Tình hình đầu tư phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam
Chương 1: Lý Thuyết Chung
1) Đầu tư là một hoạt động kinh tế của đất nước.
Một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở, một vấn đề
trong cuộc sống được mọi gia đình, mọi cá nhân quan tâm khi có điều kiện
nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân và
gia đình.
Bản chất thuật ngữ “đầu tư” là sự bỏ ra, sự chi phí, sự hy sinh và hoạt động đầu
tư là sự bỏ ra, sự hy sinh sự chi phí các nguồn lực (tiền, của cải vật chất, sức lao
động,...) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt được những kết quả lớn
hơn (các chi phí đã bỏ ra) trong tương lai
2) Phân loại đầu tư:
* Đầu tư tài chính
-Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các
chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu
chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty phát hành. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế
(nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị
tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư (đánh bạc nhằm mục đích thu lời cũng là
một loại đầu tư tài chính nhưng bị cấm do gây nhiều tệ nạn xã hội. Công ty mở
sòng bạc để phục vụ nhu cầu giải trí của người đến chơi nhằm thu lại lợi nhuận
về cho Công ty thì đây lại là đầu tư phát triển nếu được Nhà nước cho phép và
tuân theo đầy đủ các quy chế hoạt động do Nhà nước quy định để không gây ra
các tệ nạn xã hội). Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra
đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng
(rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái phiếu, cổ phiếu cho người khác). Điều đó
khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư
1
nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho
đầu tư phát triển.
* Đầu tư thương mại
nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy:muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức
trung bình thì tỉ lệ đầu tư phải đạt từ 15% đến 25% so với GDP tùy thuộc vào
ICOR của mỗi nước.
-Đầu tư góp phần làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế đối với những ngành
nông,lâm,ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai,các khả năng sinh học do vậy
muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao là rất khó khăn..Theo kinh nghiệm của các
nước trên thế giới,muốn đạt tốc độ tăng trưởng cao cần tăng cường đầu tư vào
khu vực công nghiệp và dịch vụ.
-Đầu tư quyết định sự ra đời,tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở,để tạo
dựng cơ sở vật chất,kỹ thuật của doanh nghiệp phải có vốn đầu tư.
3) Khu công nghiệp:
-Khái niệm: Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công
nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất
công nghiệp có ranh giới địa lý xác định,không có dân cư sinh sống do chính
phủ hoặc phủ tướng chính phủ ra quyết định thành lập.Doanh Nghiệp khu công
nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp,gồm
doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ
*Sự cần thiết trong việc thu hút đầu tư xây dựng các khu công nghiệp:
-Đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp,khu chế xuất là nguồn vốn bổ
sung quan trọng cho nguồn vốn phát triển kinh tế:Đối với Việt Nam,để tăng
trưởng và phát triển kinh tế đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn,nguồn vốn
trong nước chưa thể đáp ứng nổi nhu cầu đó.Do đó thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào KCN là rất quan trọng vì KCN phản ánh tiềm năng phát triển
3
công nghiệp của quốc gia đó.Do vậy việc thu hút thêm nguồn vốn đầu tư vào
các KCN là rất quan trọng.
