MỤC LỤC
BÀI 1, 2: BÁN THÂN BỘT MÀU (NAM, NỮ) 1
MỞ ĐẦU 1
MỤC TIÊU 1
ĐIỀU CẦN BIẾT 1
NỘI DUNG 1
1. Giới thiệu: 1
1.1 Giới thiệu bài hình họa bán thân bột màu: 1
1.2 Sự khác biệt giữa mẫu bán thân nam và bán thân nữ: 2
2. Mối quan hệ giữa nghiên cứu hình họa bán thân với các môn học chuyên ngành,
với sáng tác nghệ thuật: 2
2.1 Với nghiên cứu khối cơ bản: 2
2.2 Với nghiên cứu giải phẫu tạo hình: 3
2.3 Với sáng tác: 3
Chân dung- Trần Dậu 5
3. Đặc điểm chất liệu bột màu trong vẽ hình họa bán thân: 5
4. Phương pháp tiến hành: 7
4.1. Quan sát nhận xét, sắp xếp bố cục: 7
4.1.1 Quan sát nhận xét: 7
4.1.2 Sắp xếp bố cục: 7
4.2. Dựng hình : 7
4.3. Vẽ tương quan lớn: 8
4.4. Vẽ sâu: 8
4.5. Hoàn chỉnh bài vẽ : 9
5. Bài tập: 10
BÀI 3, 4: BÁN THÂN NAM SƠN DẦU (NAM, NỮ) 11
MỞ ĐẦU 11
MỤC TIÊU 11
ĐIỀU CẦN BIẾT 11
NỘI DUNG 11
1. Giới thiệu 11
- Kiến thức bài học khối cơ bản, tượng chân dung, chân dung bột màu.
- Nghiên cứu giải phẫu tạo hình cơ thể người.
- Bài tập thực hành màu sắc.
NỘI DUNG
1. Giới thiệu:
1.1 Giới thiệu bài hình họa bán thân bột màu:
Là bài học nối tiếp kiến thức bài hình họa chân dung bột màu, nghiên cứu hình
họa bán thân màu là bài tập hình hoạ nghiên cứu phần chân dung và nửa thân trên của
người mẫu bằng chất liệu màu bột. Sử dụng chất liệu màu bột để nghiên cứu hình họa
đặt ra những vấn đề mà người học cần giải quyết. Đó là năm vững đặc điểm chất liệu
và khả năng làm chủ chất liệu. Khả năng phân tích khối bằng đậm nhạt và sắc độ.
So với lượng kiến thức của bài chân dung màu, bài học bán thân bột màu là một
bước nghiên cứu cao hơn. Vì vậy nó đòi hỏi người học phải giải quyết tốt những vấn
1
đề tạo hình của bài học chân dung cùng với lượng kiến thức mới trong nghiên cứu nửa
thân trên của người mẫu.
1.2 Sự khác biệt giữa mẫu bán thân nam và bán thân nữ:
Đặc điểm mẫu nam: Cơ thể mẫu nam thường cao lớn hơn, cổ to, vai rộng, hông
hẹp, tổng thể toát lên sự khoẻ khoắn, khối vuông vức , tổng thể giống một hình tam
giác ngược, bàn tay thô.
Đặc điểm mẫu nữ: Ở mẫu nữ, thể tích xương đầu nhỏ, cổ nhỏ, vai hẹp, nhỏ
nhắn, hông rộng, ngực tròn, cơ bắp không nổi rõ, khối tròn trịa, mềm mại.
Với đặc điểm như vậy, nghiên cứu mẫu nam thuận lợi hơn cho người mới học
vẽ.
2. Mối quan hệ giữa nghiên cứu hình họa bán thân với các môn học chuyên
ngành, với sáng tác nghệ thuật:
2.1 Với nghiên cứu khối cơ bản:
Khi tìm hiểu cấu tạo cơ thể người, ta có thể quy chúng vào các khối hình học,
như khoang ngực, vùng chậu gần với hình lập phương,bốn chi gần với hình trụ tròn,
2
dựng hình, tạo khối cho chính xác.
