BÁO CÁO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRUYỀN THỐNG THƠ CỦA
HÀN QUỐC TẠI VIỆT NAM
1. Khái niệm Sijo:
Đây là phần khái quát đơn giản Sijo là gì? Có đặc trưng như thế nào và sẽ giúp
chúng ta có cái nhìn tổng thể về Sijo.
Sijo là một thể loại thơ truyền thống đặc trưng của Hàn Quốc, phát triển không
ngừng từ cuối thời kì Koryo cho đến nay. Chính vì việc phát triển không ngừng của
Sijo trong suốt năm trăm năm của vương triều Triều Tiên nên những bài Sijo được
sáng tác ở thời Triều Tiên được gọi là Sijo cổ nhằm để phân biệt với những bài Sijo
được sáng tác từ thời cận đại trở về sau.
Về mặt hình thức toàn tác phẩm Sijo gồm có 3 dòng mỗi dòng có từ 14 đến 16
âm tiết. Tổng số âm tiết trong một bài Sijo từ 44 đến 46 âm tiết. Nội dung của Sijo:
Vào đầu thời kì Choseon, Sijo được viết bởi tầng lớp Yangban và nội dung chủ
yếu chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo , nhưng đến thời kì hậu Choseon thì được viết
bởi tầng lớp bình dân nội dung chủ yếu là những tác phẩm về niềm vui và nỗi buồn của
tầng lớp bình dân.
2. Nguồn gốc và bối cảnh xuất hiện của Sijo:
Sijo được xuất hiện vào cuối thời kì Koryo tức là vào khoảng cuối thế kỷ 14, nó
được xem là một thể loại văn học đặc trưng của Hàn Quốc, và ngày nay nó đã trở nên
phổ biến. Một trong những lý do khiến cho Sijo trở nên phổ biến là vì nó được viết
bằng tiếng Hàn. Những bài hát truyền miệng trong đời sống tôn giáo của người dân
Hàn Quốc đều gắn liền với các triều đại lịch sử của Trung Quốc. Sijo thường được xuất
hiện trong những cuộc hội mặt, dân làng thường được nghe thôn trưởng kể về cuộc đời
của ông ta như những huyền thoại cũng như những chiến tích của ông ta trong thời
chiến tranh cũng như hòa bình. Câu chuyện kể sẽ được xen kẽ với các bài hát tạo nên
niềm hân hoan, tinh thần thoải mái. Chính những cuộc trò chuyện như thế này đã tạo
nên tính thơ ca cho nền thi thơ của Hàn Quốc. Do không muốn ảnh hưởng của ngôn
ngữ Trung Quốc cho nên trong thời kì cuối Koryo Sijo chủ yếu được truyền miệng.
( giữa thế kỉ 15 mới phát minh ra hangul).
Mãi cho đến những năm 20 của thập niên 90, hai từ sijo mới trở nên phổ biến,
được sự khác biệt về giai tầng âm nhạc của hai thể loại này.
Chính vì thế, vấn đề nguồn gốc của sijo đến nay vẫn chưa được giải quyết
minh xác.
3. Thi luật và phân loại Sijo
3.1 Thi luật
Cho đến ngày nay vẫn không thể phân tích được nguyên thể đầu tiên của Sijo một
cách rõ ràng .Các nhà nghiên cứu cho rằng Sijo chính là kết quả từ sự phát triển của
dân ca cổ hoặc hyaangga vào cuối thời Silla. Tuy nhiên , một điều rõ ràng là Sijo có
dấu vết từ các bài dân ca cổ. thể loại dân ca cổ Hàn Quốc thường có hai câu, mỗi câu
có bốn nhịp, 1 nhịp có 3,4 hoặc 5 âm tiết (âm đơn) . Trong khi đó, Sijo cũng có 3 dòng,
mỗi dòng có cùng số nhịp như dân ca cổ, dòng cuối cùng bao gồm cả câu chuyển tiếp
và kết đoạn. đặc tính của Sijo trong câu cuối là nâng bài thơ lên một mức xúc cảm cao
hơn.
