Nghiên cứu văn tự hán nôm trên đồ gốm sứ việt nam từ TK XV đến TK XIX - Pdf 12

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 4
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề 8
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
3.1. Đối tượng nghiên cứu 10
3.2. Phạm vi nghiên cứu 10
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11
4.1. Cơ sở lý luận 11
4.2. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Đóng góp mới của đề tài 11
1.1. Các nghiên cứu đã được xuất bản chính thức 13
1.1.1. Công trình xuất bản từ đầu TK XX đến trước năm 1945 13
1.1.2. Công trình xuất bản từ năm 1945 đến năm 1975 16
1.1.3. Công trình xuất bản từ năm 1975 đến nay 19
1.2. Nguồn tư liệu từ các bảo tàng, sưu tầm tư nhân và mạng internet 24
1.2.1.Tư liệu từ các bảo tàng trong nước 24
1.2.2. Tư liệu từ các bảo tàng ở nước ngoài 27
1.2.3. Tư liệu từ bảo tàng tư nhân và bộ sưu tập tư nhân 29
1.2.4. Tư liệu thông qua mạng Internet 30
TIỂU KẾT 30
2.4.2.1. Đặc điểm về bố trí chữ Nôm trên sản phẩm gốm sứ 56
2.4.2.2. Phân loại chữ Nôm và những đặc trưng 56
2.5. Giá trị của các văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ từ TK XV đến TK XIX 63
TIỂU KẾT 65
3.1. Văn tự chỉ niên đại 67
3.1.1. Văn tự chỉ niên đại theo hiệu vua 67
3.1.2. Văn tự chỉ niên đại ghi theo can chi 71

đã hỗ trợ, động viên tôi hoàn thành luận án này.
4
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT.
TP Tác phẩm
MS Mã số
BT
BTLSVN
Bảo tàng
Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam
TK Thế kỷ (theo ký hiệu số La Mã)
H
TPHCM
Nxb
Hà Nội
Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà xuất bản
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ TK XV đến TK XIX, các triều đại phong kiến ở Việt Nam thay
nhau lên nắm quyền. Mỗi triều đại mới xuất hiện kéo theo sự xuất hiện của
các vật dụng gốm sứ mang phong cách riêng của triều đại đó. Vì thế, cổ vật
nói chung và gốm sứ cổ nói riêng đã trở thành tấm gương phản chiếu từng
giai đoạn lịch sử. Việc minh chứng cho mỗi giai đoạn lịch sử thông qua gốm
sứ đòi hỏi chúng ta phải nắm được niên đại của cổ vật đó, có nghĩa cổ vật
được minh chứng phải phù hợp với giai đoạn lịch sử được xem xét. Có nhiều
cách để chúng ta tìm ra niên đại thực của cổ vật, một trong những cách xác
định niên đại được coi là nhanh và chính xác nhất là thông qua văn tự ghi niên
đại trên cổ vật đó. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu cổ vật (đặc biệt là
nghiên cứu gốm sứ cổ) thường tìm hiểu chất liệu, hoa văn, điển tích; một số ít