2.3 Với sáng tác:
Hình họa bán thân bột màu đòi hỏi người học cần bám sát mẫu. Nghiên cứu
mẫu không phải là sao chép về hình, về màu nhưng cần tuân thủ tương quan về hình,
sắc độ trên mẫu. Khi đã nắm vững được các quy luật của thị giác, người họa sĩ có thể
chủ động sáng tạo, để có thể vừa khắc họa được diễn biến tâm lý của người mẫu, vừa
3
chuyển tải được tình cảm của mình lên tác phẩm. Có nhiều tác phẩm bột màu trực họa
đã vượt khỏi khuôn khổ nghiên cứu trở thành một tác phẩm hội họa độc lập.
Bộ đội nam tiến - Nguyễn Đỗ Cung
Thợ hầm lò- Sĩ ngọc
4
Chân dung- Trần Dậu
3. Đặc điểm chất liệu bột màu trong vẽ hình họa bán thân:
Màu sắc có vai trò hết sức quan trọng trọng vẽ mỹ thuật nói chung, nó tác động
mạnh nhất tới con mắt và quyết định tới sự thành công của mỗi tác phẩm mỹ thuật.
Với bài học vẽ hình họa chân dung bằng chất liệu bột màu, người học cần phải tìm
hiểu đặc điểm chất liệu kỹ trước khi tiến hành vẽ.
5
- Có cấu tạo khác nhau ( màu tự nhiên, màu khoáng chất, màu tổng hợp… ), có
độ hòa tan khác nhau ( màu dễ tan, màu khó tan).
- Bình thường ở thể rắn, không có sự liên kết. Khi sử dụng cần kết hợp nước và
keo ( keo da trâu, zê-la-tin, hồ… )
- Sắc độ, đâm nhạt thay đổi theo tính chất khô ướt (màu đậm khi ướt, sáng khi
khô), hoặc khi kết hợp nhiều keo, ít keo ( dùng nhiều keo màu sẽ bị đanh mặt, không
có độ xốp), hoặc khi pha trộn nhiều màu sắc với nhau ( màu xỉn) .
- Độ che phủ của bột màu tốt hơn màu nước những không bằng sơn dầu. sử
hợp giữa khuôn mặt và bàn tay của người mẫu tạo nên nhịp điệu chính cho toàn bài.
Chọn góc vẽ gợi nhiều cảm xúc cho người học.
4.1.2 Sắp xếp bố cục:
Tỷ lệ giữa hình vẽ và nền giấy phải đảm bảo sự hài hoà, tránh tình trạng bố cục
loãng, chật hoặc lệch phải, lệch trái. Khoảng trống trước mặt nên rộng hơn phái sau,
bên dưới rộng hơn bên trên để tạo sự cân bằng thị giác.
4.2. Dựng hình :
Trên giấy đã bồi, dựng hình sơ lược. Lấy đầu làm đơn vị, xác định trục đầu,
thân người, trục vai, hông, vị trí bàn tay, đầu gối. Sử dụng bút màu loãng phác hình
nhẹ tay. Căn cứ vào màu trên mẫu để pha màu nét, dựng hình bằng nhiều đường
thẳng, nắm bắt các hướng lớn.
Xác định hình của các mảng màu lớn ( mảng màu sẫm trên mặt, mảng màu nền,
mảng áo, thân người…)
7
Trên cơ sở những nét phác đơn giản, ta bắt đầu xây dựng hình cụ thể hơn theo
trình tự đầu, cổ vai, theo nguyên tắc từ mảng hình lớn đến nhỏ
4.3. Vẽ tương quan lớn:
Sử dụng phương pháp quan sát mẫu bằng cách nheo mắt, loại bỏ các chi tiết vụn
vặt, nắm bắt hệ thống màu. Căn cứ vào mẫu, vẽ các mảng màu lớn ( mảng màu nền,
mảng màu mặt, mảng màu cổ, mảng màu trang phục) Sau đó phân chia những mảng
màu lớn thành những mảng màu nhỏ hơn ( mảng tối của mặt, cổ, tóc, áo…)
Chú ý sử dụng bút to, lên màu nhanh. Lên được mảng sáng tối trên mặt rồi mới
dựng hình mắt mũi miệng.