Như vậy thể thơ Sijo được soạn với bố cục gồm ba dòng ,mỗi dòng 4 nhịp thơ, mỗi
nhịp bao gồm chủ yếu 3 hay 4 âm tiết. . Riêng nhịp 1 của câu 3 luôn có 3 âm tiết,
các nhịp sau có thể có tới 5 âm tiết. Bài thơ Sijo có một bố cục tương tự như các
thể thơ Trung Quốc: khởi đầu, trình bày, chuyển tiếp và kết luận.
Dòng 1: khởi đầu, nêu ra vấn đề, tương ứng với “khai”
Dòng 2: trình bày, triển khai ý, tương ứng với “thừa”
Dòng 3: Nhịp 1 của dòng cuối tương ứng với chuyển tiếp “chuyển”, 3 nhịp còn
lại là kết luận “hợp”, một kết luận mạnh mẽ với sự ngạc nhiên (xoắn) ở, để giải quyết
các căng thẳng hoặc câu hỏi được nêu ra ở những dòng khác và đó là một kết thúc đáng
nhớ. Tiết nhịp đầu tiên gộp ý tưởng của cả bài thơ lại rồi sang tiết nhịp thứ hai,
đẩy ý thơ lên thành cao trào, sau đó hạ dần cug bậc. ở dòng thơ cuối này, ý tưởng
của thơ được hoàn tất một cách chặt chẽ.
THÂN NÀY NẾU CHẾT
(Seong Sang Mun)
이 몸이 죽어 가서 무엇이 될고 하니
봉래산 제일봉에 낙락장송 되었다가
백설이 만건곤할 제 독야청청 하리라.
khác một cách cởi mở hơn.
Núi Lam là tim tôi
nước xanh là tình người
Núi Lam nào biến đổi
nước xanh thì cứ trôi
Vẫn còn thương nhớ núi
nên nước lại quy hồi
(Nhật Chiêu dịch)
Hình tượng thiên nhiên không chỉ được sử dụng như là phép ẩn dụ cảm xúc của
người nói mà chính bản thân thiên nhiên còn được nhân cách hoá và ngụ ý để xây dựng
nên nhiều tầng nghĩa, từ loại biểu tượng này nổi lên một cảm xúc nhất quán.
Ở đây phép ẩn dụ còn pha tính triết lý và cả ngụ ý tôn giáo.
Một tính năng quan trọng ở đầu dòng cuối cùng là sự biến đổi: là một bất ngờ về ý
nghĩa, âm thanh, giai điệu hay kỹ thuật khác. Nó có thể được chủ quan và cá nhân, và
nó thường xuyên biến đổi sâu sắc, dí dỏm hoặc phương ngôn.
Từ thế kỷ 18, có một khuynh hướng thay đổi thể thơ Sijo theo hình thức dài hơn,
nhưng chỉ làm thay đổi chiều dài của một câu , chiều dài một bài thơ 3 câu vẫn không
thay đổi. Có hai hình thức: sijo dạng trung và sijo dạng dài (sijo cũ được gọi là sijo
ngắn). Sijo trung có sáu nhịp trong một câu, còn Sijo dài thì có tám nhịp trong một câu.
Mặc dù có vẻ đơn giản, loại thơ này vẫn đạt được những hiệu quả thẩm mỹ trọn
vẹn. Có lẽ chính vì thế mà sijo được cả giới bình dân lẫn giai cấp yangban ưa thích.
Với một mức độ nhất định, sijo cũng có chút ảnh hưởng của thơ ca phương Tây,
nhưng chỉ là ảnh hưởng về nội dung nhưng bố cục, cấu trúc câu thơ vẫn tuân theo một
cấu trúc cổ điển, mang nét riêng biệt mà lịch sử để lại.
Trong vườn hoa muôn màu, bướm trắng
Bao giờ cũng bay từng đôi.
