Giới thiệu khái quát về Cty cổ phần may 10 - Pdf 12

Báo cáo thực tập tổng hợp.
MỞ ĐẦU
Năm 2007, sau khi gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, bằng sự chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã có những
chuyển biến hết sức đáng mừng ở hầu hết các lĩnh vực. Cùng với đầu tư trực tiếp
nước ngoài, xuất khẩu là một trong hai lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nổi bật nhất.
Kim ngạch xuất khẩu khẩu hàng hóa năm qua đạt 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so với
năm 2006, chiếm 68% GDP của cả nước. Một mặt, góp phần làm tăng thu ngoại tệ,
đóng góp vào sự tăng trưởng, mặt khác, điều đó cho thấy Việt Nam đã hội nhập và
đang dần trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thế giới với tư
cách là một nhà xuất khẩu lớn nhiều mặt hàng.
Đóng góp vào thành công chung đó của xuất khẩu, bên cạnh những mặt hàng
như dầu thô, giày dép, đồ gỗ, thủy sản…không thể không kể đến ngành dệt may.
Với tốc độ tăng trưởng 34,5%, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,78 tỷ USD, dệt may Việt
Nam đã lọt vào tốp 10 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế
giới, đồng thời tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất cả nước cùng với dầu thô.
Sở dĩ đạt được kết quả như vậy, một mặt là do hàng dệt may Việt Nam có lợi
thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhờ giá nhân công rẻ, đội ngũ lao động có tay
nghề, chất lượng sản phẩm luôn được bảo đảm, mặt khác, hàng dệt may Việt Nam
không còn bị phân biệt đối xử như trước đây, không còn rào cản, xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ không phải chịu hạn ngạch, tạo sự chủ động
cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, dệt may Việt Nam
cũng phải đối mặt với rất nhiều những khó khăn, thách thức như: sự biến động của
giá cả nguyên vật liệu đầu vào, cơ chế giám sát hàng may mặc nhập khẩu vào Mỹ,
sự cạnh tranh gay gắt của hàng giá rẻ từ Trung Quốc, Ấn Độ… Đây chính là những
vấn đề đã, đang và sẽ làm đau đầu các nhà quản lý các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam trong thời gian tới.
1
Báo cáo thực tập tổng hợp.
Nhận thức được tầm quan trọng của ngành dệt may đối với xuất khẩu nói
riêng, toàn bộ nền kinh tế nói chung, và để có thể tìm hiểu rõ hơn về ngành này, em

công xưởng, nhà máy của ta ở Hà Nội dời lên núi rừng Việt Bắc tổ chức thành hai
hệ thống sản xuất trong đó may quân trang là hệ chủ lực và hệ bán công xưởng.
Từ năm 1947 đến 1949, việc may quân trang không chỉ tiến hành ở Việt Bắc
mà còn ở nhiều nơi khác như Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Đông… Để giữ bí mật,
các cơ sở sản xuất này được đặt tên theo bí số của quân đội như: X1, X30, hay
AM1… đây chính là những đơn vị tiền thân của xưởng May 10 sau này.
Đến năm 1952, xưởng May 1 (X1) ở Việt Bắc được đổi tên thành xưởng
May 10 với bí số là X10 và đóng ở Tây Cốc (Phú Thọ).
1.2.2. Quá trình phát triển của công ty.
Sau hơn 60 năm thành lập công ty cổ phần May 10, trải qua nhiều giai đoạn
phát triển thăng trầm cùng với tiến trình của lịch sử, đến nay đã trở thành một trong
những doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh
hàng may mặc.
 Giai đoạn từ 1953 đến 1960:
3
Báo cáo thực tập tổng hợp.
Đến năm 1953, xưởng May 10, với quy mô lớn hơn, chuyển về Bộc Nhiêu
(Định Hóa – Thái Nguyên). Tại đây, May 10 đã ngày đêm miệt mài sản xuất trên
10 triệu sản phẩm quân trang, quân dụng các loại phục vụ kháng chiến.
Năm 1954, kháng chiến thắng lợi, xưởng May 10 được chuyển về Hà Nội.
Cùng thời gian đó, xưởng May X40 ở Thanh Hóa cũng được chuyển về Hà Nội,
sáp nhập với xưởng May 10, lấy Hội Xá thuộc tỉnh Bắc Ninh cũ, nay là Phường Sài
Đồng, quận Long Biên, Hà Nội để làm địa điểm sản xuất chính.
Đến tháng 10 năm 1955, Tổng cục Hậu cần tiến hành biên chế cho xưởng
May 10.564 cán bộ, công nhân viên. Cuối năm 1956 đầu năm 1957, xưởng May 10
đã được mở rộng thêm, máy móc cũng được trang bị thêm, và có tất cả là 253 chiếc
máy may, trong đó có 236 chiếc chạy bằng điện. Nhiệm vụ của xưởng May 10 lúc
này vẫn là may quân trang cho quân đội là chủ yếu.
 Giai đoạn làm quen với hạch toán kinh tế (từ năm 1961 đến 1964):
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng đất nước khi miền Bắc đi lên CNXH, tháng 2