hiện trên gốm sứ Việt Nam TK XV - XIX. Qua đó, xây dựng nên hệ thống
mang tính phổ quát nhất những vấn đề về văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ cổ
trong mỗi giai đoạn.
Văn tự Hán Nôm trên gốm sứ cổ là một trong những tư liệu quan trọng
để minh chứng cho một nền văn hoá hay một nền văn minh nào đó. Thông qua
văn tự Hán Nôm, chúng ta còn biết về lịch sử các làng nghề, lịch sử về thương
mại, ngoại giao, v.v… Nhất là những tác phẩm Hán Nôm tiêu biểu có nhiều dị
bản được đề vịnh thì càng có giá trị trong việc tìm hiểu về tác giả, tác phẩm.
Ngoài ra, việc nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên gốm sứ sẽ mở cho chúng ta
con đường tiến tới xây dựng và phát triển hệ thống những quan điểm trong
nghiên cứu bút tích trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX.
Văn tự trên gốm sứ Việt Nam xuất hiện khá sớm. Tuy nhiên, trong quá
trình phát triển, chúng có sự giao thoa với cách thức chế tác gốm sứ Trung
7
Quốc. Vì vậy, khi phân định gốm sứ, thể thức văn tự, không ít nhà nghiên cứu
đã đánh đồng sứ Việt Nam và sứ Trung Quốc, nhất là gốm sứ giữa TK XVIII
đến đầu XIX. Vì thế, thông qua văn tự sẽ giúp việc phân định sứ Việt Nam và
sứ Trung Quốc rõ ràng hơn.
Do nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiều văn tự đề vịnh trên đồ
gốm sứ cổ có giá trị văn bản học ở Việt Nam đang bị lãng quyên, hoặc chưa
được đánh giá đúng mực bằng giá trị vật chất do cổ vật mang lại. Do đó, hiện
tượng chảy máu cổ vật diễn ra khá nhiều, đồng nghĩa văn tự Hán Nôm trên cổ
vật có giá trị lịch sử, văn học, bút tích học cũng mai một theo. Tuy nhiên,
trong vài năm gần đây, cổ vật nói chung, gốm sứ cổ ở Việt Nam nói riêng dần
được bảo lưu và gìn giữ. Bên cạnh đó, trong và ngoài nước cũng đã xuất hiện
những nhà nghiên cứu có chuyên môn sâu về văn tự Hán Nôm. Nhưng nhiều
cổ vật có văn tự Hán Nôm chưa được nghiên cứu, giải mã một cách hệ thống.
Từ những thực tiễn nêu trên, đồng thời để triển khai có hiệu quả mục
tiêu bảo tồn di sản văn hoá trong các chương trình hành động của Đảng và
Nhà nước; thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5

chưa phát triển một cách xứng tầm như tư liệu vốn có.
Thời kỳ thứ ba, các bảo tàng ở Hà Nội và các bảo tàng địa phương,
như: Hải Phòng, Nam Định, Mỹ thuật cung đình Huế, v.v… cũng đã từng
bước hoàn thiện hồ sơ hiện vật. Những phát hiện cùng kết quả nghiên cứu
mới về đồ gốm sứ Việt Nam có văn tự được đăng tải trên nhiều tạp chí
chuyên ngành. Trong khoảng thời gian đầu, các công trình thường mang tính
điều tra, các đề tài nghiên cứu còn rất hạn hẹp. Sau này, việc nghiên cứu văn
9
tự Hán Nôm trên gốm sứ Việt Nam được phát triển và hệ thống lại mang tính
khoa học hơn rất nhiều.
Để hiểu rõ và cụ thể hơn về lịch sử vấn đề, chúng tôi sẽ trình bầy rõ
hơn ở Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên đồ
gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX
và các đối tượng liên quan.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đầu tiên, chúng tôi tập trung nghiên cứu những vấn đề chung về văn tự
Hán Nôm trên gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX về nguồn gốc, đặc
trưng đến nội dung được phản ánh qua các nguồn tư liệu tại một số bảo tàng
trong và ngoài nước; một số bộ sưu tầm tư nhân uy tín, một số trang web
chuyên về cổ vật. Qua đó, khảo tả đặc điểm văn tự, đặc biệt đi sâu nghiên cứu
một số dòng gốm sứ có giá trị thông qua những ghi chép Hán Nôm.
Thông qua, nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ
TK XV đến TK XIX, góp phần nhận diện giá trị văn hoá, lịch sử, văn học.
Phân loại, giới thiệu, dịch thuật và tiến tới nắm được nội dung và đặc trưng cơ
bản của hệ thống văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến
TK XIX. Qua đó, góp phần vào nghiên cứu làng nghề, phát triển du lịch, giáo
dục văn hóa địa phương. Cũng như giúp hiểu rõ hơn đời sống tín ngưỡng của