Bên bờ sông thùy dương im lặng
Bao giờ cũng đứng từng đôi.
Trên đời này trừ tôi ra, tất cả
Bao giờ cũng sống từng đôi.
Sijo phong cách soeul và Gyeonggi (gyeonggi sijo) từ vùng trung tâm và sijo
phong cách địa phương (hyangjje sijo) từ những miền khác. Phần sau có thể được chia
thành “wanjje sijo” từ tỉnh Jeolla, “yeongjje sijo” từ tỉnh Gyeongsang và “naepojje
sijo” từ tỉnh Chungcheong. Những bài Sijo từ vùng trung tâm có loại phát âm được
phát triển khá sớm nên nó cũng có một chuỗi biến tấu rộng lớn. trong khi đó, những bài
sijo địa phương khác thì bao gồm hầu như là loại sijo kể chuyện và đều đặn.
MỘT SỐ BÀI THƠ SIJÔ
Tình yêu tôi là dòng sông
như nước hoài trôi vô tận
Tình tôi bao la che phủ
Chín mươi dặm cõi hồng trần
Em ơi tình tôi trao em
sẽ chẳng bao giờ khô cạn
(Khuyết danh)
Tôi gom hết tình tôi
cuộn đầy vào bọc lớn
Quàng lên lưng chú ngựa
căng sức trai tung hoành
Tuấn mã ơi chạy nhanh
đến người tôi yêu dấu
(Khuyết danh)
Có lẽ tôi bỏ cuộc thôi
bởi nhớ em mà chẳng thấy
Sự mềm yếu của tôi ơi
đớn đau làm tan tâm huyết
Người yêu tôi ơi có biết
nỗi niềm giăng kín trong tôi?
Yi Ineng (1832 - 1895)
Tên tuổi của các nhà thơ: Lý Hoảng/ Yo Hwang (1501-1570), Lý Nhĩ/ Yi I
(1536-1584), Phác Nhân Lão/ Pak Il-lo (1561-1643), Thân Khâm/ Sin Hum (1566-
thiện và phát triển cho mình, để lưu truyền lại những án thơ trữ tình bất hủ, mãi mãi đi
vào lòng dân tộc hôm nay và cả mai sau.
Theo dấu vết những tài liệu còn lưu truyền lại, vào giai đoạn sụp đổ của đế chế Koryo,
thơ văn lại rất hưng thịnh ở triều đình nhà Lee. Tất cả những hình thức thơ từ các khúc
nhạc đồng quê đến các bài thơ ca ngợi lòng trung thành yêu nước, tất cả đều khác so
với sijo về những bố cục ngữ pháp, nhưng lại đều giống nhau ở một điểm: tư tưởng
Nho giáo. Từ đây có một thực tế lịch sử là những bài sijo thường do các Nho sĩ có
chức sắc sáng tác nên, phục vụ trực tiếp cho tầng lớp trên. Như vậy không thể biểu
hiện hết toàn bộ sắc thái các tình cảm trong xã hội. Đó là một khuynh hướng sijo của
tầng lớp trên phản ánh tư tưởng Nho giáo, tuy nhiên cũng có một số thi sĩ tự nhiên diễn
tả cảm xúc của chính mình qua một số bài sijo không thể mang tư tưởng Nho giáo.
THÂN NÀY DÙ CÓ CHẾT
[1]
(Jeong Mong Ju)
이 몸 이 죽 고 죽 어 일 백 번 고 쳐 죽 어
백 골 이 진 토 되 어 넋 이 라 도 있 고 없 고
님 향한 일편 단심이야 가실 줄이 있으랴
Dịch theo tiếng Hàn hiện đại
이 몸 이 죽 고 또 죽 어 , 백 번 을 다 시 태 어 났 다 가 다 시 죽 어 서
흙에 묻힌 흰 뼈가 한줌 흙이 되고 먼지가 되어 없어지고, 혼백이 남아 있건 없건
간 에 ,
임금님께 바치는 한 조각 붉은 마음이야 어찌 변할 리가 있겠는가
(http://blog.naver.com/PostView.nhn?blogId=wingjind&logNo=90103560652)
DỊCH NGHĨA
Thân thể này dù có chết và chết đến trăm lần
Dù xương trắng hóa thành cát bụi, dù linh hồn còn hay không
Vẫn chân thành hướng về người, người ở phương nao.