-Thu hút công nghệ:Việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý,kinh
nghiệm là điều rất quan trọng đối với các nước đang phát triển,trong đó có
VN.Thông qua việc thu hút thêm đầu tư vào KCN sẽ là những hoạt động chuyển
giao công nghệ,qua đó chúng ta có thể có được những công nghệ tiên tiến hiện
đương 1,4 tỷ USD),chiếm 18% tổng vốn kinh doanh trong các khu công nghiệp
được cấp giấy phép.Ngành nghề phát triển trong các khu CN gồm các doanh
nghiệp thuộc các ngành công nghiệp nhẹ,điện tử,hóa chất,cơ khí chế tạo,luyện
thép,dầu khí,chế biến thức ăn gia súc,phân bón,dịch vụ thương mại xuất
khẩu...Các doanh nghiệp tại khu công nghiệp,khu chế xuất có tốc độ tăng trưởng
ngày càng cao nhờ khai thác các nguồn lực từ bên ngoài kết hợp các nguồn lực
từng vùng và địa phương.Chỉ tính riêng 3 năm 1997-1999,giá trị sản lượng và
xuất khẩu của các doanh nghiệp trong khu CN cả nước là
5
Giá trị sản lượng
(triệu USD)
Giá trị xuất khẩu
(triệu USD)
Tăng trưởng sản
lượng
Tăng trưởng
xuất khẩu
1997 1.155 848
1998 1.871 1.300 61% 53%
1999 2.982 1.761 59% 35%
Năm 1999,các khu CN đóng góp 25% giá trị sản lượng công nghiệp và
16% giá trị sản phẩm của cả nước,thu hút 140.000 lao động.Ngay trong các khu
CN,phần lớn các nhà máy có công nghệ tiên tiến,chất lượng sản phẩm cao đã
trực tiếp gia tăng tỉ lệ xuất khẩu các sản phẩm của khu CN,các khu CN đã thực
sự tiếp nhận được những phương pháp quản lý tiến bộ,kinh nghiệm về tổ chức
kinh doanh của các nước công nghiệp hàng đầu trên thế giới.
6
SỐ LƯỢNG VÀ DIỆN TÍCH CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TÍNH
ĐẾN 3/2006
STT Tên KCN, KCX Tỉnh/TP Thời gian
26 KCN Việt-Sing* Bình Dương 1996 2004 500 315
27 KCN dệt may Bình An Bình Dương 2004 26 18
28 KCN Đông Xuyên BR-VT 1996 161 104
29 KCN Mỹ Xuân B1 BR-VT 1998 226 154
30 KCN Phú Mỹ I BR-VT 1998 954 651
31 KCN Mỹ Xuân A2 BR-VT 2001 313 145
32 KCN Cái Mép BR-VT 2002 670 449
33 KCN Mỹ Xuân A BR-VT 1996, 2002 270 171
34 KCN Đức Hoà I (GĐ1&2) Long An 1997 274 183
35 KCN Thuận Đạo-Bến Lức Long An 2003 114 80
7
36 KCN Trảng Bàng (GĐI&II) Tây Ninh 1999, 2003 191 135
37 KCX Tân Thuận TP. HCM 1991 300 195
38 KCX Linh Trung 1 TP. HCM 1992 60 40
39 KCN Bình Chiểu TP. HCM 1996 27 18
40 KCN Hiệp Phước TP. HCM 1996 332 216
41 KCN Tân Tạo* TP. HCM 1996 444 240
42 KCN Lê Minh Xuân TP. HCM 1997 100 65
43 KCN Tân Bình TP. HCM 1997 186 146
44 KCN Tân Thới Hiệp TP. HCM 1997 29 21
45 KCN Tây Bắc Củ Chi TP. HCM 1997 220 143
46 KCN Vĩnh Lộc TP. HCM 1997 202 130
47 KCX Linh Trung 2 ** TP. HCM 1997 62 40
48 KCN Cát Lái (II) TP. HCM 2003 117 75
49 KCN Phú Tài(GĐI, II, III
&MR)
Bình Định 1998, 2003 348 244
50 KCN Suối Dầu Khánh Hòa 1997 78 54
51 KCN Điện Nam-Điện Ngọc
(GĐI&MR)
78 KCN Đồng Văn (gđ 1&2) Hà Nam 2003 2006 110 63
79 KCN Hoà Xá Nam Định 2003 327 220
80 KCN Thuỵ Vân (GĐI,II&III) Phú Thọ 1997, 2003,
2004
306 220
81 KCN Sông Công I Thái Nguyên 1999 69 48
II Các KCN đã thành lập và đang trong thời
kỳ XDCB
1 KCN An Phước Đồng Nai 2003 130 91
2 KCN Nhơn Trạch V Đồng Nai 2003 302 205
3 KCN Định Quán Đồng Nai 2004 54 38
4 KCN Nhơn Trạch 6 Đồng Nai 2005 320 224
5 KCN Mai Trung Bình Dương 2005 51 35
6 KCN Việt Hương II Bình Dương 2004 110 70
7 KCN Mỹ Phước II Bình Dương 2005 472 329