4.4. Vẽ sâu:
Trên cơ sở của hệ thống mảng lớn, người học đi sâu vào phân tích các diện
khối nhỏ hơn, các đặc điểm về hình, các bộ phận chi tiết trên mẫu.
Đẩy sâu về hình, đẩy sâu về bóng. Tìm hình cho từng mảng, so sánh đậm nhạt,
sắc độ của các mảng bóng với nhau. Chú ý tìm các sắc độ phản quang, trung gian.
Luôn so sánh tương quan giữa từng chi tiết với nhau, tương quan chi tiết, tổng
thể. Tương quan giữa phần chân dung và các nếp áo. Khi vẽ mẫu mặc quần áo có trang
khuôn mặt và cơ thể người mẫu .
- Tạo được không gian, hình mảng, khối, nét kết hợp với nhau tạo được chiều sâu.
- Diễn tả chất tốt, màu sắc trong trẻo, thể hiện qua bút pháp khoáng đạt .
CÂU HỎI CỦNG CỐ
- Đặc điểm chất liệu bột màu trong vẽ hình họa bán thân?
- Nêu các bước trong quá trình tiến hành vẽ bài hình họa bán thân bột màu?
10
BÀI 3, 4: BÁN THÂN NAM SƠN DẦU (NAM, NỮ)
(1 tiết lý thuyết;14 tiết thực hiện ngiên cứu cho mỗi bài)
MỞ ĐẦU
Nghiên cứu hình họa là kết quả nhận biết đối tượng thông qua hoạt động quan
sát, sáng tạo nghệ thuật. Họa sĩ Degas đã nói “ Hình họa không phải là hình thể mà là
những quan sát về hình thể”. Sự khác biệt giữa nghiên cứu hình họa mẫu tượng và
mẫu người không phải ở hình thể mà là trạng thái của hình. Nối tiếp loạt bài hình họa
vẽ tượng, các bài tập hình họa vẽ người đòi hỏi người học cần nắm bắt, khắc họa được
trạng thái tâm lý, tình cảm của người mẫu. Với nội dung nghiên cứu hình họa mẫu
người trên chất liệu màu, người sinh viên cần phải giải quyết nhiều vấn đề trên một bài
tập. Đó là vấn đề tương quan hình, màu. Vấn đề giải quyết không gian, vấn đề làm
chủ chất liệu.
MỤC TIÊU
- Phân tích được hình, khối, cấu trúc, đậm nhạt, màu sắc trên chân dung và nửa
thân trên người mẫu nam.
- Sắp xếp bố cục hài hoà, dựng hình đúng tỷ lệ, đặc điểm cơ thể người.
- Phân chia được hệ thống sáng tối, xây dựng được hệ thống màu sắc, đúng về
sắc độ và đậm nhạt.
- Sử dụng tốt chất liệu sơn dầu trên toan.
- Tạo không gian 3 chiều trên mặt phẳng 2 chiều.
- Hình thành cảm xúc trước vẻ đẹp tạo hình chân dung, cơ thể người.
- Cách nhìn khái quát, tổng hợp, toàn diện.
