Luận văn:“Một số giải pháp nâng cao năng lực mời thầu trong xây dựng cơ bản của ban quản lý dự án tỉnh Lạng Sơn” - Pdf 12

Luận văn:“Một số giải pháp nâng cao
năng lực mời thầu trong xây dựng cơ
bản của ban quản lý dự án tỉnh Lạng
Sơn”
Mục lục
Mục lục 1
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU
THẦU TRONG XÂY DỰNG CƠ BẢN 5
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẤU THẦU 5
1. Các khái niệm 5
1.1. Khái niệm và thực chất của đấu thầu. 5
1.2. Các khái niệm liên quan. 5
2. Các loại hình đấu thầu 11
2.1. Đấu thầu tuyển chọn tư vấn 11
2.2. Đấu thầu mua sắm hàng hoá 12
2.3. Đấu thầu xây lắp 12
3. Các hình thức lựa chọn nhà thầu: 12
3.1. Nhóm 1 – Đấu thầu rộng rãi (Điều 18- Luật ĐT) 12
3.2. Nhóm 2 – Các hình thức lựa chọn khác: 13
4. Phương thức đấu thầu : 15
5. Vai trò của đấu thầu đối với xây dựng cơ bản 16
5.1. Đối với chủ đầu tư 16
5.2. Đối với các nhà thầu 16
5.3. Đối với Nhà nước 17
6. Hiệu quả mời thầu 17
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC MỜI THẦU Ở BAN QUẢN
LÝ DỰ ÁN TỈNH LẠNG SƠN 19
I. Vài nét về ban quản lý dự án tỉnh lạng sơn 19
1. Đặc điểm bộ máy tổ chức của Ban Quản lý dự án: 19
1.1. Sơ đồ tổ chức của Ban Quản lý dự án Tỉnh Lạng sơn 20
2. Cơ cấu hoạt động: 20

3.1. Nội dung Hồ sơ đấu thầu của nhà thầu: 46
3.2. Một số yêu cầu về hồ sơ đấu thầu : 46
3.2.1. Thời hạn nộp Hồ sơ đấu thầu: 46
3.2.2. Thời hạn có hiệu lực của hồ sơ đấu thầu: 46
3.2.3. Thủ tục giải quyết hồ sơ đấu thầu nộp muộn hoặc nộp sai
địa chỉ: 47
3.2.4. Sửa đổi và rút hồ sơ đấu thầu: 47
3.2.5. Về thư giảm giá: 47
3.2.6. Loại bỏ Hồ sơ đấu thầu về sự hợp lệ: 48
3.2.7. Xử lý vi phạm: 49
4. Mở Thầu, Xét thầu và trao hợp đồng : 51
4.1. Thủ tục mở thầu. 51
4.2. Thủ tục đánh giá hồ sơ đấu thầu: 52
4.3. Thủ tục giải thích, làm rõ hồ sơ đấu thầu trong quá trình đánh giá.
53
4.4. Việc công bố kết quả đấu thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng.
54
4.5. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng và bảo lãnh tạm ứng. 54
5. Danh sách các công ty tham gia đấu thầu 55
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC MỜI
THẦU TRONG XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN
TỈNH LẠNG SƠN 56
I. ÁP DỤNG MÔ HÌNH O.D.C VÀO QUẢN LÝ XÂY DỰNG CƠ BẢN
56
II. ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ VỐN TRONG ĐẤU THẦU
XÂY DỰNG CƠ BẢN 59
III. NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT THẦU 61
IV. LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC XÉT THẦU THÍCH HỢP 63
1. Phương pháp cho điểm: 63
2. Phương pháp xếp hạng: 64

tưởng về số lượng, cải tiến hay nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch
vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.
- Chủ đầu tư: Là cá nhân hay tổ chức pháp nhân được giao trách nhiệm
trực tiếp quản lý, sử dụng vốn đầu tư theo quy định của pháp luật.
- Tổng mức đầu tư: Là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây
dựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ
thuật.
- Tổng dự toán công trình: Bao gồm những khoản chi phí có liên quan
đến khảo sát thiết kế, xây lắp, mua sắm máy móc thiết bị, chi phí sử dụng đất
đai, đền bù giải toả mặt bằng, chi phí khác và chi phí dự phòng.
- Vốn đầu tư được quyết toán: Là toàn bộ chi phí hợp pháp được thực
hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp
pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đãký kết và thiết kế dự toán được phê
duyệt, đảm bảo đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế
toán và những quy định hiện hành của Nhà nước có liên quan.
- Bên mời thầu: Là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp
pháp của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc
đấu thầu.
- Nhà thầu: Là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu
thầu. Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn nhà thầu có thể là cá
nhân, nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thăàu xây lắp, là nhà chung cấp
trong đấu thầu mua sắm hàng hoá, là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn
tư vấn là nhà đầu tư trong đấu thầu chuyển chọn đối tác đầu tư.
- Gói thầu: Là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án được
phân chia theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô
hợp lý và đảm bảo tính đồng bộ của dự án.
- Hồ sơ dự thầu: Là các tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ
mời thầu.
- Mở thầu: Là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu được quy định
trong hồ sơ mời thầu.