( Thân xác chết đi sống lại rồi chết đi đến trăm lần)
Và xin một lòng hướng về người dẫu người có ở nơi nao. Vì cấu trúc 으랴 trong tiếng
Hàn được dùng để hỏi ý kiến người nghe về việc mình làm cho người nghe.
cái đạo của vũ trụ qua sự tu tâm dưỡng tính chính là tự nhiên sông hồ. Bởi vì họ cho
rằng có thể thực thể của lý thống trị vũ trụ trong tính bất biến của tự nhiên. Khuynh
hướng này có thể gọi là “sự phát hiện vẻ đẹp của thiên nhiên”.
Đến thế kỷ XVI thiên nhiên được thể hiện trong sijô được cách ly với hiện thực
chính trị hỗn tạp và được tạo thành bởi nhận thức theo đuổi chân lý mang tính học vấn
của sự bất biến. Tất nhiên là đằng sau cái lý của sự tách biệt hoàn toàn giữa tự nhiên và
hiện thực,nó đã phản ánh ý thức của phái Sĩ lâm đấu tranh với phái công huân và quyết
giành lại vị thế của mình. Trong cuộc đấu tranh chính trị với phái Công Huân, sau khi
thất bại nơi phái sĩ lâm trở về chỉ có thể là thiên nhiên sông hồ và ở đó, họ đã sống với
lòng tự hào về tu dưỡng học vấn và nghiên cứu chân lý của lý học.
Dòng chảy của những bài ca về sông hồ sau đó cứ thế liên tục phát triển, nhưng đến
khoảng cuối thế kỷ XVI, ý nghĩa nội tại của nó bị biến đổi đôi chút. Bài Cao Sơn cửu
khúc ca của Lý Nhĩ hoặc những bài của Thân Khâm viết về hứng thú nổi bật hơn là
mang tính chất đạo học nghiêm túc. Nói cách khác, mức độ nghiêm túc mang tính thẩm
mỹ ngày càng lớn hơn, nổi bật hơn so với sắc thái mang tính triết học.
5. Các tác gia tiêu biểu:
Thơ Sijo được viết vào khoảng cuối thời Koryo (Cao Ly) và đầu thời Yi (Lý)
thường là những tác phẩm ứng tác. Chúng vừa mang nội dung hồi tưởng quá khứ lại
vừa là văn chương tán tụng: mảng hồi tưởng quá khứ được viết bởi các cựu thần thời
Cao Ly và mảng văn chương tán tụng ra đời do các chủ đề đáng ca ngợi của thời đại
vua mới về sự vĩ đại của những công trình hoàng gia. Những biến động chính trị còn là
nguồn cảm hứng khiến các nhà thơ tiếc than về sự hỗn loạn, mất trật tự của xứ sở, đồng
thời họ còn bộc lộ những cảm hứng chủ đạo và các phong cách đa dạng của mình. Có
khi thì một vị tướng ca hát về những chiến thắng của quân đội ông đối với tộc người
Jurchen (Nữ Chân). Trong số các nhà thơ quân đội có Yi Sun-Sin (Lý Thuấn Thuần:
1545 - 1598), một đô đốc nổi tiếng về những chiến công làm đổi ngược thế trận trong
quá trình Nhật Bản xâm lược (1592 - 1598) đã để lại nhiều bài thơ Sijo đạt được giá trị
văn chương cao. Cũng có khi vua và các triều thần cùng ca hát về lòng trung nghĩa.