Giải quyết những vấn đề liên quan đến tác giả tạo tác gốm sứ, tác giả
và tác phẩm văn học cũng như một số nội dung còn tranh luận thông qua văn
tự Hán Nôm trên gốm sứ, qua đó xây dựng nguồn tư liệu có giá trị xác thực.
11
Hệ thống lại nội dung văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ, định danh và
khu biệt hóa từng loại hình văn tự trên từng dòng sản phẩm gốm sứ từ TK XV
đến TK XIX.
Giúp phân biệt tính thật, giả của gốm sứ cổ thông qua hệ thống văn tự
Hán Nôm. Đưa ra hệ thống lý thuyết về đặc trưng hình thức văn tự Hán Nôm
trên đồ gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX. Bước đầu xây dựng lý thuyết
cho việc nghiên cứu thể thơ Thần trí, nhất là trên đồ gốm sứ.
Đề tài làm phong phú thêm nguồn tư liệu trong cùng lĩnh vực nghiên
cứu gốm sứ cổ, thông qua đó có thể là cuốn cẩm nang cho những người tìm
hiểu đồ cổ, nhất là đồ gốm sứ cổ trong việc đối chiếu nội dung, hình thức, đặc
điểm của văn tự trên các hiện vật cùng loại.
6. Bố cục nội dung
Ngoài phần mở đầu như vừa nêu trên đề tài sẽ được triển khai thành
bốn chương chính, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu văn tự Hán Nôm trên đồ
gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX
Chương 2: Những đặc trưng về hình thức của văn tự Hán Nôm trên đồ
gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX
Chương 3: Những đặc trưng về nội dung của văn tự Hán Nôm trên đồ
gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX
Chương 4: Một số vấn đề về tác giả, tác phẩm và thể thơ Thần trí trên
gốm sứ Việt Nam từ TK XV đến TK XIX
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
12

sứ Việt Nam và họ bước đầu nghiên cứu các sản phẩm gốm sứ này. Thời gian
đó, họ vẫn quen với tên gọi gốm An Nam hoặc gốm Thanh Hóa. Các tác giả
tiêu biểu, xuất bản những tác phẩm công bố về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ
Việt Nam có thể kể đến:
Louis Chochod, ông là người nước ngoài đầu tiên nghiên cứu gốm sứ
Việt Nam và đề cập đến văn tự Hán Nôm, tháng 12 năm 1909 ông đã công bố
chuyên khảo La question de la céramique en Annam et les Bleus de
Hué trên Bulletin du Comité de l’Asie France, Sài Gòn 12-1909. Năm 1943,
tác giả lại công bố tác phẩm Hué-La Mystérieuse, xuất bản ở Paris.
Người tiếp theo có nói đến văn tự Hán Nôm trên gốm sứ Việt nam có
thể kể đến linh mục kiêm học giả người pháp là L.Cadière. Năm 1914, ông đã
cho xuất bản cuốn Le Bulletin des Amis du Vieux Hué có đề cập đến niên hiệu
Minh Mạng trên các sản phẩm sứ. Trong tác phẩm này, tác giả viết “Người ta
đã gặp ở Huế những đồ sứ (…) và được ghi thêm dưới đáy hiệu đề thuộc triều
vua Minh Mạng”.

Năm 1929, một tác giả người Pháp trong Tập san Đô thành hiếu cổ
cũng đã đề cập đến những câu thơ Nôm trên sứ triều Nguyễn của Việt Nam
.
Ông này đã dẫn lời ông Hồ Đắc Khải, một quan chức cao cấp của triều
Nguyễn thuở ấy cho biết tác giả hai câu thơ Nôm trên đĩa trà mai hạc là Định
Viễn quận vương Nguyễn Phúc Bính, con trai của vua Gia Long. Sau này,
những bài viết mang tính chuyên khảo trong Tập san Đô thành hiếu cổ đã
được tập hợp và in thành bộ sách Những người bạn Cố Đô. Trong Những
người bạn Cố Đô có khá nhiều bài viết đề cập đến văn tự Hán Nôm trên
14
những cổ vật gốm sứ của Việt Nam, vì thế chúng tôi không giới thiệu chi tiết
từng bài mà chỉ giới thiệu tác phẩm này để chúng ta cùng nhau tham khảo.
Khoảng năm 1933 – 1934, Hobson R.L đã công bố mười ba văn tự trên
“lọ sứ An Nam” ở Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Sau này,