- "Nhà thầu" là tổ chức kinh tế có đủ điều kiện và có tư cách pháp
nhân để tham gia đấu thầu, nhà thầu có thể là cá nhân trong trường hợp đấu
thầu tuyển chọn tư vấn.
- "Gói thầu" là một phần công việc của dự án đầu tư được phân chia
theo tính chất hoặc trình tự thực hiện dự án, có qui mô hợp lý và bảo đảm
tính đồng bộ của dự án để tổ chức lựa chọn nhà thầu. Gói thầu cũng có thể là
toàn bộ dự án.
- "Tư vấn đầu tư và xây dựng" là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về
kiến thức kinh nghiệm chuyên môn cho bên mời thầu trong việc xem xét
quyết định kiểm tra quá trình chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư.
- "Xây lắp" là những công việc có liên quan đến quá trình xây dựng và
lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình
- "Vật tư thiết bị" bao gồm thiết bị toàn bộ hoặc thiết bị lẻ, thành
phẩm, bán thành phẩm, nguyên liệu và vật liệu.
- "Sơ tuyển" là bước chọn các nhà thầu có đủ tư cách và năng lực để
tham dự đấu thầu.
- "Nộp thầu" là thời hạn nhận hồ sơ dự thầu được qui định trong hồ sơ
mời thầu.
- "Mở thầu" là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu được qui định
trong hồ sơ mời thầu.
- "Danh sách ngắn" là danh sách thu hẹp các nhà thầu được lựa chọn
qua các bước đánh giá hồ sơ dự thầu.
- "Dự án đầu tư" là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo
mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng
trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch
vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.
- "Công trình xây dựng" là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền
với đất (bao gồm cả mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) được tạo thành
bằng vật liệu xây dựng, thiết bị vào lao động.
Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục hoặc nhiều hạng mục

Trong cuốn "Điều kiện hợp đồng đối với công trình xây dựng" do
Hiệp hội Quốc tế các kỹ sư tư vấn (FIDIC) soạn thảo còn giải thích thêm một
số thuật ngữ khác như:
- "Nhà thầu phụ" là người được gọi trong hợp đồng là người thầu phụ
cho một bộ phận công trình hoặc người mà một bộ phận công trình được
giao cho thầu phụ với sự đồng ý của kỹ sư và những người thừa kế hợp pháp
của người đó chứ không phải người được uỷ quyền của người đó.
- "Hồ sơ đấu thầu" là bản chào giá mà nhà thầu đề nghị với chủ công
trình để thi công và hoàn thiện công trình và sửa chữa những sai sót theo
đúng những qui định của hợp đồng, như giấy chấp nhận trúng thầu đãchấp
nhận.
- "Giấy chấp nhận trúng thầu" là sự chấp nhận chính thức hồ sơ đấu
thầu của chủ công trình.
2. Các loại hình đấu thầu
Để đạt được mục tiêu của công tác đấu thầu là tạo ra sự cạnh tranh,
công bằng, minh bạch và đạt hiệu quả kinh tế, trên cơ sở đặc thù về hàng hoá
và dịch vụ cần mua, hoạt động đấu thầu được chia làm 3 lĩnh vực chủ yếu.
2.1. Đấu thầu tuyển chọn tư vấn
Trong đầu tư để thực hiện tốt tất cả các quá trình từ bước xác định dự
án, chuẩn bị báo cáo tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi đến tổ chức
thực hiện giám sát quá trình xây dựng … cần có đội ngũ chuyên gia có kinh
nghiệm và có đủ kiến thức về khoa học kỹ thuật hiện đại trên thế giới để làm
công tác tư vấn, phục vụ cho các quá trình này. Do đó nhà tài trợ trong quá
trình đấu thầu thường yêu cầu chủ đầu tư tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn.
Đối tượng chọn để mua là các dịch vụ tư vấn của các chuyên gia bao gồm
các công việc:
Tư vấn chuẩn bị đầu tư:
+ Lập báo cáo nghiên cứu khả thi
+ Thẩm định các báo cáo nghiên cứu khả thi
Tư vấn thực hiện đầu tư :