ĐIỀU CẦN BIẾT
thường là các hợp chất kim loại, đục, nặng, và đặc (như cobalt, iron, zinc, …)
Các hạt màu được phân tích theo: Độ nhuộm, độ đục- trong, độ bền đối với ánh
sáng, tốc độ khô, độ hấp thụ dầu…
- Độ nhuộm: Được thử bằng trộn màu với ngà voi theo tỉ lệ 1:10. Các hạt màu
hữu cơ, đặc biệt hữu cơ tổng hợp, thường có độ nhuộm cao hơn các màu vô cơ;
- Độ đục – trong: Một số hạt màu hữu cơ hoàn toàn trong do cấu trúc phân tử,
vì thế được dựng làm màu láng;
- Độ bền đối với ánh sáng: Một số hạt màu bền khi vẽ đặc, nhưng lại không bền
khi vẽ loãng;
- Tốc độ khô: Một số màu như đỏ son, đỏ thần sa, sulfide thủy ngân HgS khi
hòa với dầu thì làm dầu khô chậm hơn, trong khi cobalt làm dầu khô nhanh hơn;
- Độ hấp thụ dầu: Một số hạt màu cần nhiều dầu hơn. Nhưng nói chung khi hòa
càng nhiều dầu thì bề mặt sơn càng dễ nứt.
+ Đặc tính của màu sơn dầu
12
(Phụ thuộc vào hãng sản xuất)
Trắng:
- Trắng chì (carbonate chỡ PbCO3): là loại trắng cổ xưa nhất, rất độc đáo, có
độ phủ cao (đục), sắc ấm, và nhiều độ chuyển, khô nhanh, nhưng bị đen (chết, bẩn)
theo thời gian.
- Trắng bạc: carbonate chì + hydrate chì 2PbCO2. Pb(OH)2. Tên gọi “trắng
vảy) bắt nguồn từ cách sản xuất các hạt màu trắng chì. Kremnitz hay Cremnitz là một
địa danh ở biên giới Hungary- Slovakia, nơi có mỏ chì, còn Krems là một địa danh ở
Áo nơi người ta làm ra carbonate chì.
- Trắng kẽm (oxide kẽm ZnO): độ phủ yếu (bẩn đục) không dùng để vẽ lót
được, nhưng tốt cho vẽ trong, hoặc vẽ không khí, xa gần. Sắc ấm, lâu khô. Khi khô tạo
thành màng giòn nên dễ bị nứt nếu vẽ dày.
- Trắng titan (titanium dioxide TiO2) được phát hiện năm 1821, được dùng
thay thế trắng chì từ 1921 do công ty Mỹ sản xuất đại trà cho họa sĩ, có độ phủ rất cao,
bền màu, khô nhanh, không độc, sắc lạnh hơn trắng chì nhưng ấm hơn trắng kẽm, ngả
- Xanh biển thẫm + vàng colbalt
- Xanh biển thẫm + trắng kẽm:
- Nền có màu nâu đất hoặc đỏ đất thường làm các nửa bóng tối đi dần.
- Xanh lục + vàng cadmium chỉ bền nếu được trộn với trắng kẽm.
+ Cường độ màu chia theo tốc độ khô
Khô nhanh (trong vòng hai ngày):
- Nâu đen: bền, dẻo lỏng
- Vàng colbalt
14
- Nâu Sienna nung: khô mạnh
- Trắng chì: dễ hòa hợp
Khô vừa (khoảng 5 ngày)
- Xanh trời: khá dẻo lỏng - Nâu Sienna sống: bền, khá mạnh
- Xanh colbalt: giòn - Tím cobalt: khá giòn - Đỏ oxide sắt: mạnh
- Lục chromium oxide: khá dẻo lỏng - Vàng Naples: mạnh.
Khô chậm (nhiều hơn 5 ngày -1 tuần):
- Lục đất: mềm, dẻo lỏng - Vàng đất: khá mạnh - Đen ngà voi: mềm, giòn
- Vàng cadmium: dẻo lỏng - Trắng titanium: giòn
Khô rất chậm:
- Trắng kẽm: giòn - Đen muội đèn: mềm
- Tránh dùng đen ngà voi để vẽ lót hoặc phác vì rất lâu khô;
- Những màu có chứa chì, colbalt, manganese làm tăng tốc độ khô, vì thế có
thể trộn với các màu khác để làm khô nhanh lên, ví dụ khi vẽ lót;
+ Chất trung gian
Thêm vào để tạo hiệu quả (thay đổi độ bóng, độ dày, tạo ra kết cấu, v. v.):
- Painting medium: làm loãng màu, tạo độ bền, chúng ngả vàng, tăng thời gian
khô;
- Impasto medium: (chất đắp) dùng để vẽ đắp, khô nhanh, không bị vàng, nửa
mờ.