viết về những câu thơ Nôm trên một bộ trà và cho đó là câu thơ Nôm do
Nguyễn Du đề vịnh khi đi sứ. Bùi Thế Mỹ viết: “Tương tuyền lúc Nguyễn Du
đi sứ sang Trung Quốc, có đến thăm một lò chế tác đồ sứ, gặp dịp người ta
đang làm một bộ đồ trà, vẽ kiểu Mai hạc. Chủ lò nhã ý mời quan chánh sứ An
Nam phẩm đề một đôi câu thơ lên món đồ. Nguyễn Du đã dùng chữ Nôm của
nước nhà mà đề rằng: “Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ hạc là người
quen”.
Năm 1944, tác giả Vương Hồng Sển cũng đã viết bài Les Bleus de Hué
à décor Mai Hac đăng trên Bulletin de la Société des études Indochinoises
(BSEI). Tác giả đã khẳng định câu thơ Nôm trên bộ trà mai hạc là của đại thi
hào Nguyễn Du.
Năm 1944, L.Bezacier công bố chuyên đề Khái luận về nghệ thuật An
Nam (Essais sur L’art Annamite, Ha Noi).
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên hiện vật gốm sứ
trong các công trình, bài viết vừa nêu mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát, giới
thiệu lẻ tẻ từng hiện vật có văn tự, chưa có công trình nào đề cập một cách
đầy đủ, hoặc khái quát đặc điểm văn tự Hán Nôm. Qua tham khảo tài liệu,
bước đầu chúng tôi nhận thấy, nội dung ghi chép, mô tả, phiên âm văn tự có
sự sai khác so với nội dung văn tự trên sản phẩm gốm sứ và các tác giả
thường đưa ra những kiến giải mang tính chủ quan.
1.1.2. Công trình xuất bản từ năm 1945 đến năm 1975
Năm 1945, đánh dấu cho sự mở đầu một giai đoạn mới trong nghiên
cứu văn tự Hán Nôm trên gốm sứ ở Việt Nam, khi nước Việt Nam dân chủ
16
cộng hòa được thành lập. Mặc dù còn chiến tranh, nhưng các nhà khoa học tại
Viện Viễn Đông Bác cổ ở Việt Nam đã hợp tác với chính phủ các quốc gia
mới thành lập cũng như với các nhà khoa học bản địa để theo đuổi những
công trình ở Đông Nam Á: nghiên cứu về Phật giáo, ngôn ngữ, văn học, dân
tộc học, v.v… Các cuộc khai quật khảo cổ và nghiên cứu khảo cổ học, văn tự
Hán Nôm vẫn được tiếp tục và trên một tầm cao mới.

Với học giả Vương Hồng Sển thì từ năm 1950 đến năm 1972 ông đã
giới thiệu một số bài viết và các tác phẩm có đề cập đến văn tự Hán Nôm trên
sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Quốc cùng những kiến giải về lịch sử, niên
đại, nước men, màu chàm, văn tự trên đồ gốm sứ cổ, v.v… Sau này, giới
nghiên cứu, sưu tầm cổ vật ở Việt Nam bị ảnh hưởng khá nhiều từ những kiến
giải của ông, các công trình đó là:
- La chique de bétel et les pots à chaux anciens du Viet-nam (1950)
- Thú chơi cổ ngoạn (1971)
- Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa (1972)
- Cảnh Đức trấn đào lục (1972)
- Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn (1972)
Nếu Vương Hồng Sển được biết đến như một nhà nghiên cứu, học giả
bản địa có nhiều đóng góp nhất trong việc nghiên cứu cổ vật trong những giai
đoạn đầu của TK XX, thì trong khoảng thời gian trước năm 1975 cũng đã
xuất hiện một vài gương mặt nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ cổ,
tiêu biểu như Trương Cam Vinh, Trần Thanh Đạm, v.v…
Năm 1960, trên Văn hóa nguyệt san, số 52, Trần Thanh Đạm đã viết
bài Ấm chén và đồ xưa. Đây là một bài viết mang tính chuyên khảo về thú
18
thưởng trà và chơi trà cụ. Thú đó được xem như một thú chơi tao nhã của giới
quý tộc. Bên cạnh đó, việc thưởng thơ trên các bộ trà cụ cũng là một lạc thú
của các tao nhân, mặc khách tự cổ chí kim.
Năm 1962, cũng trên Văn hóa nguyệt san trong số 73, trang 880 – 896
Trương Cam Vinh đã viết bài về Chơi đồ cổ và chơi cổ đồ.
Năm 1970, tác giả Nguyễn Phi Hoanh đã xuất bản cuốn sách nghiên
cứu Lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Trong tác phẩm này, tác giả đã tập hợp được
một số cổ vật trong giai đoạn từ TK XV đến TK XIX có xuất hiện văn tự Hán
Nôm và giành một chương riêng cho đồ sành Bát Tràng.
Khoảng những năm từ 1945 đến 1975, việc nghiên cứu văn tự Hán
Nôm trên gốm sứ Việt Nam có bước phát triển hơn trước nhưng vẫn chỉ dừng