8 KCN Nam Tân Uyên Bình Dương 2005 331 204
9 KCN Rạch Bắp Bình Dương 2005 279 190
10 KCN Chơn Thành Bình Phước 2003 115 73
11 KCN Phú Mỹ II BR-VT 2004 572 311
12 KCN Xuyên Á *** Long An 1997 306 212
13 KCN Tân Kim Long An 2003 117 70
14 KCN Tân Đức GĐ I Long An 2004 273 178
15 KCN Vĩnh Lộc 2 Long An 2005 226 136
16 KCN Linh Trung III Tây Ninh 2002 204 126
17 KCN Cát Lái (IV) TP. HCM 1997 112 83
18 KCN Phong Phú TP. HCM 2002 148 110
19 KCN Tân Phú Trung TP. HCM 2004 543 335
20 KCN Long Mỹ GĐ I Bình Định 2004 100 73
21 KCN Ninh Thuỷ Khánh Hòa 2004 206 143
49 KCN Phúc Khánh Thái Bình 2002 120 74
50 KCN Nguyễn Đức Cảnh Thái Bình 2005 68 44
131 Tổng cộng 27127 18192
2) Những thành tựu đạt được
Xây dựng và phát triển KCN ở nước ta được đặt ra trong quá trình CNH,
HĐH đất nước, quá trình triển khai Nghị quyết của Đảng, xây dựng và thực hiện
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của đất
nước từng thời kỳ nhất định. Trong giai đoạn vừa qua (1991 - 2006), hoạt động
các KCN trong cả nước đã đạt được những thành tựu quan trọng.
B.1) Hình thành hệ thống các KCN trên cơ sở chiến lược, quy hoạch
tổng thể phát triển KT-XH cả nước; quy hoạch phát triển ngành, địa
phương và vùng lãnh thổ.
Đến cuối tháng 12/2005, cả nước đã có 131 KCN, được Thủ tướng Chính
phủ quyết định thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 26.986 ha, trong đó diện
tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 18.044 ha.
Các KCN được phân bố trên 47 tỉnh thành trên cả nước theo hướng vừa tập
trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở các vùng có lợi thế và tiềm năng, vừa
tạo điều kiện để các địa phương có ít lợi thế hơn, có động lực thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Quy mô các KCN đa dạng và phù hợp với từng điều kiện và trình độ phát triển
cụ thể của mỗi địa phương. Phần lớn các KCN thuộc Danh mục các KCN ưu
tiên thành lập theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
10
B.2) KCN đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành
phần kinh tế trong và ngoài nước, phục vụ cho CNH, HĐH đất nước.
Việc áp dụng các chính sách ưu đãi và những điều kiện thuận lợi về hạ tầng kinh
tế - kỹ thuật, các KCN ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Số dự án ĐTNN và
tổng vốn đăng ký vào KCN ngày càng được mở rộng. Giai đoạn 5 năm
1991-1995, số dự án ĐTNN có 155 dự án, đến 5 năm 2001-2005 là 1.377 dự án
với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 8.080 triệu USD, tăng gấp 2,34 lần về số dự
ngũ doanh nghiệp phát triển hạ tầng có kinh nghiệm và năng lực quản lý, điển
hình là Công ty Phát triển KCN Thăng Long, Công ty Phát triển KCN Biên Hoà
(Sonadezi), Công ty cổ phần KCN Tân Tạo...
Trên phạm vi cả nước, đến cuối năm 2005, có 79 KCN, đã hoàn thành xây
dựng cơ bản và đi vào vận hành; 51 KCN còn lại đang trong giai đoạn đền bù
giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản.
B.4) KCN có tác động tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của từng địa phương theo hướng CNH, HĐH, đa dạng hoá ngành nghề,
nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, góp
phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của cả nước, mở
rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế.
Giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN tăng đều qua các năm, và tốc
độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp trong KCN đều vượt so với tốc độ gia
tăng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp
của các KCN thời kỳ 1996 - 2000 đạt khoảng 9,5 tỷ USD, tăng bình quân
khoảng 20%/năm. Trong thời kỳ 2001 - 2005, tổng giá trị sản xuất công nghiệp
của các doanh nghiệp KCN (kể cả trong nước và nước ngoài) đạt khoảng 44,4 tỷ
USD, gấp gần 5 lần so với 5 năm trước. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp
của các doanh nghiệp KCN trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước
đã tăng lên đáng kể từ mức khoảng 8% năm 1996 lên 14% năm 2000 và từ mức
17% năm 2001 lên khoảng 28% năm 2005.
Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp KCN trên thị trường thế giới được
nâng cao đáng kể trong thời gian qua. Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của các
12
doanh nghiệp KCN thời kỳ 5 năm 1996 - 2000 đạt 6,2 tỷ USD, tăng bình quân
khoảng 18%/năm; trong 5 năm tiếp sau (2001-2005), giá trị xuất khẩu của các
doanh nghiệp KCN đạt trên 22,3 tỷ USD, tăng bình quân khoảng 24%/năm, cao
hơn tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị xuất khẩu công nghiệp của cả nước. Tỷ
trọng giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nước đã tăng lên từ mức khoảng 15% năm 2000 lên gần 20% năm
hàng năm từ 40% năm 1996 lên 50% năm 2000 và từ 55% năm 2001 lên 72%
năm 2005.
- Tính đến cuối tháng 12/2005, bình quân 1 ha đất công nghiệp của các
KCN đã vận hành thu hút được hơn 2 triệu USD tăng 60% so với năm 2001 (1,2
triệu USD/ha).
- Giá trị sản xuất công nghiệp do 1 ha đất công nghiệp tạo ra tăng đều qua
các năm từ 0,54 triệu USD/ha lên 0,76 triệu USD/ha; giá trị xuất khẩu bình quân
hàng năm trong 5 năm 2001 - 2005 đạt trên 0,33 USD/ha.
Số lao động thực tế sử dụng bình quân một ha đất sản xuất trong KCN
được huy động khoảng 80 - 100 người với giá trị sản xuất ra khoảng 30 tỷ đồng/
ha/năm.
B.6) Các KCN đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm,
nâng cao dân trí và thực hiện các chính sách xã hội
Phát triển KCN mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới rất
có tiềm năng để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động xã hội. Trong
thời kỳ 2001-2005, các KCN đã thu hút thêm được 656.000 lao động trực tiếp,
gấp 4 lần so với thời kỳ trước (1991-2000), hiện nay (5/2006), các KCN, đã thu
hút được khoảng 864.000 lao động trực tiếp, nếu tính cả số lao động gián tiếp thì
số lao động thu hút được còn lớn hơn nhiều (ước tính lượng lao động gián tiếp
khoảng 1,5 triệu người).
- Phát triển KCN đồng nghĩa với hình thành và phát triển mạnh mẽ thị
trường lao động, chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ, là nơi sử dụng
14
lao động có chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản
xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế. Hiện nay, một số KCN đã xây dựng các cơ
sở dạy nghề (Trung tâm dạy nghề Việt Nam - Singapore, Trường Kỹ nghệ Thừa
Thiên Huế, Trường Cao đẵng kỹ thuật - công nghệ Biên Hoà…).
- Doanh nghiệp trong KCN có mô hình tổ chức và quản lý nói chung, tổ
chức và quản lý nhân lực nói riêng. Đây là môi trường rất tốt để đào tạo, chuyển
giao khoa học quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp của Việt Nam.
KCN góp phần mở rộng thị trường các yếu tố đầu vào, đầu ra tại các vùng
lân cận, đặc biệt là những địa phương trình độ công nghiệp phát triển, có sức lan
tỏa lớn tại thành phố Hồ Chí Minh tới các tỉnh lân cận, chuyển các địa phương
này từ cơ cấu kinh tế thuần nông sang cơ cấu kinh tế công nghiệp hiện đại.