nhiệm vụ sản xuất thật nhiều quân trang và đều hoàn thành xuất sắc.
 Giai đoạn chuyển hướng may gia công xuất khẩu (từ năm 1975 đến 1985):
Sau năm 1975, xí nghiệp May 10 chuyển sang sản xuất và gia công hàng
xuất khẩu, thị trường chủ yếu lúc này là Liên Xô cũ và các nước XHCN Đông Âu
thường qua các hợp đồng mà Chính phủ Việt Nam ký với các nước này. Trong giai
đoạn này, hàng năm xí nghiệp May 10 xuất sang thị trường các quốc gia trên từ 4
đến 5 triệu áo sơ-mi.
 Giai đoạn đi lên theo con đường lối Đổi mới của Đảng từ 1986 đến nay:
Kể từ Đại hội VI năm 1986, Đảng đã đề ra đường lối Đổi mới, chuyển từ nền
kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nắm
bắt được tinh thần của đường lối đổi mới, xí nghiệp May 10 đã từng bước có những
đổi mới trong tư duy kinh tế và đường hướng hoạt động sản xuất kinh doanh.
5
Báo cáo thực tập tổng hợp.
Từ 1986 đến 1990, thị trường chính của xí nghiệp May 10 vẫn là thị trường
khu vực I (Liên Xô, Đông Âu), và hàng năm xuất khẩu vào các thị trường này từ 4
đến 5 triệu sản phẩm áo sơ-mi theo nội dung các Nghị định thư hàng hóa ký kết
giữa Việt Nam và các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).
Đến những năm 1990 – 1991, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã
làm các mặt hàng xuất khẩu của xí nghiệp bị mất thị trường. Trước tình hình đó, xí
nghiệp May 10 đã mạnh dạn chuyển sang thị trường Khu vực II như Đức, Bỉ,
Nhật…. Cùng với sự nỗ lực trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, thay đổi
mẫu mã, xí nghiệp đã thành công trong việc thâm nhập những thị trường đó.
Tháng 11 năm 1992, Bộ Công nghiệp nhẹ quyết định chuyển xí nghiệp May
10 thành Công ty May 10 với tên giao dịch quốc tế là “GARCO10”. Kể từ đó, công
ty đã mạnh dạn đầu tư, trang bị thêm kỹ thuật, công nghệ mới, đào tạo công nhân
và cán bộ quản lý, cải tạo và xây dựng mới nhà xưởng, cải thiện điều kiện làm việc
cho công nhân, mở rộng thị trường quốc tế và coi trọng thị trường trong nước …
Tháng 1 năm 2005, theo Quyết định số 105/2004/QĐ-BCN của Bộ Công
nghiệp, công ty May 10 được chuyển thành Công ty cổ phần May 10 trực thuộc

