Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định các dự án đầu tư vào lĩnh vực BĐS tại NHNo &PTNT chi nhánh Hà Nội - Pdf 12

Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, chúng ta đã tham
gia hội nhập nền kinh tế thế giới trong nhiều lĩnh vực. Trong đó không thể không nhắc đến vai
trò của hệ thống các ngân hàng thương mại với tư cách là nhà tài trợ lớn của các dự án đầu tư
đặc biệt là các dự án trung và dài hạn. Trong bối cảnh khả năng về vốn tự có của các doanh
nghiệp rất hạn chế, việc huy động vốn của doanh nghiệp qua các kênh như: phát hành cổ phiếu
và trái phiếu cũng vẫn khó khăn, thị trường chứng khoán nước ta vẫn còn ở thời kỳ sơ khai, thì
vai trò của các Ngân hàng thương mại càng trở nên đặc biệt quan trọng.
Do vậy, với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của nền kinh tế, để phù hợp với xu
hướng các hoạt động của Ngân Hàng nhằm bổ sung đủ vốn cho các doanh nghiệp hoạt động sản
xuất kinh doanh phát triển, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam chú trọng đẩy mạnh hoạt
động tín dụng trung dài hạn cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bên cạnh hoạt
động ngắn hạn truyền thống.
Tuy nhiên, cũng như các hoạt động kinh doanh khác hoạt động tín dụng luôn chứa đựng
nhiều rủi ro. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân
Hàng. Đặc biệt để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước số lượng các dự án đầu tư ngày càng nhiều. Muốn vậy, các dự án này phải
đảm bảo chất lượng, tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư trong đó có lập, thẩm định và
phê duyệt dự án đầu tư. Chính vì vậy, vai trò to lớn của công tác thẩm định tín dụng dự án đầu
tư là không thể phủ nhận.
Hơn nữa, một yêu cầu có tính nguyên tắc đối với Ngân hàng trong hoạt động tín dụng là
phải xem xét, lựa chọn những dự án đầu tư thực sự có hiệu quả vừa đảm bảo khả năng trả nợ cả
gốc lẫn lãi mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế, vừa phải đảm bảo lợi nhuận
Ngân hàng, đồng thời hạn chế thấp nhất rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Công
tác thẩm định dự án đầu tư là công cụ đắc lực giúp cho Ngân Hàng thực hiện yêu cầu này.
Với ý nghĩa đó việc thẩm định dự án đầu tư góp phần cực kỳ quan trọng đối với sự thành
bại trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Trong đó thẩm định các dự án bất động sản hiện
nay là một trong những dự án trung và dài hạn được đặc biệt chú trọng khi nước ta đang trong
giai đoạn đô thị hóa, các dự án bất động sản theo đó cũng tăng lên.
Vì tính cấp bách, tầm quan trọng của công tác thẩm định dự án bất động sản hiện nay em

10. UBND: ủy ban nhân dân
11. HĐTC: hoạt động tài chính
12. HĐKD: hoạt động kinh doanh
13. TSLĐ: tài sản lưu động
14. TSCĐ: tài sản cố định
15. XDCB: xây dựng cơ bản
16. TSLN: tỷ suất lợi nhuận
17. TSĐB: tài sản đảm bảo
18. ĐKKD: đăng ký kinh doanh
19. KDNH: kinh doanh ngoại hối
20. KTNQ: kế toán ngân quỹ
21. HCNS: hành chính nhân sự
22. KTKSNB: kế toán, kiểm soát nội bộ
23. KHTH: kế hoạch tổng hợp
24. HĐQT: Hội đồng quản trị
25.VCSH: vốn chủ sở hữus
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CÁC
DỰ ÁN VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH HÀ NỘI
I. Giới thiệu khái quát về Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn
1. Quá trình hình thành và phát triển NHNo & PTNT Việt Nam
Năm 1988: Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định
số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các
ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà
Nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà Nước huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết

ADB, AFD,…. Đánh giá cao. Kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế liên tục phát triển mạnh,
doanh số thanh toán quốc tế đạt 10.7 tỷ USD, doanh số kinh doanh ngoại tệ đạt 26.1 tỷ USD.
Nhiều đại sứ lãnh đạo cấp cao của các ngân hàng lớn trên thế giới, các tổ chức phi chính phủ
đến thăm và làm việc, ký kết hợp tác với NHNo&PTNT.
Xác định trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội NHNo&PTNT làm tốt công tác từ thiện
như: Xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo, ủng hộ đồng bào gặp thiên tai, lũ lụt,
tài trợ các chương trình từ thiện, xây dựng nhà tình nghĩa, nuôi dưỡng bà mẹ Việt Nam anh
hùng;…..Đến cuối năm 2008, tổng quỹ đóng góp từ thiện xã hội của các cán bộ toàn hệ thống
lên tới 95 tỷ đồng.
Năm 2008, NHNo&PTNT đã được chính phủ tặng Bằng khen về những thành tích trong
việc thực hiện kìm chế lạm phát và nhiều phần thưởng cao quý, lọt vào top 10 thương hiệu Việt
Nam uy tín nhất của giải Sao Vàng Đất Việt, Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu, top 5 Ngân Hàng
giao dịch tiện ích nhất là thương hiệu nổi tiếng theo tín nhiệm của người tiêu dùng, doanh
nghiệp bền vững trong thời kỳ hội nhập.
NHNo&PTNT là một trong số ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý lớn nhất Việt Nam
với trên 979 ngân hàng đại lý tại 113 quốc gia và vùng lãnh thổ tính đến tháng 2/2007. Là thành
viên Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA), Hiệp
hội Tín dụng Nông nghiệp Quốc tế (CICA) và Hiệp hội Ngân hàng Châu Á (ABA); đã đăng cai
tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lớn như Hội nghị FAO năm 1991, Hội nghị APRACA năm 1996
và năm 2004, Hội nghị tín dụng nông nghiệp quốc tế CICA năm 2001, Hội nghị APRACA về
thuỷ sản năm 2002.
NHNo&PTNT đang sung sức và tràn đầy niềm tin vững bước trên con đường phát triển
và hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Quá trình hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Hà Nội
NHNo&PTNT Hà Nội là một đơn vị trực thuộc NHNo& PTNT Việt nam, trong số các
chi nhánh đầu tiên được áp dụng khoa học công nghệ mới, đi tiên phong trong quá trình phát
triển kinh tế đô thị nói riêng, kinh tế đất nước và hội nhập kinh tế thế giới nói chung.
Tên giao dịch: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội.
Tên giao dịch quốc tế: Hanoi Bank for Agriculture and Rural development
Trụ sở chính: 77 Lạc Trung, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

NHNo&PTNT Hà Nội đã mở thêm các chi nhánh như:
Năm 1994 thành lập ngân hàng khu vực chợ Hôm (nay là NHNo&PTNT chi nhánh Hai
Bà Trưng).
Năm 1995 thành lập ngân hàng khu vực Đồng Xuân (nay là NHNo&PTNT chi nhánh
Hoàn Kiếm). Ngoài ra, do thực hiện mô hình hai cấp từ tháng 10/1995 nên NHNo & PTNT Hà
Nội đã bàn giao 5 Ngân hàng Sóc Sơn, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm về ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Năm 1996 thành lập các ngân hàng quận Tây Hồ, Ba Đình, Thanh Xuân.
Năm 1997 thành lập ngân hàng quận Cầu Giấy.
Năm 2000 thành lập ngân hàng quận Đống Đa và khu vực Tam Trinh.
Năm 2001 thành lập 10 phòng giao dịch.
Năm 2002 thành lập 2 ngân hàng Chương Dương và Tràng Tiền và 11 phòng giao dịch
đưa số phòng giao dịch huy động vốn và dịch vụ ngân hàng của NHNo&PTNT Hà Nội lên
thành 33 phòng giao dịch.
Từ tháng 11 năm 2004 đến nay tiếp tục bàn giao các chi nhánh Chương Dương và Tây
Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân về Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, lúc này NHNo&PTNT Hà
Nội lại đứng trước một thử thách mới đó là mang tên Ngân Hàng Nông Nghiệp nhưng lại phục
vụ các thành nghiệp kinh tế không mang dáng dấp cả sản xuất nông nghiệp giữa nội đô Thành
phố Hà Nội.
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
Để đứng vững, tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường NHNo&PTNT Hà Nội đã chủ
động mở rộng mạng lưới để huy động vốn và đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của các thành phần
kinh tế trên địa bàn nội thành.
Sau 21 năm phấn đấu, xây dựng và từng bước trưởng thành, NHNo&PTNT Hà Nội đã đi
những bước vững chắc với sự phát triển toàn diện trên các mặt huy động nguồn vốn, tăng
trưởng đầu tư và nâng cao chất lượng tín dụng, thu chi tiền mặt, mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, phát triển đa dạng hoá dịch vụ đặc biệt chi trả lương ngân sách qua thẻ ATM và các hoạt
động khác.
Bên cạnh việc tích cực tìm mọi giải pháp để huy động vốn nhất là tiền gửi từ dân cư và

Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Ban nữ công.... vừa mở rộng hoạt động kinh doanh,
cán bộ viên chức NHNo&PTNT Hà Nội đã tích cực hưởng ứng các công tác xã hội như: ủng hộ
đồng bào bị thiên tai, bão lụt, ủng hộ người nghèo, xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, tổ chức
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
thăm hỏi và tặng quà các gia đình thương binh, liệt sỹ với trên 300 triệu, nuôi dưỡng một Bà mẹ
Việt Nam anh hùng, ủng hộ xây nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách với 152 triệu
đồng....
Với những cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế Thủ đô cũng như với
sự phát triển của ngành Ngân Hàng, từ ngày thành lập đến nay Đảng Bộ NHNo&PTNT Hà Nội
luôn đạt danh hiệu Đảng Bộ trong sạch vững mạnh, được Nhà Nước tặng thưởng 1 Huân
chương Lao động hạng Ba, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 2 Bằng khen của Thủ tướng
Chính Phủ, 37 Bằng khen của Thống đốc NHNN Việt Nam, 33 bằng khen của Chủ tịch UBND
Thành Phố Hà Nội, 39 Chiến sỹ thi đua, 1266 lượt lao động giỏi cấp cơ sở.
Phát huy truyền thống 21 năm xây dựng và trưởng thành, trước yêu cầu đổi mới của nền
kinh tế trong quá trình hội nhập, NHNo&PTNT Hà Nội sẽ phát huy những thành quả và bài học
kinh nghiệm bước đầu trong quản lý điều hành kinh doanh đồng thời được sự giúp đỡ của các
cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực, đoàn kết phấn đấu của tập thể cán bộ, viên chức
NHNo&PTNT Hà Nội sẽ phát triển bền vững và giành được nhiều thành tích to lớn hơn nữa.
3. Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của NHNo & PTNT Chi Nhánh Hà Nội.
3.1. Chức năng và nhiệm vụ của NHNo & PTNT Chi Nhánh Hà Nội.
3.1.1. Chức năng
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Chi Nhánh Hà Nội phải tuân thủ quyết
định số 3169/QĐ- NHNN ngày 22 tháng 12 năm 2008 của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước về
chức năng cơ cấu quyền hạn Ngân Hàng Nhà Nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
Ương.
Chi Nhánh Ngân Hàng là đơn vị kế toán trực thuộc, có con dấu và bảng cân đối tài khoản
theo quy định của pháp luật. Cũng như các Ngân Hàng khác Ngân Hàng Nông Nghiệp Chi
Nhánh Hà Nội luôn coi trọng nhiệm vụ chú trọng chất lượng tín dụng và nguồn lực.
Hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng luôn cố gắng hết sức đáp ứng nhu cầu vốn tín

b. Mô hình tổ chức
Mặc dù NHNo&PTNT Hà Nội là một trong những đơn vị trực thuộc NHNo & PTNT
Việt Nam, hoạt động theo mô hình tổng công ty 90 nhưng có tư cách pháp nhân riêng, thời hạn
hoạt động là 99 năm, chịu điều chỉnh bởi luật các tổ chức tín dụng, có quyền tự chủ về tài chính,
tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh.
Về cơ cấu tổ chức, NHNo&PTNT Hà Nội gồm ban giám đốc, 8 phòng ban và 17 phòng
giao dịch trực thuộc với nguyên tắc hoạt động là giám đốc điều hành hoạt động của toàn chi
nhánh, trợ giúp cho giám đốc là các phó giám đốc. Điều hành hoạt động của các phòng ban là
trưởng phòng và các phó phòng.
Về trình độ chuyên môn của các nhân sự trong ngân hàng: tiến sỹ, thạc sỹ chiếm 0,5%;
đại học, cao đẳng chiếm 31%; trung học chiếm 47%; chứng chỉ: 8,5%; sơ cấp: 13%.
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
Sơ đồ 01. Sơ đồ tổ chức chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội
(Nguồn: Phòng hành chính nhân sự NHNo&PTNT Hà Nội)
4. Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
4.1. Hoạt động huy động vốn
Để thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh trong ngân hàng, bất cứ ngân hàng nào cũng
phải làm tốt công tác huy động vốn. Hoạt động trên địa bàn được coi là phát triển mạnh về kinh
tế, NHNo&PTNT Hà Nội đã tận dụng ưu thế, không ngừng mở rộng quan hệ với khách hàng
đồng thời không ngừng cải tiến các hình thức huy động vốn một cách linh hoạt theo xu hướng
thị trường, tích cực đổi mới phong cách phục vụ để khai thác hiệu quả mọi nguồn vốn trên địa
bàn. Ngân hàng có nhiều hình thức huy động vốn khác nhau song chủ yếu vẫn là nhận tiền gửi
của các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và dân cư.
Hiện nay hoạt động huy động vốn của NHNo&PTNT Hà Nội được chia ra làm 2 đối
tượng chính: loại hình khách hàng cá nhân, khách hàng Doanh Nghiệp. Hoạt động huy động vốn
thông qua dịch vụ tiền gửi có thể là VND hoặc ngoại tệ.
LớpKinh tế đầu tư 48B
Phó giám đốc 4
Sơ đồ tổ chức Chi Nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp

với năm 2008
+/- %
1.Tổng nguồn vốn 13.821 15.321 1.500 +10,85
14.487
-834 -5,44
2.Tiền gửi của dân cư 2.622 5.228 2606 +99,39 4.317 -911 -17,425
3.Tiền gửi của tổ
chức kinh tế + ký quỹ
5.155
6.064 909 17,63 4.129 -1.93
5
-31.9
4.Tiền gửi tổ chức tín
dụng
1.601
1.144 -457 -28,55 5.954 4810 + 420,0
5.Nguồn nội tệ 12.965 14.233 1.268 +9,78
12.925
-1308 - 9,19
6. Nguồn ngoại tệ 856 1.088 232 +27,1
1.572
484 + 44,485
(Nguồn: Báo cáo họat động kinh doanh NHNo&PTNT Hà Nội năm 2007-2009)
Biều đồ thể hiện tình hình huy động nguồn nội tệ và ngoại tệ
của Chi Nhánh NHNo&PTNT Hà Nội năm 2007-2009
0
2000
4000
6000
8000

trường giúp khách thuân tiện hơn trong hoạt động kinh doanh. Như việc chi trả lương qua tài
khoản cho trên 10 ngàn lao động tại 176 doanh nghiệp với doanh số gần 400 tỷ đồng mỗi năm.
Ký nhiệm chi cho khách hàng có tài khoản của NHNN & PTNT sang bất cứ Ngân Hàng
nào khác. Hiện nay NHNN & PTNT Hà Nội đã áp dụng loại hình này cho các khách hàng lớn
như Tổng công ty Bia, Công ty DV & TM HABECO, Công ty CP cồn rượu Hà Nội, Công ty
TNHHMTV Rượu Hà nội, Trung tâm TTDĐ KVI, Thương mại Thuốc lá, Thuốc lá Thăng long,
Viettel.... Bằng hình thức này thì doanh nghiệp bán hàng nhanh chóng đối chiếu công nợ kịp
thời với sợ hỗ trợ kịp thời của Ngân Hàng. Năm 2009 NHNo & PTNT Hà Nội đã kết nối được
70 ngàn lượt mua hàng cho các doanh nghiệp với doanh số gần 5.000 tỷ đồng thông qua Uỷ
nhiệm chi.
Cuối năm 2009, để giảm bớt gánh nặng cho kho bạc Nhà Nước khi hàng tháng các Công
ty, doanh nghiệp đến nộp thuế. NHNo & PTNT Hà Nội đã thoả thuận với bên Kho bạc Nhà
Nước triển khai thu thuế qua Ngân Hàng, do vậy tiết kiệm được thời gian mà thực hiện giao
dịch lại đơn giản. Khách hàng có thể đến nộp thuế tại các điểm giao dịch của Ngân hàng, mang
lại sự thuận tiện cho khách hàng nên số lượng khách hàng đến nộp thuế tại ngân hàng ngày càng
tăng. Đối với những khách hàng đã có tài khoản tại ngân hàng thì có thể áp dụng chuyển khoản
trực tiếp đến tài khoản của Kho Bạc Nhà Nước.
Đối với khách hàng là cá nhân, NHNN & PTNT Hà Nội còn triển khai dịch vụ gửi rút
nhiều nơi, ATM vẫn phát hành với số lượng lớn hàng năm do sự tiện lợi trong sử dụng và có thể
rút ở nhiều nơi trên địa bàn toàn quốc.
Đạt được kết quả trên là do NHNN & PTNT Hà Nội đã thực hiện áp dụng các hình thức
huy động vốn với nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích đối với khách hàng gửi tiền như huy động tiết
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng,… với nhiều hình thức trả lãi hàng tháng, quý, năm, lãi
trước, lãi suất, linh hoạt, phù hợp với lãi suất và mặt bằng chung của các TCTD trên địa bàn,
đặc biệt là việc điều chỉnh lãi suất huy động vốn nội, ngoại tệ linh hoạt kịp thời đã góp phần
nâng cao chất lượng, số lượng huy động vốn từ các thành phần kinh tế và dân cư. Ngoài ra các
sản phẩm mới trên nền tảng áp dụng công nghệ cao cũng đem lại cơ hội cho sự đổi mới về nhận
thức và hành động của toàn thể cán bộ viên chức, nguồn vốn kinh doanh của NHNN & PTNT

LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
hẹp nguồn tín dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước từ 694 tỷ VNĐ năm 2007, giảm xuống
còn 659 tỷ VNĐ năm 2008, ngày càng mở rộng qui mô tín dụng đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh từ 1.745 tỷ VNĐ năm 2007 lên tới 2.481 tỷ VNĐ năm 2008.
Từ 2007 đến 2008, dư nợ ngắn hạn và trung hạn giảm dần qua các năm, dư nợ dài hạn
tăng dần qua các năm. Bên cạnh đó, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ tăng qua các năm phản ánh tốc
độ tăng trưởng tín dụng của chi nhánh bằng ngoại tệ cũng tương đối tốt. Dư nợ cho vay ngoại tệ
năm 2007 là 730 tỷ VNĐ, năm 2008 tăng 108 tỷ so với năm 2007 đạt 830 tỷ VNĐ, năm 2009
cho vay ngoại tệ cao đạt 1.267 tỷ đồng đạt 152,65 % so với năm 2008. Dư nợ ngoại tệ năm 2009
chiếm 27,3% tổng dư nợ. Điều này cho thấy hoạt động thanh toán bằng ngoại tệ đang có xu
hướng gia tăng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu trong nền kinh tế giữ quá nhiều ngoại tệ thì
cũng tác động không nhỏ đến tỷ giá so với đồng nội tệ và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Chính vì thế, Ngân Hàng thường phải xem xét các
món vay ngoại tệ một cách cẩn trọng và lựa chọn ra những khách hàng là những người có uy tín
nhất để đảm bảo tỷ lệ nợ xấu thấp, đem lại hiệu quả cho cả đôi bên cả Ngân Hàng và khách
hàng.
Còn đối với dư nợ cho vay nội tệ tăng từ 2.007 tỷ VNĐ năm 2007 đến 2.600 tỷ VNĐ
năm 2008 và đạt 3.379 tỷ năm 2009 chiếm 72,7% tổng dư nợ. Tuy năm 2009 là năm nền kinh tế
thế giới nói chung cũng như nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên tổng dư nợ
của NHNN & PTNT Hà Nội vẫn đạt mức tăng cao so với 2 năm gần nhất là năm 2007 và 2008.
Điều này cho thấy, NHNN & PTNT vẫn luôn đứng vững kể cả khi nền kinh tế gặp nhiều biến
động. Lý do này khiến khách hàng của Ngân Hàng luôn đặt niềm tin vào NHNN & PTNT Hà
Nội và kết quả là hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng luôn đạt hiệu quả cao với số liệu
được cung cấp ở trên.
Tuy tỷ trọng dư nợ cho vay so với tổng nguồn vốn của ngân hàng đã có sự cải thiện đáng
kể nhưng và tỷ trọng này còn khá nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng của chi nhánh: năm 2007
là 19,8 % (2.737/13.821), năm 2008 là 22,4% (3.438/15.321), năm 2009 là 32,07% (4.464/
14.487).
Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng nguồn vốn thấp có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn

hạn đạt 2.215 tỷ đồng chiếm 62 % tổng dư nợ.
Trong năm 2008 mặc dù hệ thống ngân hàng đang gặp khó khăn về vốn đầu tư tín dụng,
song chi nhánh đã luôn có đủ nguồn vốn đáp ứng mọi nhu cầu tín dụng. Chi nhánh tập trung đầu
tư cho các thành phần kinh tế sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Mặt khác, theo báo cáo kinh doanh năm 2009 thì chất lượng tín dụng đã được nâng lên tỷ
lệ nợ xấu dưới 3 %.
Do đã lựa chọn những doanh nghiệp có uy tín, những dự án có hiệu quả và cũng được sự
hợp tác quản lý chặt chẽ của khách hàng nên chất lượng tín dụng của NHNo & PTNT Hà Nội
được nâng cao, nợ xấu đạt dưới 3%, đồng vốn của ngân hàng đã được các doanh nghiệp phát
huy hiệu quả đảm bảo trả nợ tốt cho ngân hàng.
4.3. Hoạt động khác
4.3.1. Phát hành thẻ:
Theo báo cáo năm 2008, có trên 60.000 tài khoản cá nhân có số dư trên 150 tỷ VNĐ.
Trong đó, có 41.500 thẻ ghi nợ với số dư gần 100 tỷ đồng, doanh số hoạt động trên 50 tỷ với
trên 350.000 món. Đối với thẻ tín dụng quốc tế ngân hàng đã phát hàng 380 thẻ.
Cho đến nay NHNo & PTNT Hà Nội đã phát hành được gần 67 ngàn thẻ bao gồm cả thẻ
ghi nợ và thẻ Quốc tế với doanh số hoạt động cao.
4.3.2 Dịch vụ bảo lãnh:
Tính đến hết 31.12.2009 thì dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đạt được trên 1000 tỷ VNĐ với
các hình thức bảo lãnh trong và ngoài nước như: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
toán; Bảo lãnh hoàn ứng; Bảo lãnh đối ứng; Bảo lãnh bảo hành; Phát hành cam kết cấp tín
dụng,....
Bằng những kinh nghiệm cùng với uy tín lâu năm trong hoạt động kinh doanh NHNo &
PTNT Hà Nội đã tư vấn cho khách hàng áp dụng đa dạng các hình thức bảo lãnh cùng khách
hàng quản lý dòng tiền, nhằm an toàn trong việc phát hành bảo lãnh do vậy đã giảm thiểu những
rủi ro và tranh chấp trong giao dịch hợp đồng, tăng cường khả năng và cơ hội kinh doanh cho
DN.
4.3.3 Hoạt động ngoại hối