Cùng trong giai đoạn đó nhiều bài thơ châm biếm, đả kích chính trị, xã hội đã ra đời.
Chúng không thẳng thừng, thô mộc mà trau chuốt và tao nhã rất đáng gọi là thơ.
chọn lựa trong cái nhìn tương quan và đa nghĩa. Hình
tượng thiên nhiên không chỉ được sử dụng như là
phép ẩn dụ cảm xúc của người nói mà chính bản thân thiên nhiên còn được nhân cách
hoá và ngụ ý để xây dựng nên nhiều tầng nghĩa, từ loại biểu tượng này nổi lên một cảm
xúc nhất quán.
Núi Lam là tim tôi
nước xanh là tình người
Núi Lam nào biến đổi
nước xanh thì cứ trôi
Vẫn còn thương nhớ núi
nên nước lại quy hồi
Ở đây phép ẩn dụ còn pha tính triết lý và cả ngụ ý tôn giáo. Sự cảm nhận và khả năng
trực giác của Hoàng Chân Y trong các đề tài lớn về sự biến đổi cùng mối quan hệ giữa
cái siêu nghiệm và cái cố hữu được bộc lộ ra trong những ảnh quan đầy gợi cảm. Nghệ
thuật thơ ca của nàng ở đây gần như tương quan với các nhà thơ siêu hình Anh quốc.
Thơ của nàng đặc trưng bởi sự dồi dào của biểu tượng, sự cân đối của nhịp điệu và sự
hài hoà của ngôn từ. Cuối cùng là sự triển khai hoàn hảo và bậc thầy về các loại đề tài.
Sự hoàn hảo của thơ Sijo đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ 17 và 18. Các nhà thơ bác học lại
một lần nữa lại đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá thể thơ này đến gần với
công chúng. Khi các học giả tham dự vào, thơ của họ vừa “lãng mạn” lại mang đầy
tính triết lý. Họ nghỉ ngơi dưới những khóm trúc, cảm nhận được sự hài hoà tuyệt vời
của thế giới và sự huyền bí của tạo vật. Các đề tài của họ thường mang tính truyền
thống, họ lặp lại những lối thức và những chủ đề quen thuộc: câu cá dưới trăng, “đi cày
giữa mây” thưởng ngoạn sự gợi cảm của thiên nhiên, ca tụng rượu, niềm hoan lạc của
ái tình, nỗi buồn li biệt, than thở niềm quạnh hiu, cái đẹp của tình bạn, sự đáng sợ của
cái chết, sự bình dị của đời sống thôn dã, sự phù ảo của cuộc đời và những điều tương
tự. Đôi khi họ còn lấy thi hứng từ những nhà thơ Trung Quốc như Đào Tiềm (365 -
427), Lý Bạch (701-762), Đỗ Phủ (713-770) và những nhà thơ đời Tống. Các đề tài
này có lẽ đều mang tính ước lệ nhưng cách làm và thủ pháp lại khác nhau tuỳ thuộc
vào mỗi nhà thơ.
GIÓ TRÊN XUÂN SƠN
1
(Woo Thaec)
1
Là một từ sử dụng nhiều trong sijo. Nó không mang một nghĩa nhất định, không
có nghĩa thường được thêm vào như một cách để tạo câu hỏi tu từ.
và : , : chốc lát
sương giá
già cỗi
DỊCH NGHĨA
Ngọn gió đùa giỡn làm tuyết tan trên núi xuân, không có nơi để đi
Tôi thầm cầu xin và mong rằng ngọn gió hãy thổi lên mái đầu của ta đi
Và ngọn gió sẽ thổi mái đầu bạc trắng từ lâu của tôi thành màu đen
( ngọn gió sẽ thổi tan sương giá già cỗi trên đầu tôi)
DỊCH THƠ
Trên xuân sơn gió đùa thổi tuyết,
Tuyết tan rồi chẳng biết về đâu
Này gió ơi ta khẽ khẩn cầu,
Ngang qua đầu thổi tung tóc rối
Rồi từ lâu tóc này trắng xóa,
Đợi gió về sẽ hóa thanh tân!