- Dầu bóng (varnish)
- Tỉ lệ: 45-60 gr keo da trâu (hay keo thực vật)/1 lít nước lạnh.
Vừa đun nhỏ lửa vừa quấy trong nồi, nhưng không để sôi. (Tốt nhất là đun cách thủy).
- Khi keo đó tan hết được dung dịch lỏng như thạch thì để nguội đến nhiệt độ
trong phòng (khoảng 24-25 độ C)
- Hâm lên cho thành lỏng.
- Dùng bút bẹt to bản phết lên toile đã căng trên khung sao cho chất phủ chui
vào tất cả các chỗ lõm. Có thể dùng bay trát vào toile nếu keo quá đặc.
- Để khô.
Mục đích của việc làm này là để keo da ngăn không cho linotenic acid trong dầu
lanh ăn thủng toile. Nhưng keo da trâu có nhược điểm là hút ẩm khiến lớp lót bị co
hoặc rộp dần đến nứt sơn phủ phía trên. Ngày nay nhiều người thay bằng acrylic
gesso.
Làm lót (priming)
16
Nền là lớp ngăn cách giữa vải và sơn để có thể dính tốt và bền, không bị xuống
màu. Chất lót tốt nhất và thông dụng nhất là dung dịch gesso, có bán sẵn ngoài hiệu.
Công thức đơn giản làm lớp lót sơn dầu:
- Dựng dao vẽ trộn bột sơn trắng với dầu lanh ép lạnh để được một lớp hợp
chất sánh lỏng.
- Thêm gesso vào và trộn đến dạng nhão đặc.
- Pha loãng bằng dầu thông tùy theo ý muốn.
Trong thời kỳ khó khăn các sinh viên trường ĐH Mỹ thuật thường mua bột
đao (Bột mài từ củ dong giềng) nấu lên rồi quét vào bìa để vẽ hình họa nghiên cứu.
Chỉ dựng cho các bài học vẽ nghiên cứu vì với vật liệu lót này bài vẽ rất nhanh
xuống màu và hay bị mốc.
Khung căng toile (chanssis)
- Dựng khung ghép mộng, cú nêm thì càng tốt.17
khô bị ngả vàng và tạo độ bóng không bình thường.
- Có thể sử dụng phương pháp vẽ bằng bút, bằng bay hay kết hợp cả hai.
- Pha trộn nhiều màu sẽ khiến màu bị xỉn hay mất màu.
- Sử dụng bút dính dầu hỏa, xăng sẽ khiến màu xỉn, mốc.
3. Mối quan hệ giữa hình họa bán thân sơn dầu và sáng tác
Thể loại tranh chân dung bán thân được rất nhiều họa sĩ trong nước và trên thế
giới ưa thích và đã có rất nhiều tác phẩm thành công về đề tài này. Có thể kể tên một
số họa sĩ như Van Dick, Velazque, Degas, Lucian Feurd…Ở trong nước như Tô Ngọc
Vân, Trần Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên…Có rất nhiều
phong cách như hiện thực, ấn tượng, lập thể Có những tác giả vẽ theo lối tưởng
tượng, cũng có những tác giả vẽ theo lối trực họa. Dù nghiên cứu hình họa chưa được
coi là sáng tác tranh chân dung, tuy nhiên vẽ hình nghiên cứu bán thân chắc chắn là
tiền đề tốt cho những tác phẩm chân dung hội họa thành công.
19
Chân dung- Degas Chân dung ông Trần Thịnh- Nguyễn Sáng
Chân dung một lão nông- Nam Sơn
4. Phương pháp tiến hành
4.1. Quan sát nhận xét, sắp xếp bố cục
4.1.1 Quan sát nhận xét
20
Người vẽ thực hiện việc quan sát mẫu từ tổng thể tới chi tiết nhằm mục đích
nắm bắt những đặc điểm hình khối, tỷ lệ, những nét điển hình của mẫu.