Chi nhánh đã tổ chức tốt công tác ngân quỹ, cố gắng tăng cường độ lao động, kiểm đếm,
chọn lọc, hạch toán ngay đảm bảo quyền lợi của khách hàng. Ngân hàng vừa đảm bảo cung ứng
đầy đủ, kịp thời tiền mặt với các thành phần kinh tế và dân cư, vừa mở rộng được diện thu tiền
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
mặt tại chỗ cho một số doanh nghiệp, cung ứng kịp thời chính xác các nhu cầu thu chi tiền mặt
của các tổ chức kinh tế, xã hội và các doanh nghiệp, các chi nhánh kho bạc, bảo hiểm xã hội,
công ty thuốc lá, bia, rượu…
Theo báo cáo tổng kết năm 2008 tổng thu tiền mặt đạt trên 30 ngàn tỷ đồng tăng trên
7.000 tỷ đồng, tổng chi tiền mặt đạt gần 30.000 tỷ đồng, tăng gần 7.000 tỷ đồng so với năm
2007. Năm 2009 là một năm bội thu tiền mặt của NHNo & PTNT Hà Nội, bình quân hàng ngày
thu, chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng với số lượng lớn từ 35 đến 40 tỷ VNĐ, từ 80 đến 120 nghìn
USD, thu 25.860 tỷ, chi 25.862 tỷ.
Trong năm cán bộ ngân quỹ của toàn chi nhánh đã nêu nhiều tấm gương liêm khiết trả
gần 50 món tiền thừa cho khách hàng với trên 117 triệu đồng, có món gần 50 triệu và phát hiện
được trên 44 triệu tiền giả, được khách hàng gửi thư khen ngợi tiêu biểu như Chị Hoàng Bạch
Vân, Đỗ Thị Hường…
Với khối lượng thu chi tiền mặt lớn, song NHNo & PTNT Hà Nội luôn đảm bảo thực
hiện đúng quy trình thu chi tiền mặt, vận chuyển tiền trên đường đi, đảm bảo tốt công tác an
toàn ngân quỹ, tài sản của Ngân Hàng và khách hàng.
b. Công tác thanh toán
Đây là một trong những nghiệp vụ quan trọng trong công tác kế toán việc hạch toán
nhanh, chính xác và an toàn đã góp phần tăng nhanh tốc độ chu chuyển dòng vốn. Tuy khối
lượng vốn thanh toán lớn trong giao dịch của các thành phần kinh tế trên địa bàn và trên phạm vi
cả nước do vậy công tác thanh toán ngày càng phức tạp và khẩn trương hơn đặc biệt là thời
điểm cuối năm khi các doanh nghiệp bắt được hạch toán cuối năm, thực hiện nhiều giao dịch.
Nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động kinh doanh, quản lý tài chính của ngân hàng đối
với khách hàng NHNo & PTNT Hà Nội tiếp tục nâng cao chất lượng giao dịch tại Hội sở và
PGD trực thuộc khách hàng. Hiện nay, chứng từ thanh toán tại ngân hàng theo 3 hình thức thanh
toán chuyển tiền nội bộ, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán song phương.

xuyên và hết sức quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh nhất là công tác
tín dụng, an toàn kho quỹ, quản lý thẻ phiếu trắng trong giao dịch, an toàn tài sản hạn chế rủi ro
trong kinh doanh.
Công tác thi đua khen thưởng được phát động thường xuyên, đẩy mạnh vai trò công tác
đoàn thể Công đoàn, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Tự vệ, phát huy sáng kiến cải tiến nghiệp vụ,
động viên khen thưởng kịp thời tổ chức và cá nhân lao động xuất sắc, những gương người tốt
việc tốt.
Hoạt động của các đoàn thể quần chúng như Công đoàn, Thanh niên Phụ nữ, Dân quân
tự vệ được duy trì thường xuyên đã góp phần tích cực vào thành tích chung của cơ quan.
II. Khái quát công tác thẩm định các dự án vay vốn tại NHNo & PTNT Hà Nội
1. Những quy định chung của Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn đối với
hình thức cho vay vốn theo dự án
1.1 Quy định đối tượng cho vay
Khách hàng vay vốn của NHNo&PTNT Hà Nội bao gồm các pháp nhân và cá nhân Việt
Nam như: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại
Điều 94 Bộ Luật dân sự; Cá nhân; Hộ gia đình; Tổ hợp tác; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp
danh và các pháp nhân và cá nhân nước ngoài.
NHNo&PTNT sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh
doanh, các dự án đầu tư, tiêu dùng, phục vụ đời sống, xuất nhập khẩu, xuất khẩu lao động,… trừ
các đối tượng mà pháp luật cấm.
1.2. Nguyên tắc và điều kiện vay vốn
1.2.1. Đối với khách hàng là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:
NHNo&PTNT nơi cho vay xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện
sau:
a. Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự
theo quy định của pháp luật:
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
i) Pháp nhân: được công nhận là pháp nhân theo Điều 94 và Điều 96 Bộ Luật dân sự và các

hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi.
e. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính Phủ, NHNN
Việt Nam và hướng dẫn của NHNo&PTNT Việt Nam.
1.2.2. Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài
Khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự
và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc
cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật dân sự của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định.
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
1.3. Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay căn cứ vào:
- Chu kỳ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp xin vay vốn;
- Thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư là trong bao lâu;
- Tính toán khả năng trả nợ của khách hàng;
- Chính sách của Ngân Hàng Nhà Nước tại thời điểm doanh nghiệp xin vay vốn, chính sách
tiền tệ được nới lỏng hay thắt chặt, các dự án vay trung và dài hạn có bị hạn chế hay không.
Đối với các cá nhân người Việt Nam thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động theo
quy định thành lập hoặc giấy phép thành lập còn lại tại Việt Nam.
Đối với các cá nhân nước ngoài thời hạn vay không quá thời hạn được phép sinh sống và
hoạt động tại Việt Nam.
Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu
tư phát triển, NHNo&PTNT xem xét cho khách hàng vay theo các thể loại. Cho vay ngắn hạn là
các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng; Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời
hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng; Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho
vay từ trên 60 tháng trở lên.
Đối với cho vay cầm cố giấy tờ có giá: NHNo&PTNT Hà Nội và khách hàng thoả thuận
về thời hạn vay nhưng không vượt quá thời hạn thanh toán còn lại của giấy tờ có giá. Đối với cổ
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ (chứng khoán) đã niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán:

chứng khoán: Mức cho vay tối đa bằng 50 % trị giá tại thời điểm cho vay.
Đối với các loại giấy tờ có giá khác: Mức cho vay tối đa bằng số tiền gốc (mệnh giá),
cộng (+) với tiền lãi (được lĩnh nhưng chưa lĩnh) của giấy tờ có giá trừ (-) số lãi phải trả trong
thời gian vay.
1.5 . Lãi suất và phí cho vay
Lãi suất thực hiện theo quy định của NHNo & PTNT từng thời kỳ.
Lãi suất cho vay = lãi suất huy động 12 tháng trả lãi sau + 3,5 %.
Cuối năm 2009, lãi suất cho vay khoảng 12 %;
Năm 2010 lãi suất cho vay = 10,49 % +3,5 %
Hiện nay, ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện mức lãi suất thỏa thuận giữa
khách hàng và ngân hàng nhưng vẫn phải đảm bảo mức lãi suất cơ bản do Ngân Hàng Nhà
Nước quy định.
Phí cho vay: NHNo&PTNT Hà Nội thường không thu phí, chỉ với mức lãi suất quy định tại thời
điểm vay.
1.6. Phương thức trả nợ
Trả lãi hàng tháng và gốc trả vào cuối kỳ (nếu vay ngắn hạn) hoặc trả dần (gốc + lãi)
hàng tháng.
2. Số lượng các dự án vay vốn cho vay trung dài hạn được thẩm định tại Ngân Hàng
Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Hà Nội năm 2008-2009
2.1 Số lượng các dự án vay vốn trung dài hạn bằng nội tệ
Bảng 4. Số lượng dự án vay vốn trung và dài hạn bằng nội tệ năm 2008 - 2009
Đơn vị: Triệu VNĐ
STT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Số
lượng
Số tiền phê
duyệt cho vay
Số
lượng
Số tiền phê