Trên xuân sơn, gió thổi tuyết
Tuyết tan rồi gió biết về nơi nao.
Bất giác ta xin nguyện cầu
Gió hãy thổi lên mái đầu của ta
Cho mái đầu bạc hóa trẻ
Như sương giá cũng tan theo gió lùa.
lần
2. -
3. () - . .
4. () - .
5. - . . Thay đổi, biến chuyển.
Câu này trong một đọan thơ hiện đại dịch là “xin một lòng hướng về người dẫu có biến
chuyển thể nào đi nữa” sử dụng câu hỏi tu từ để khẳng định tấm lòng sắt son không
thay đổi.
DỊCH NGHĨA
Thân thể này dù có chết và chết đến trăm lần
Dù xương trắng hóa thành cát bụi, dù linh hồn còn hay không
Vẫn chân thành hướng về người, người ở phương nao.
2
( Thân xác chết đi sống lại rồi chết đi đến trăm lần)
Và xin một lòng hướng về người dẫu người có ở nơi nao. Vì cấu trúc trong tiếng
Hàn được dùng để hỏi ý kiến người nghe về việc mình làm cho người nghe.
DỊCH THƠ
Thân này dù có chết
Chết, chết đến trăm lần
Dù xương dần hóa bụi
Dù linh hồn biến tan
Vẫn nồng nàn tha thiết
Hướng về người biết chăng ?
Cảm nhận:
Tác giả sử dụng một số yếu tố của đạo Phật như khái niệm linh hồn, chết đi
sống lại cả trăm lần… những yếu tố này thêm thắt vào trong bài tạo có tác dụng nhấn
mạnh dù có thay đổi lớn lao đến đâu đi nữa dù sống dù chết, thậm chí khi chết rồi linh
hồn có bị tiêu tan hay không vẫn một lòng giữ đạo trung quân. Bài thơ đã sử dụng yếu
tố phật giáo để thể hiện tinh thần “trung quân” của Nho giáo.
Một mình ta lỡ bước
Đơn độc trước hoàng hôn
Trong thơ văn cũng như văn hóa Hàn Quốc cũng như phương Đông thường
mang nặng yếu tố con người hòa hợp cùng thiên nhiên, là thực thể nhỏ bé trong vũ trụ
bao la rộng lớn. Bài thơ như vẽ nên một bức tranh thư pháp đẹp đẽ vể cảnh sắc thiên
nhiên mùa xuân sau khi trút bỏ những băng tuyết giá lạnh của mùa xuân. Trước cảnh
đẹp thiên nhiên rộng lớn như vậy con người trở nên bơ vơ, bé nhỏ không biết đi dâu về
3
đâu để tìm tấm lòng quân tử đồng điệu với mình. Bài thơ sử dụng hình ảnh hoa mai –
hình ảnh ước lệ quen thuộc trong văn học phương đông để chỉ người quân tử. Hoa mai
tương truyền là loài hoa ’kiên nhẫn trước lạnh giá của đất trời và lặng thầm lưu giữ tinh
hoa đất trời kiên cường nở trong giá buốt khiến người quân tử phải ‘Đạp tuyết ‘ để
‘tầm mai’./.
MỘT SỐ BÀI THƠ
NƯỚC CHẢY THĂNG TRẦM
4
(Won Cheon Seok)
DỊCH NGHĨA
Nước chảy thăng trầm dù là vạn năm
Vương nghiệp năm trăm năm trải qua bao chìm nổi
Trong bóng hoàng hôn, người khách vừa đi vừa cố kìm nước mắt.
DỊCH THƠ
Nước cứ thăng trầm chảy
Dù có đến vạn niên
Vương nghiệp năm trăm năm
Biến thiên bao chìm nổi
Hoàng hôn buông ngập lối