nước ngoài, mà các nhà nghiên cứu trong nước đã khẳng định được tên tuổi
của mình trong lĩnh vực nghiên cứu văn tự Hán Nôm này. Một vài tác giả,
chúng ta có thể kể đến như:
Học giả Vương Hồng Sển đã công bố: Những đồ sứ do đi sứ mang về,
Nxb Mỹ Thuật, 1993; Sổ tay của người chơi cổ ngoạn, Nxb Mỹ Thuật, 1994;
Khảo về đồ sứ từ hậu Lê đến sơ Nguyễn, Nxb Mỹ Thuật, 1993; Những đồ sứ
khác quan dụng, ngự dụng, Nxb Mỹ Thuật, 1993; Khảo về đồ sứ men lam
Huế, Nxb Mỹ thuật, 1994.
Sau học giả Vương Hồng Sển có thể kể đến nhà nghiên cứu Nguyễn
Đình Chiến, Nguyễn Đình Chiến là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu
có giá trị, tính khoa học cao. Những tác phẩm đầu tiên ông nghiên cứu về văn
tự Hán Nôm trên gốm sứ được tác giả giới thiệu như sau:
20
“Đồ gốm Việt Nam có minh văn đã được chúng tôi tập trung nghiên
cứu và công bố từ năm 1986, trong số Thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam (Nguyễn Đình Chiến, 1986: 125-133).
Năm 1991, trong Hội nghị thông báo khảo cổ học, chúng tôi tập trung
giới thiệu về 2 tác giả làm gốm ở Bát Tràng dưới triều Mạc là Đỗ Phủ và Đỗ
Xuân Vi (Nguyễn Đình Chiến, 1991a: 136-137). Cùng năm đó, trên tạp chí
Khảo cổ học, chúng tôi giới thiệu về nhóm đồ gốm chế tạo dưới triều Mạc của
tác giả Đặng Huyền Thông (Nguyễn Đình Chiến, 1991b: 55-56).
Năm sau, cùng Trịnh Căn, chúng tôi có thêm tài liệu công bố về tác
phẩm gốm của Đặng Huyền Thông (Nguyễn Đình Chiến-Trịnh Căn, 1992:
272-273)”.
Tuy nhiên, công trình có tính chuyên sâu của Nguyễn Đình Chiến là:
Cẩm nang đồ gốm Việt Nam có minh văn TK XV - XIX, do Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam xuất bản năm 1999. Đây là cuốn sách được tác giả biên soạn trên
cơ sở nâng cao công trình luận án Tiến sĩ của ông bảo vệ thành công năm
1996. Cuốn sách đã tập hợp và trình bày các loại hình, kiểu dáng, mầu men,
đề tài trang trí của sưu tập 132 đồ gốm có văn tự. Đặc biệt, nội dung văn tự