Đây là hình thức lựa chọn ra sự cạnh tranh cao nhất do vậy sẽ đưa tới
hiệu quả tốt nhất. Theo hình thức này Bên mơi thầu phải thông báo mời thầu
ít nhất 10 ngày trên tờ báo về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của Nhà
nước và phải dành đủ thời gian cho nhà thầu chuẩn bị HSDT của mình theo
yêu cầu của HSMT ( tối thiểu là 15 ngày đối với đấu thầu trong nước và 30
ngày đối với đấu thầu quốc tế ). Mọi nhà thầu có đủ tư cách hợp lệ theo quy
định tại Điều 7 và Điều 8 của luật, đều có thể đăng ký tham dự cuộc thầu.
Theo hình thức này, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự, trong HSMT
không đươcj nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà
thầu hoặc nhằm lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu nào đó.
3.2. Nhóm 2 – Các hình thức lựa chọn khác:
- Đấu thầu hạn chế (Điều 19 – Luật ĐT)
Hình thức này đươc áp dụng cho một số gói thầu khi có tính đặc thù
như yêu cầu của nhà tài trợ, chỉ có một số nhất định nhà thầu có khả năng
đáp ứng yêu cầu của gói thầu do gói thầu có yêu cầu về kỹ thuật.
Đối với hình thức nàyn yêu cầu phải mời tối thiểu 5 nhà thầu tham dự,
trương hợp thực tế chỉ có ít hơn 5, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền
xem xét, quyết định.
HSMT trong đấu thầu hạn chế cũng phải đảm bảo tính cạnh tranh như
HSMT đối với đấu thầu rộng rãi.
- Chỉ định thầu (Điều 20- Luật ĐT)
Đây là hình thức cho phép lựa chọn một nhà thầu được xác định là có
đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và theo quy
trình do Chính phủ quy định. Theo đó, Bên mời thầu vẫn phải đưa ra các yêu
cầu đối với gói thầu ( tương tự như HSMT) để nhà thầu chuẩn bị đề xuất
(tương tự như HSMT). Tiếp do bên mời thầu vẫn phải đánh giá đề xuất của
nhà thầu so với các yêu cầu của gói thầu, nếu đạt yêu cầu thì phê duyệt kết
quả chỉ định thầu theo quy định và mời nhà thầu này vào thương thảo hợp
đồng để ký kết. Đồng thời, dự toán đối với gói thầu phải được duyệt theo quy
định để có cơ sở cho việc quyết định chỉ định thầu.

không thể áp dụng được một trong các hình thức nêu trên. Khi đó chủ đầu tư
cần lập phương án lựa chọn nhà thầu sao cho đảm bảo mục tiêu cạnh tranh
và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Như vậy, tùy theo đặc thù của từng gói thầu mà người có thẩm quyền
cho phép áp dụng thông qua việc phê duyệt Kế hoạch Đầu tư của Dự án (
hoặc kế hoạch đầu tư đối với một vài gói thầu thực hiện trước) để làm cơ sở
pháp lý cho chủ đầu tư triển khai thực hiện. Theo Điều 60, người có thẩm
quyền chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định cho phép áp dụng hình
thức lựa chọn nhà thầu nào đó trong Kế hoạch Đầu tư.
4. Phương thức đấu thầu :
Theo Điều 26 Luật Đấu thầu quy định có các phương thức đấu thầu
sau:
- Phương thức một túi hồ sơ:
Theo phươnng thức này các HSDT ( nộp đúng hạn ) đều được mở
công khai trong buổi mở thầu, bao gồm các nội dung cơ bản của HSDT và
giá dự thầu. Phương thức này áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa,
xây lắp, gói thầu sử dụng hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế.
- Phương thức hai túi hồ sơ:
Theo phương thức này trong buổi mở thầu đầu tiên người ta chỉ mở
công khai các nội dung về mặt kỹ thuật của mỗi HSDT nộp đúng hạn. Sau đó
ngươi ta tiếp tục mở HSDT về mặt tài chính của các HSDT được đánh giá là
đáp ứng về mặt kỹ thuật. Đối với gói thầu tư vấn có yêu cầu kỹ thuật cao thì
đề xuất tài chính của nhà thầu có điểm kỹ thuật cao nhất sẽ đươc mở để xem
xét.
- Phương thức đấu thầu 2 giai đoạn:
Phương thức này áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây
lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, dạng. Ở giai đoạn 1
nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật, phương án tài chính ( chưa có giá ) để làm cơ
sơ thảo luận với Bên mời thầu. Ơ giai đoạn 2 các nhà thầu mới nộp HSDT
chính thức có giá dự thầu và thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu.

