác và tình cảm nhân vật với những động thái khác nhau. Sự tinh tế trong thể hiện tâm
trạng, thái độ của từng người trong mười hai vị thánh tông đồ khi nghe Chúa Giê -su
Cổ Tấn Long Châu đã chứng tỏ khả năng vẽ hình hoạ cơ bản và tác động của hình
hoạ trong quá trình thâm nhập thực tế của họ và đó cũng là tiền đề cho các tác phẩm
sau này.
Ký hoạ là môn học rất gần gũi với hình hoạ, việc nắm vững cấu trúc hình thể
đậm nhạt trong nghiên cứu hình hoạ sẽ giúp ích cho ký hoạ rất nhiều, bởi ở thực tế
mọi cảnh vật, con người đều chuyên động và người học phải ghi chép ngay được.
Nghiên cứu hình hoạ tốt mới có thể chủ động khi ghi chép, lấy tài liệu tại thực tế để
tạo nên những bức tranh phản ánh đề tài muôn màu sắc của xã hội.
22
- Với điêu khắc:
Vẽ nghiên cứu người và vật trong giới tự nhiên của hình hoạ giúp cho điêu khắc
có cách nhìn về hình, khối và tỷ lệ tốt hơn. Hình hoạ nghiên cứu đối tượng trong
không gian ba chiều trên mặt phẳng hai chiều, còn chính điêu khắc mới nghiên cứu
đối tượng thực tế của không gian ba chiều. Vẽ hình hoạ tốt giúp người học, sáng tạo
điêu khắc chủ động, tinh tế hơn trong cách nhìn, cách thể hiện; vững chắc hơn trong
nghiên cứu và phân tích. Ngoài ra, khi xây dựng nhân vật, nhà điêu khắc có cơ sở để
thể hiện hình, đặc điểm và tình cảm tốt hơn nếu vững vàng về vẽ hình.
Hình hoạ và điêu khắc có mối quan hệ tương hỗ mật thiết với nhau trong học
tập và sáng tác nghệ thuật. Chính vì thế các chương trình đào tạo mỹ thuật, dù ở khoa
hội hoạ hay đồ hoạ đều có một số giờ điêu khắc để củng cố cách nhìn của hình hoạ.
Còn ở ngành điêu khắc, việc học hình hoạ trong chương trình đào tạo là bắt buộc
- Với trang trí:
Vẽ hình tốt sẽ hỗ trợ nhiều cho học trang trí thông qua ghi chép tài liệu thực tế.
Việc ghi chép cấu tạo hình thể và nắm bắt đặc điểm của đối tượng giúp cho bài trang
trí chủ động, sáng tạo hơn.
Đối với các bài chép hoa lá, chép và cách điệu gà, cá vàng người vẽ có khả
năng khái quát và bắt dáng cụ thể các chi tiết để giúp bài đơn giản, cách điệu thuận lợi
hơn. Đối với các bài có tính sáng tạo như tranh cổ động, tranh trang trí vai trò của
hình hoạ lại càng quan trọng, giúp sinh viên có điều kiện bắt dáng nhanh, chính xác và
đúng với cấu trúc của đối tượng cần ghi chép.
sáng nhưng người vẽ phải qui đổi về đậm nhạt của chất chì đen hoặc than và thể hiện
được sáng tối. Do vậy, đậm nhạt, sáng tối đôi khi cũng phần nào diễn tả được sắc thái,
chất cảm. Hoàn toàn có thể cảm nhận được màu xanh phấn và chất của củ su hào
thông qua bài vẽ hình hoạ đen trắng, hay màu trắng và sáng nhưng mờ và khô của chất
tượng thạch cao.
Hình 33 - Nguồn sáng chiếu vào vật mẫu tạo thành các độ đậm nhạt khác nhau
2.2. Khả năng biểu đạt của chất liệu chì đen
Chì đen là chất liệu phổ thông, dễ dùng, dễ sử dụng. Có nhiều bài hình hoạ và
nhiều trường có dạy vẽ sử dụng chất liệu chì đen khi học hình hoạ đen trắng. Chì đen
có khả năng diễn tả đường nét, sáng tối và chất
2.2.1. Khả năng diễn tả chất
24