Trong thời gian tới, xu hướng lan tỏa từ các KCN, ở các địa phương này sẽ còn
mở rộng hơn nữa sang các địa phương khác như Long An, Bình Phước...
Việc phát triển các KCN có tác động rất rõ rệt đến quá trình quy hoạch,
đào tạo phát triển nguồn nhân lực cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động của địa phương nơi KCN đóng và các địa phương lân cận.
Với thế mạnh về công nghệ, thiết bị hiện đại, phương pháp quản lý tiến
bộ, các doanh nghiệp này sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt và ổn định, các
doanh nghiệp trong KCN đã và đang tác động tích cực tới yếu tố chất lượng sản
phẩm của công nghiệp địa phương, góp phần giúp công nghiệp địa phương từ
chỗ chỉ phục vụ nhu cầu tại chỗ là chính đã vươn ra thị trường cả nước và xuất
khẩu.
Đánh giá một cách chung nhất, có thể nói các KCN không chỉ trực tiếp
thúc đẩy công nghiệp của địa phương và của vùng có KCN phát triển mạnh mẽ
trong 15 năm qua, mà còn có tác động lan toả rộng rãi tới nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực của đời sống kinh tế từng địa phương và cả nước. Đó chính là hạt nhân
của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế.
B.9) Mô hình quản lý - áp dụng cơ chế "một cửa, tại chỗ" đối với KCN
16
Những năm qua, KCN thực sự là nơi thử nghiệm mô hình cơ chế "một
cửa, tại chỗ" và đã đạt được những chuyển biến tích cực:
- Cùng với việc thành lập các KCN, các Ban quản lý các KCN cũng được
thành lập nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước KCN ở địa phương, là
đầu mối liên hệ giữa nhà đầu tư với KCN. Hiện nay, 46 Ban quản lý KCN đã
được thành lập ở tất cả các địa phương có KCN, trong đó 45 Ban quản lý KCN
trực thuộc UBND tỉnh, Ban quản lý KCN Việt Nam - Singapore trực thuộc Thủ
tướng Chính phủ. Thông qua Ban quản lý KCN, nhà đầu tư có điều kiện dễ dàng
cấu hạ tầng KCN được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, thành lập các KCN Thạnh
Đức, tỉnh Long An (256 ha); KCN Minh Hưng, tỉnh Bình Phước (194 ha); KCN
Việt Hoà - Kenmark, tỉnh Hải Dương (46 ha); KCN Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (54
ha); KCN Thanh Bình, tỉnh Bắc Kạn (73,5 ha); KCN Bình Minh, tỉnh Vĩnh
Long (131,5 ha); KCN Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình (71,2 ha); KCN Phía Nam
Yên Bái, tỉnh Yên Bái (137,8 ha); KCN Long Bình An, tỉnh Tuyên Quang (109
ha); KCN Bình Long, tỉnh An Giang (28,56 ha); KCN Hoà Phú, tỉnh Đắk Lắk
(181,73 ha) và mở rộng KCN Việt Hương II, tỉnh Bình Dương (140 ha); KCN
Mỹ Xuân B1 - Đại Dương, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (146 ha). Tổng diện tích
KCN thành lập mới và mở rộng đạt 1.569 ha.
Tính đến cuối tháng 10/2007, cả nước đã có 154 KCN được thành lập với
tổng diện tích đất tự nhiên 32.831 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể
cho thuê đạt 21.775 ha, chiếm 66% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, 92
KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 20.758 ha và 62 KCN
đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng
diện tích tự nhiên 12.073 ha.
Các KCN phân bố ở 55 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung ở 3 Vùng
kinh tế trọng điểm miền Nam, miền Trung, miền Bắc với tổng số 110 KCN với
tổng diện tích đất tự nhiên trên 25.900 ha, chiếm gần 80% tổng diện tích các
KCN cả nước.
18