người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, chất lượng cuộc sống của
người dân được nâng cao hơn.
Năm 2009:
Số lượng các dự án được phê duyệt cho vay năm 2009 có sự giảm sút có 32 dự án trong
khi năm 2008 có tổng cộng 35 dự án. Tuy vậy, tổng số tiền được phê duyệt cho vay năm 2009
lại tăng nhẹ so với năm 2008 tăng 17 % (2.796.893/2.389.390).
Các dự án cho vay dưới 10 tỷ cũng giảm nhẹ về số lượng so với năm trước đó chỉ có 16
dự án được phê duyệt. Về mặt số tiền phê duyệt cho vay năm 2009 lại tăng đáng kể so với năm
2008 tăng 111,7 % (62.292/29.423). Các dự án này cũng tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có nhu cầu bổ sung vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các dự án cho vay trên 10 tỷ vừa giảm về mặt số lượng vừa giảm về số tiền phê duyệt
cho vay. Năm 2009 chỉ có 08 dự án trên 10 tỷ, năm 2008 là 09 dự án. Số tiền phê duyệt cho vay
cũng giảm 12,3 % so với năm 2009.
Trong khi đó, các dự án vượt quyền phán quyết của Chi Nhánh có độ rủi ro cao hơn cả vê
gốc lẫn lãi lại được phê duyệt cho vay nhiều hơn so với năm 2008, tăng 19 % so với năm 2008
mặc dù về số lượng dự án phê duyệt ít hơn.
Năm 2009, do tình hình kinh tế bị suy thoái, Ngân Hàng Nhà Nước ban hành quyết định
hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp, nhằm giúp đỡ họ thoát khỏi tình hình bế tắc trong sản xuất
và lưu thông hàng hóa. Chính vì thế các doanh nghiệp đã được tiếp cận được vốn vay một cách
dễ dàng hơn so với thời điểm trước đó.
2.2 Số lượng các dự án vay vốn trung dài hạn bằng ngoại tệ
a. Cho vay bằng USD
Bảng 5. Số lượng dự án vay vốn trung và dài hạn bằng USD năm 2008 - 2009
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
Đơn vị: ngàn USD
STT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Số lượng Số tiền phê
duyệt cho vay
Số lượng Số tiền phê

của Chi Nhánh tuy ít về số lượng so với năm 2008 nhưng vẫn tăng về số tiền cho vay tăng 620
ngàn USD tương đương 4,43 % (620/13.978).
Tuy về số lượng các dự án cho vay ít hơn nhưng lại có sợ thay đổi về số vốn vay được
phê duyệt. Thứ nhất, một phần do nhu cầu của một số doanh nghiệp trong hoạt động thanh toán
quốc tế tăng lên, tín hiệu tích cực từ sự hồi phục của kinh tế, cung - cầu ngoại tệ được cải thiện,
nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc tăng lên cũng khuyến khích doanh nghiệp vay
ngoại tệ thay vì tìm mọi cách mua ngoại tệ để thanh toán như trước đây. Ngoài ra, gói kích cầu
hỗ trợ lãi suất 4% theo Quyết định 131 cũng đang đi đến chặng cuối, nên doanh nghiệp chuyển
hướng sang vay ngoại tệ. Thứ ba, do chính sách về lãi suất huy động và cho vay của NHNo &
PTNT có sự thay đổi đặc biệt là từ cuối tháng 8/2009. Các ngân hàng thương mại rục rịch chạy
LớpKinh tế đầu tư 48B
Nguyễn Cẩm Vân Chuyên đề thực tập
đua lãi suất. Khối quốc doanh cũng không đứng ngoài cuộc. NHNo & PTNT Việt Nam vừa điều
chỉnh lãi suất tiền gửi USD thêm 0,5% ở các kỳ hạn trên 12 tháng, lên mức 2,7 - 3%/năm. Trước
đó, lãi suất huy động USD phổ biến từ 1,8 - 2,4%/năm, lãi suất cho vay từ 6 - 7%/năm. Thực tế,
nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ hiện nay trên thị trường chủ yếu là vốn ngắn hạn nên doanh
nghiệp hạn chế được rủi ro biến động tỷ giá.
b. Cho vay bằng EUR
Bảng 6. Số lượng dự án vay vốn trung và dài hạn bằng EUR năm 2008 - 2009
Đơn vị: ngàn EUR
STT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Số lượng Số tiền phê
duyệt cho vay
Số lượng Số tiền phê
duyệt cho vay
1 Các dự án trong quyền
phán quyết của chi nhánh
01 620 01 620
2 Các dự án vượt quyền
phán quyết của chi nhánh

dựng các khu đô thi, các khu văn phòng, cao ốc, khách sạn 5 sao,….Tuy nhiên, một phần là do
đối với các dự án bất động sản vốn vay thường lớn, giải ngân trong một thời gian dài, mức độ
rủi ro cao, nên tỷ trọng cho vay các dự án đầu tư bất động sản thường thấp hơn so với các dự án
khác.
Bảng 7. Số lượng dự án vay vốn BĐS tại NHNo&PTNT Hà Nội năm 2008-2009
STT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Số lượng
dự án
Tổng vốn phê
duyệt cho vay
Số lượng
dự án
Tổng vốn phê
duyệt cho vay
1 Dự án cho vay 47 2.388.394
(triệu VNĐ)
+19.474
(ngàn USD)
+22.120
(ngàn EUR)
43 2.796.839
(triệu VNĐ)
+19.644
(ngàn USD)
+22.120
(ngàn EUR)
2 Dự án cho vay
BĐS
15 1.351.946
(triệu VNĐ)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status