Địa điểm
Lao
động
Năng lực
sản xuất
Sản phẩm
chính
Thị trường
May 1
2.00
0
Hà Nội 750
2.200.00
0
Sơmi các loại Nhật, Mỹ, EU
May 2
2.00
0
Hà Nội 750
2.300.00
0
Sơmi các loại Hung, Mỹ, EU
May 5
2.00
0
Hà Nội
750
2.000.00
0
Sơmi các loại Mỹ, EU

Sơmi, Jacket Mỹ, EU
Bỉm Sơm 2.30 Thanh Hóa 800 1.000.00 Quần, Jacket Mỹ, EU
7
Báo cáo thực tập tổng hợp.
0 0
Hà Quảng
4.50
0
Quảng Bình 600
1.600.00
0
Sơmi, Jacket Mỹ, EU
Liên doanh
Phù Đổng
850 Hà Nội 300
1.000.00
0
Sơmi, Jacket Mỹ, EU
Liên doanh
Thiên Nam
6.50
0
Hải Phòng 600 500.000 Veston
Mỹ, EU, Hàn
Quốc, Nhật
(Nguồn: Trang web của công ty cổ phần May 10 www.garco10.vn)
Qua bảng trên ta thấy, các đơn vị sản xuất của công ty được phân bố chủ yếu
ở một số tỉnh miền Bắc là Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng và miền Trung
là Thanh Hóa, Quảng Bình, mà không phải là tập trung ở một địa điểm nhất định,
cho phép công ty có thể khai thác được lợi thế ở các địa phương đó về nguyên phụ

GĐ ĐIỀU
HÀNH
P.TCKT
Ban đầu tư
Văn phòng
P.Kế hoạch
XN may 1, 2 ,5
P.Kinh doanh
P.QA
P.Kỹ thuật
XN veston 1, 2
XN địa phương
P.Kho vận
Trường ĐT
Trưởng ca A
Tổ hòm hộp
Tổ quản trị
Tổ kiểm hóa
Trưởng ca B
Các
tổ
may
Tổ
cắt A
Tổ là
A
Các
tổ
may
Tổ

10
Báo cáo thực tập tổng hợp.
- Được ủy quyền đàm phán và ký kết một số hợp đồng kinh tế với các khách
hàng trong và ngoài nước.
- Trực tiếp phụ trách 3 xí nghiệp may 1, 2, 5, và các phòng Kế hoạch, phòng
Kinh doanh, phòng QA (phòng chất lượng).
 Các giám đốc điều hành:
- Là người giúp việc Tổng giám đốc trong việc quản lý công ty, và chịu trách
nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về các quyết định của mình.
- Trực tiếp phụ trách 2 xí nghiệp veston 1, 2, các xí nghiệp may thành viên địa
phương, các phân xưởng phụ trợ, các phòng Kỹ thuật, phòng Kho vận và Văn
phòng.
 Các phòng, ban chức năng:
• Phòng kế hoạch:
- Quản lý công tác kế hoạch và hoạt động xuất nhập khẩu, công tác cung ứng
vật tư phục vụ sản xuất, soạn thảo và thanh toán các hợp đồng.
- Xây dựng và đôn đốc thực hiện kế hoạch sản xuất của các đơn vị để đảm bảo
hoàn thành kế hoạch của công ty.
- Tổ chức tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu.
• Phòng kinh doanh:
- Tổ chức kinh doanh sản phẩm may mặc phục vụ thị trường trong nước, đồng
thời thực hiện công tác cung cấp vật tư, trang thiết bị theo yêu cầu đầu tư phát triển
và phục vụ sản xuất kịp thời.
- Nghiên cứu sản phẩm chào hàng, tổ chức quảng cáo giới thiệu sản phẩm.
- Đàm phán và ký kết hợp đồng tiêu thụ với khách hàng trong nước, đặt hàng
với phòng kế hoạch.
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm may mặc và các hàng hóa khác theo quy
định của công ty tại thị trường trong nước nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh
doanh của công ty đạt hiệu quả kinh tế cao.
11