tranh.
Đấu thầu giúp nhà thầu đầu tư có trọng điểm giúp nâng cao năng lực
và công nghệ. Hoàn thiện các mặt quản lý, nâng cao năng lực của đội ngũ
cán bộ.
Đấu thầu còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nhà thầu mới
xuất hiện trên thị trường vì nếu thành công sẽ mang lại cơ hội để phát triển.
5.3. Đối với Nhà nước
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế mở, với nhiều công trình có quy
mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp đấu thầu là phương thức hiệu quả để xây
dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của đất nước.
Đấu thầu còn được xem như một phương pháp quản lý dự án có hiệu
quả nhất, được xem như là nguyên tắc trong quản lý dự án của Nhà nước.
Đấu thầu là phương thức phù hợp với thông lệ quốc tế cho nên nó tạo
ra môi trường thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường xây
dựng Việt Nam.
Công tác quản lý Nhà nước về đấu thầu trong đầu tư xây dựng ngày
càng hoàn thiện góp phần chống tham nhũng đồng thời tạo môi trường tốt
cho các doanh nghiệp hoạt động.
6. Hiệu quả mời thầu
Chủ dự án thực hiện công tác đấu thầu với mục đích lựa chọn được
nhà thầu phù hợp thực hiện các công việc đầu tư của đơn vị mình, theo đó thì
“hiệu quả đấu thầu” là:
- Khả năng xem xét và lựa chọn được nhà thầu tin tưởng;
- Khả năng tiết kiệm chi phí về vốn đầu tư;
- Khả năng dự án thực thi đúng tiến độ, chất lượng;
- Khả năng thực thi quyền làm chủ của chủ đầu tư: kiểm tra, giám
sát;
- Khả năng được hưởng những nghĩa vụ sau dự án: bảo trì, hướng
dẫn;
- Khả năng khác: nâng cao trình độ quản lý, kinh nghiệm, hạn chế


P. Dự án
Trưởng ban
Phó ban Phó ban
P. Giải phóng
mặt bằng
P. Tổ chức -
Hành chính
P.Kế toán
P. Tư vấn
giám sát
2.2. Phó Ban quản lý Dự án:
Phó ban là người giúp việc trực tiếp cho Trưởng ban quản lý Dự án
theo từng lĩnh vực được phân công, ủy nhiệm và chịu trách nhiệm trước
Trưởng ban và pháp luật về công việc được giao.
2.3. Phòng Tổ chức – Hành chính:
Phòng có trách nhiệm xây dựng chương trình kế hoạch công tác hàng
tuần, hàng tháng của Ban. Và phân công công việc theo hướng quy định rõ
trách nhiệm, quyền hạn, thời gian và yêu cầu cụ thể của từng công việc.
Thường xuyên đôn đốc kiểm tra tiến độ của các công việc của Ban để báo
cáo với Trưởng ban hoặc Phó ban phụ trách.
2.4. Phòng kế toán:
 Chức năng:
Quản lý tài chính của Ban theo đúng Pháp lệnh Kế toán Thống kê và
các quy định hiện hành của Nhà nước và của công ty.
 Nhiệm vụ:
Phối hợp với các phòng ban chuyên môn tổ chức nghiệm thu, thanh
quyết toán các hợp đồng kinh tế, làm các báo cáo theo yêu cầu của Trưởng
ban và của cơ quan Thuế.
Quản lý, cung cấp, xác nhận các số liệu, chứng từ liên quan đến tài