+ Quan sát ngoại hình, kiểu khuôn mặt dài hay ngắn, vuông hay tròn, màu da
sáng hay sẫm, nét mặt tươi vui hay trầm tĩnh, đặc điểm mắt, mũi miệng, tai…
+ Quan sát hệ thống đậm nhạt, màu sắc phân bổ trên mẫu
Chú ý quan sát, tìm vị trí hoặc xử lý ánh sáng chiếu vào mẫu sao cho sự phối
hợp giữa khuôn mặt và bàn tay của người mẫu tạo nên nhịp điệu chính cho toàn bài.
Chọn góc vẽ gợi nhiều cảm xúc cho người học. Căn cứ vào khả năng diễn tả
ánh sáng của người vẽ để chọn góc vẽ thuận sáng hay ngược sáng cho phù hợp.
hệ thống sáng tối với các sắc độ khác nhau( mảng tối, mảng sáng của vải nền, mặt, cổ,
tóc, áo…)
Chú ý: Sử dụng bút cỡ lớn để vẽ những mảng màu lớn. Cũng có thể sử dụng
bay nhưng cần cân nhắc. Việc sử dụng bay sẽ dẫn đến những mảng miếng với độ bóng
đều nhau. Phải tính toán hướng bay và kết hợp dùng bút để tạo thay đổi. Không sử
dụng bay để pha trộn màu nguyên chất trên bề mặt toan. Với bề mặt sơn ướt và dày,
cần cạo bớt trước khi đặt lớp màu lên trên. Hệ thống sáng, tối trên mẫu, nền cấn có sự
liên kết với nhau
4.4. Vẽ đẩy sâu
Trên cơ sở của hệ thống mảng lớn, người học đi sâu vào phân tích các diện
khối nhỏ hơn, các đặc điểm về hình, các bộ phận chi tiết trên mẫu.
Đẩy sâu về hình, đẩy sâu về bóng. Tìm hình cho từng mảng, so sánh đậm nhạt
sắc độ của các mảng bóng với nhau.
Đẩy sâu đòi hỏi sự phân tích kỹ các mảng hình. Tìm sắc độ cho các mảng bóng
tối, sáng, mảng trung gian và máng phản quang. Thông thường, sắc độ giữa mảng
bóng trong tối và ngoài sáng có sự khác nhau về nóng lạnh. Phân tích cần thiết nhưng
phải luôn so sánh tương quan giữa từng chi tiết với nhau, tương quan chi tiết, tổng thể.
Đôi khi những mảng chi tiết được phân tích kỹ lưỡng lại không ăn nhập trong một
tổng thể chung. Ngoài ra cũng cần chú ý tới tương quan giữa phần chân dung, đôi bàn
tay và trang phục, giữa người mẫu với không gian nền. Xử lý ranh giới giữa người với
nền sao cho có sự hòa hợp, gắn kết. Tránh tình trạng người và nền tách biệt.
Trong vẽ chân dung, đôi mắt có sức biểu cảm đòi hỏi người học cần chú ý diễn
tả, tuy nhiên con mắt gần nên đậm hơn con mắt xa. Khi vẽ tóc cần chú ý phân biệt các
mảng khối tạo không gian.
Chú ý tới tương quan gần rõ, xa mờ để tạo hiệu quả không gian.
Có thể sử dụng bút khô, cứng để day hoặc bút hình quạt mềm để xoa, tạo hiệu
quả bề mặt chất liệu. Chiều hướng, lực đưa bút cần thay đổi và phải căn cứ vào chiều
hướng của khối, của ánh sáng.
4.5. Hoàn chỉnh bài vẽ
Trong quá trình phân tích đẩy sâu bài vẽ, có thể đôi chỗ hình, màu không ăn