Phát huy tính tịch cực học tập của học sinh qua giờ Ngữ văn ở lớp 7 - Pdf 12

A. Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
+ Trong những thập kỷ gần đây, cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội
dung dạy học, vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học theo tởng hớng vào ngời
học đợc đặt ra một cách bức thiết.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, qua thực tế tôi thấy việc đổi mới
dạy học để có đợc hoạt động học tập chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh,
thầy dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong môn Ngữ văn se đem lại hứng
thú cho cả thầy lẫn trò. Học trò đợc bộc lộ bản thân, đợc đánh giá ở nhiều
phía, nh vậy thầy sẽ hiểu đợc thực chất về trò để t đó có phơng pháp thích ứng
nhằm đem lại hiệu quả cao trong dạy học. Mặt khác, chính sự đổi mới phơng
pháp sẽ tạo cho các học sinh có nề nếp làm việc khoa học và tự tin trong học
tập.
Nói về vấn đề này, Nghị quyết Trung ơng II (khóa 8) đã khẳng định Phải
đổi mới phơng pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành nếp t duy sáng tạo cuả ngời học, từng bớc áp dụng các phơng
pháp tiên tiến và phơng tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện
và thời gian tự học cho học sinh:/
Định hớng trên đã trở thành tinh thần cơ bản cảu đổi mới phơng pháp dạy
học Vă ở Trung học cơ sở. Đó là đề cao vai trò chủ động, tích cực cảu học sinh
trong hoạt động nhận thức cảm thụ và ứng dụng các kiến thức, kỹ năng văn
học. Giáo viên không còn là chỉ biết truyền thụ kiến thức, kỹ năng văn học tới
học sinh mà có cả vai trò tổ chức, hớng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá để
hiểu, cảm, vạn dụng các kiến thức, kỹ năng vănn học đúng hớng, cảm cái hay,
cái đẹp của tác phẩm văn học, bộc lộ sự hiểu, cảm ấy bằng ngôn ngữ và tình
cảm của lứa tuổi mình. Các kỹ năng đọc, phân tích, bình giá, diễn đạt bằng
ngôn ngữ nói viết sẽ đợc hình thành chắc chắn và bền vững.
Bên cạnh đó. Học sinh ở trờng Trung học cơ sở ở độ tuổi 11 đến 15 có
những đặc điểm tâm sinh lý mà ngời giáo viên phải luôn chú ý. Đó là nguyện
vọng có đợc vị trí mới trong quan hệ với ngời lớn, có tính tự lập cao, có sự tự
do trong hành động. Điều này tạo nên u điểm lớn của tuổi thiếu niên là sự sẵn

sinh là cha đúng với bản chất học tập và đặc biệt là học văn.
Nh vậy để có giờ dạy văn đúng theo tinh thần đổi mới phơng pháp dạy
học, bản thân tôi đã nhận thấy việc sử dụng phơng pháp dạy học: Phát huy tính
tích cực học tập của học sinh là một phơng pháp cực kỳ quan trọng, nó tác
hợp đợc mối quan hệ dân chủ hóa trong qua trình dạy học. Học sinh đợc tham
gia trực tiếp vào quá trình tiếp nhận tri thức. Từ đó làm cho quá trình tiếp nhận
trở nên phong phú. Trong giừo học có nhiều nguồn thông tin khác nhau: có
nguồn thông tin từ nhà văn,có nguồn thông tin từ ngời dạy, nguồn thông tin từ
học sinh. Trong quá trình dạy học theo phơng pháp mới là phải đảm bỏa:
Khuyến khích đợc sự sáng tạo của ngời học nhng đồng thời quá trình định h-
ớng phải rõ ràng. Vì vậy viết đề tài này, bản thân tôi mong muốn đợc góp phần
cùng đồng nghiệp áp dụng thành công trong bài giảng của mình.
III. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tợng nghiên cứu: Học sinh lớp 7E Trờng trung học cơ sở Phơng
mai - Đống Đa Hà Nội năm học 2006-2007.
- Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề sử dụng phơng pháp Phát huy tính tích
cực của học sinh trong học tập qua giờ Ngữ văn lớp 7.
IV- nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài gồm hai phần: phần lý thuyết và phần thực nghiệm.
1.Phần lý thuyết:
-Tổng hợp các vấn đề áp dụng phơng pháp phát huy tính tích cực của học
sinh trong học tập đối với giáo viê (những yêu cầu đặt ra đối với giáoviên).
- Đa ra một số giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt phơng pháp phát huy
tính tích cực học tập của học sinh.
1.Phần thực hành:
Vận dụng phơng pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh qua bài
giảng cụ thể.
V- Các phơng pháp nghiên cứu chính:
- Điều tra cơ bản.
- Thực nghiệm.

bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con ngời biết rèn luyện để có
tính tự lập, có t duy sáng tạo, bớc đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân,
thiện, mĩ trong nghệ thuật, trớc hết là trong văn học. Có năng lực thực hành và
năng lực sử dụng tiếng việt nh một công cụ để t duy và giao tiếp. Đó cũng là
những ngời có ham muốn đêm tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Có thể nói, cuộc cải cách giảgn dạy bộ môn Văn ở trờng Trung học cở
sở trong suốt những năm qua đã đem lại những năm thành công đáng kể. Giờ
học văn trên lớp giáo viên với vai trò tổ chức, hớng dẫn, là ngời mở ra cho học
sinh con ngời mới đầy sáng tạo chủ động trong tiếp nhận vẩcm thụ văn chơng.
Giáo viên đã là ngời thắp sáng lên từng ngọn nến học sinh, biết huy động
linh hoạt tài năng và nghệ thuật s phạm để các hoạt động học tập văn học của
học sinh đợc tích cực ở mức tối đo. Không khí giờ học văn đã có phần sôi nổi,
hòa hứng và đợc dân chủ hơn. Học sinh đợc tạo điều kiẹn trực tiếp với tác
phẩm, đợc phát huy tính tích cực của mình. Trong giờ học chất lợng văn chơng
đợc nâng lên. tuy nhiên, để đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, yêu cầu
đổi mới phơng pháp dạy học văn đã và đang đề ra; phải phát huy chủ thrr sáng
tạo của học sinh, tạo đợc ở học sinh bản linh, sự chủ động chiếm lĩnh và vận
dụng kiến thức thì kết quả trên pahỉ đợc tiếp tục nhân lên không ngừng.
Nh vậy phơng pháp phát huy tính tích cự không hệ hạ thấp hay giảm
nhẹ vai trò của ngời giáo viên. Giáo viên phải đợc đào tạo chu đáo để thích
ứng với những nhiệm vụ đa dạng từ dạy học thông báo, giảng trình, minh họa
san g dạy học tích cực. Giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là ngời
truyền đạt kiến thức, mà trở thành ngời thíêt kế, tổ chức, hớng dẫn các hoạt
động độc lập hoặc theop nhóm để học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới hình
thành kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chơng trình.
Trên lớp, học sinh hoạt đông là chính. Nhng trớc đó, khi soạn bài, giáo
viên phải đầu t nhiều công sức, tâm sức và thời gian mới có thể thực hiện đợc
bài trên lớp với vai trò là ngời gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài các
hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Giáo viên phải