và giao nhận thầu xây dựng. Hai phương thức trên có một số ưu khuyết điểm
nhất định như:
- Đối với phương thức tự làm: tạo điều kiện cho chủ đầu tư thi công
theo đúng ý đồ của mình, đảm bảo cả về thời gian và chất lượng công trình.
Nhưng phương thức tự làm mang tính chất tự cung, tự cấp, một phần
nào đó để bỏ qua các thiếu sót trong thủ tục xây dựng cơ bản, vì vậy hình
thức này không tạo điều kiện để lập nên các tổ chức chuyên nghiệp, dẫn đến
năng suất và hiệu quả xây lắp không cao. Hơn nữa hoạt động xây lắp không
phải là hoạt động cơ bản của chủ đầu tư, do đó mức độ quan tâm cũng như số
vốn bỏ ra để mua sắm thiết bị máy móc phục vụ cho thi công là hạn chế đội
ngũ cán bộ quản lý cũng như công nhân kỹ thuật, không được tạo điều kiện
để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và phương thức này chỉ có thể áp dụng
cho những công trình qui mô nhỏ, yêu cầu về kỹ thuật đơn.
- Còn phương thức giao nhận thầu: có cơ sở để hạ giá thành công trình
xây dựng. Mặt trái của giao nhận thầu là hiện tượng mua bán thầu, cho nên
có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy, việc thực
hiện phương thức giao nhận thầu gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Nhiều
hiện tượng cửa quyền, tiêu cực diễn ra trong quá trình đầu tư. Kết quả là có
những công trình phải thi công với bất cứ giá nào, chất lượng công trình
giảm sút rõ rệt, hiệu quả kém, có công trình thi công xong đưa vào sử dụng
thì phát hiện ra không đảm bảo chất lượng hoặc không phát huy hiệu quả.
Những năm gần đây với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước,
chúng ta đang chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước. Cùng với các hoạt động khác, hoạt động
xây dựng cũng trở nên sôi động và hình thành nên thị trường rộng lớn, đòi
hỏi rất khắt khe cả về trình độ khoa học kỹ thuật, con người và tài chính.
Đứng trước sự đòi hỏi của cơ chế kinh tế mới, nhằm khắc phục những
tồn tại của các phương thức tự làm và giao thầu đã sử dụng trước đây, với
mục đích: phát triển toàn diện nền kinh tế. Vào tháng 11/1987, trong Quyết
định 217-HĐBT có đưa ra một số điều qui định về đấu thầu, nhưng không có

định 43/CP. Ngày 23/8/1997 Chính phủ lại ban hành Nghị định 92 và Nghị
định 93/CP nhằm sửa đổi bổ sung điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, qui
chế đấu thầu ban hành theo Nghị định 42 và 43/CP ngày 16/7/1996 .
Đến ngày 01/9/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
88/1999/NĐ-CP , về Quy chế Đấu thầu. Ngày 05/5/2000 Chính phủ ban
hành Nghị Định số 14/2000/NĐ-CP và Nghị định số 66/2003/NĐ-CP để sửa
đổi bổ sung cho Quy chế Đấu thầu.
Đến ngày 29/11/2005 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Đấu Thầu. Luật Đấu Thầu
gồm 66 chương với 77 điều. Luật Đấu Thầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 4 năm 2006.
Như vậy, Luật Đấu Thầu đi vào nước ta như một tất yếu khách quan.
Bởi trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động đều không thể thiếu yếu tố cạnh
tranh, có cạnh tranh thì mới thúc đẩy được mọi ngành, mọi đơn vị kinh tế cơ
sở, nên cạnh tranh trên thị trường xây dựng cơ bản lại càng cần thiết. Đấu
thầu biểu hiện về mặt nội dung của cạnh tranh trên thị trường cơ bản. Đấu
thầu đã, đang và sẽ là phương thức cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện và
thực hiện cùng với sự chuyển đổi và đi lên với các ngành kinh tế khác của cả
nước.
III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC MỜI THẦU Ở BAN QUẢN
LÝ DỰ ÁN TỈNH LẠNG SƠN
Để đánh giá chất lượng công tác tổ chức mời thầu của Ban Quản lý Dự
án Tỉnh Lạng sơn. Ta có thể khảo sát quá trình mời thầu công trình:
Khái quát dự án và thông tin gói thầu:

Trích đoạn Mở Thầu, Xột thầu và trao hợp đồng: ÁP DỤNG Mễ HèNH O.D.C VÀO QUẢN Lí XÂY DỰNG CƠ BẢN ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN Lí VỐN TRONG ĐẤU THẦU LỰA CHỌN PHƯƠNG THỨC XẫT THẦU THÍCH HỢP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status