công nhân viên, học sinh đi học tập, tu nghiệp ở nước ngoài.
1.3. Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của công ty:
1.3.1. Đặc điểm về sản phẩm:
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty là sản xuất kinh doanh hàng may
mặc, được tiêu thụ ở cả thị trường trong và ngoài nước. Đó là các sản phẩm: sơ-mi
nam, nữ, jacket, comple, veston, váy, đồng phục học sinh, công nhân viên chức…
Sản phẩm mũi nhọn của công ty từ nhiều năm nay là mặt hàng áo sơ-mi. Có thể
nói, ở Việt Nam, nhắc đến May 10 là nhắc đến áo sơ-mi, đặc biệt là sơ-mi nam với
kiểu dáng, mẫu mã đẹp mắt và chất lượng tuyệt hảo.
Bảng 2 – Các sản phẩm chủ yếu của công ty ở thị trường trong nước.
(Đơn vị tính: chiếc)
Mặt hàng
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số
lượng
TL
(%)
Số
lượng
TL
(%)
Số
lượng
TL
(%)
Áo sơ-mi 410.646 65,4 450.700 63,1 435.949 66,9
Quần 50.998 8,1 35.610 5,0 37.647 5,8
Áo Jacket 12.337 2,0 9.180 1,3 12.512 1,9
Veston 1.907 0,3 3.299 0,5 3.949 0,6
Đồng phục HS 631 0,1 723 0,1 1.209 0,2

(%)
Sơ-mi 8.439.568 86,13 9.562.208 79,19 9.637.696 74,81
Quần 1.036.962 10,58 2.085.104 17,27 1.714.723 13,31
Jacket 61.065 0,62 128.898 1,07 1.298.881 10,08
Comple 180.821 1,85 119.632 0,99 149.949 1,16
Veston 54.729 0,56 147.408 1,22 61.604 0,48
Váy 25.374 0,26 26.859 0,22 14.400 0,12
Jile 0 0 4.782 0,04 0 0
Khác 0 0 200 0 5.147 0,04
Cộng 9.798.519 100 12.075.091 100 12.882.400 100
(Nguồn: Phòng kế hoạch công ty cổ phần May 10)
Qua bảng trên ta thấy, lượng sản phẩm tiêu thụ của công ty ở thị trường nước
ngoài là rất lớn, khoảng trên dưới 10 triệu chiếc. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu bao
gồm áo sơ-mi, quần, áo Jacket, comple, veston, và váy. Trong đó, mặt hàng chủ lực
là áo sơ-mi, luôn chiếm trên 70% và hiện có xu hướng giảm nhẹ. Thay vào đó là sự
tăng lên của những mặt hàng khác như quần và áo Jacket. Có thể thấy rằng, những
sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công ty là những sản phẩm đã có thương hiệu và
uy tín lớn trên thị trường, đó đều là những sản phẩm mang tính thời trang cao, mà
không có sự xuất hiện của những sản phẩm như quần áo bảo hộ lao động, tất hay
caravat…vốn không phải là thế mạnh của công ty trên thị trường quốc tế.
1.3.2. Đặc điểm về lao động:
14
Báo cáo thực tập tổng hợp.
Do đặc thù của ngành dệt may là việc sản xuất sản phẩm đơn giản, không đòi
hỏi kỹ thuật cao nên lực lượng lao động chủ yếu là những công nhân có trình độ tốt
nghiệp PTTH, sau khi được đào tạo tại Trường đào tạo của công ty sẽ trở thành
công nhân công ty. Mặt khác, do tính chất công việc đòi hỏi sự cần mẫn, tỉ mỉ,
thường xuyên làm việc trong tư thế ngồi, dẫn đến lực lượng lao động chủ yếu là lao
động nữ, trong khi lao động nam chiếm số ít.
Bảng 4 – Cơ cấu lao động của công ty.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status