tình cảm của mình.
- Biết động viên học sinh kịp thời.
- Ngời giáo viên phải nắm đợc phơng pháp mới, đó là lấy học sinh làm
trung tâm và phát huy tí lực học sinh.
- Cần khẳng định những điều đã làm tốt, mạnh dạn thay đổi những gì
còn tồn đọng.
- Nắm vững quy trình cấu tạo của giờ dạy
-Phải luôn cố gắng tìm tòi, sáng tạo.
Chơng II: kết quả điều tra khỏa sát thực tiến
Nhìn chung, khoa học về phơng pháp dạy học ở nớc ta ra đời có muộn
hơn so với lịch sử của nền giáo dục (ra đời năm 1945). Khoa học về phơng
pháp dạy học văn cũng nằm trong tình trạng ấy. Trớc năm 1945, cha có bài
viết nào chứ cha nói đến công trình nghiên cứu phơng pháp dạy học văn. Chỉ
từ ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc (1954), một số nhà giáo giàu kinh nghiệm
và có tâm huyết với nghề mới bắt đầu nghiên cứu về phơng pháp dạy học văn.
Tháng 2 năm 1960, ở trờng Đại học S phạm Hà Nội I mới thành lập bộ
môn phơng pháp dạy học văn. Hơn 4 thập kỷ qua, khoa học về phơng pháp dạy
học văn có những bớc tiến mạnh mẽ đáng kể. Các bài viết của các nhà nghiên
cứu thực sự có giá trị quý báu đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy và
những cán bộ chuyên môn ở cấp cơ sở.
Tuy nhiên, nhiều đánh gí lý luận trong các bài viết còn đề cập cha đầy
đủ tính thực tiễn của quá trình dạy học văn ở Trung học cơ sở. Do đó, cần phải
đợc bổ sung quá trình thực tế giảng dạy. Có nh vậy tính thuyết phục và những
bài học mới có giá trị cao. Công việc khảo sát chính là cơ sở tin cậy để xác
định đổi mứoi phơng pháp dạy học văn. Bởi đối với một cuộc cách mạng, bao
giờ vấn đề phơng pháp cũng nổi lên nh một đòn bẩy. Sự lạc hậu về phơng
pháp cản trở tiếp thu nội dung khoa học tiên tiến (GS. Phan Trọng Luận
Mấy vấn đề cấp bách của việc dạy học văn ở trờng phổ thông Nghiên cứu
giáo dục số 10/1988).
Theo t tởng đó, việc đổi mới phơng pháp dạy học là đáp ứng nhu cầu

tình thế ấy, phơng pháp dạy học truyền thống tỏ ra phù hợp hơn cả. Hơn nữa,
bản thân phơng pháp này vẫn còn những u điểm nhất định của nó. Tuy thầy
giáo có những nhọc nhằn hơn, nhng với ngôn ngữ diễn giảng tốt, giáo viên vẫn
cung cấp một lợng kiến thức văn học nhất định cho nhiều đối tợng học sinh
trong một thời gian ngắn. Ngay cả trong những tiết hội giảng, để đảm bảo sự
thiết kế của mình là yêu cầu về thời gian, giáo viên đôi khi phải tránh né việc
kiểm tra, việc phát vấn học sinh thực hiện những yêu cầu khác đối với học sinh
yếu kém và chỉ thờng tập trung vào một số học sinh khá, giỏi để tránh mất thời
giờ. Khi thực hiện bớc đọc tìm hiểu chú thích, giáo viên lựa chọn những em
học khá, giỏi để không làm hỏng văn bản và cũng đõ bị mất thời gian; đồng
thời tạo không khí văn chơng cho tiết học, cho nên không khí hội giảng bên
cạnh những tích cực lại xuất hiện ít nhiều hạn chế mang tính khách quan.
Chính vì vây, việc đổi mới phơng pháp dạy học văn ở trờng Trung học cơ sở
cần tiến hành một cách triệt để.
Muốn thực hiện đợc điều đó, chúng ta phải có sự kiên quyết với bản
thân mình và nhiệt tình giúp đồng nghiệp nhận rõ những sai lầm, khiếm
khuyết để có động lự phấn đấu thiết thực, đa cuộc cải cách phơng pháp dạy
học văn ở trờng Trung học cơ sở đạt đợc hiệu quả nh mong muốn.
Qua quá trình điều tra cơ bản việc dạy học Văn (bằng việc dự giờ) của
các bạn đồng nghiệp trong trờng, trong cụm trờng, tôi nhận thấy đại đa số các
đồng chí giáo viên nhiệt tình,phấn khởi đón nhận chơng trình này thay sách
lớp 7 nói riêngvà thay sách ở bậc Trung Học cơ sở nói chung.Trong cac giờ
giảng ở các lớp 6,7,8,9 các phơng pháp phát huy tính tích cực học tập của học
sinh cũng đợc áp dụng.các đồng chí đã coi trọng việc lấy học sinh làm chung
tâm
Trong quá trình chiếm lĩnh vă bản.Song có tiết dạygiáo viên vẫn còn
danh quá nhiều vào thời giờ giao việc đọc và tìm hiểu tác giả,tác phẩm (mà ở
chơng trình thay sách không đòi hỏi quá cao ở điều này).
Trong quá trình một số văn bản đợc đa từ chơng trình lớp 8 lớp 9
xuống,giáo viên không đẻ ý đến tâm lý lứa tuổi,phản ứng của học sinh khi tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status