nghiên cứu về gốm Việt Nam, điển hình có các công trình:
John Guy, Oriental trade ceramics in South-East Asia, ninth to
sixteenth centuries, Oxford University Press, 1986.
John Stevenson, John Guy, Louise Allison Cort, Vietnamese ceramics,
Art Media Resources with Avery Press, 1997.
Còn về văn tự trên đồ sứ, nhất là sứ đặt kiểu của triều đình Việt Nam,
thì một trong những nhà nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này là tác giả
Trần Đình Sơn đã công bố: Những nét đan thanh, Nxb Văn nghệ TP. HCM,
22
2003; Thưởng ngoạn đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn (1802-1945), Nxb Văn nghệ
TP. HCM, 2008, Đồ sứ ký kiểu Việt Nam thời Lê - Trịnh (1533-1788), Nxb
Văn nghệ, 2010…
Bên cạnh đó, các tác giả nghiên cứu về văn tự Hán Nôm trên dòng sứ
này, có thể kể đến:
Trần Đức Anh Sơn có Đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2008. Đây là luận án Tiến sĩ lịch sử của Trần Đức Anh Sơn về
Đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn được viết công phu, tác giả đã dành riêng chương
V để giới thiệu văn tự trên đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn. Đây là lần đầu tiên có
một công trình chuyên sâu về văn tự trong một giai đoạn, mặc dù tập hợp này
chưa thật đầy đủ, nhưng như thế cũng đủ thấy văn tự Hán Nôm đã được coi
trọng trong việc nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Phạm Hy Tùng có Cổ vật
gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa, Nxb Sài Gòn, 2006. Những tác
phẩm này đã có những đóng góp không nhỏ trong việc nghiên cứu về văn tự
Hán Nôm trên đồ sứ đặt kiểu.
Các tác phẩm này đã hệ thống lại lịch sử nước nhà thông qua gốm sứ,
giới thiệu về lịch sử làng nghề, những hoa văn, kiểu dáng tiêu biểu của gốm
sứ qua mỗi thời kỳ. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã có đóng góp lớn vào
việc khai phá văn tự Hán Nôm trên đồ gốm sứ. Một số nhà nghiên cứu đã
công bố những chuyên khảo, chuyên luận về văn tự Hán Nôm trên gốm sứ
mang tính chất chuyên sâu có thể kể đến Philippe Truong với những bài viết:

phẩm gốm hoa lam độc đáo, rất có giá trị.
Năm 1954, trong sổ kiểm kê của Bảo tàng Louis Finot Hà Nội chỉ ghi
lại 11 đồ gốm sứ có văn tự đã đọc được, thuộc niên đại từ 1578 – 1585 và
1802 - 1819.
24
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những bảo tàng có vị trí
quan trọng nhất trong việc lưu giữ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật của
cộng đồng các dân tộc Việt nam. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam hiện giữ trên
18.000 hiện vật trong nước tiêu biểu cho nền Mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền
sử đến nay. Tất cả các hiện vật gốm sứ Việt Nam có văn tự Hán Nôm tại Bảo
tàng Mỹ thuật Việt Nam đã được tổng hợp như:
Thời Lý Trần có 04 hiện vật xuất hiện văn tự (3 bát và 1 đĩa; trong đó 1
hiện vật không đọc được), các văn tự thời kỳ này được khắc chìm.
Triều Lê sơ có 40 hiện vật thể hiện văn tự Hán Nôm, bao gồm các loại
hình như: Bát, chén, đĩa, âu, hộp. Văn tự được thể hiện bằng cách dùng chính
màu men lam viết trong lòng hiện vật. Các văn tự chủ yếu ở dạng một chữ.
Triều Mạc, tổng số 15 hiện vật có văn tự Hán Nôm gồm chân đèn, bát,
lư hương. Các văn tự được viết, khắc, được đắp nổi cắt- khắc.
Triều Lê Trung Hưng, tổng số 6 hiện vật có văn tự Hán Nôm (2 chân
đèn; 4 lư hương), những hiện vật này đều là đồ thờ. Các văn tự được thể hiện
bằng cách khắc vào xương gốm; khắc - in.
Triều Nguyễn, tổng số 66 hiện vật có văn tự Hán Nôm, loại hình đa
dạng. Các văn tự được thể hiện cách viết mực tầu; màu men lam, khắc, in.
Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế lưu trữ hơn 3700 hiện vật các
loại. Riêng bộ sưu tập gốm sứ có 700 hiện vật, đây là bộ sưu tập tương đối
phong phú về thể loại và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đồ gốm sứ còn
được bảo tồn tại Việt Nam. Sưu tập gốm sứ tại bảo tàng này rất đa dạng, bao
gồm các loại gốm mộc, gốm men ngọc và gốm hoa nâu thời Lý-Trần (TK XI-
XIV), gốm hoa lam thời Lê (TK XVI - XVII), gốm thời Mạc (TK XVI), gốm
trang trí thời Nguyễn (TK XIX - đầu TK XX)…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status