203
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 71, số 2, năm 2012 TUYỂN CHỌN CHỦNG NẤM Trichoderma spp. PHÂN GIẢI cellulose MẠNH
ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ VI SINH VÀ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI GIỐNG ĐẬU XANH 208 VỤ XUÂN 2011 TẠI HTX
HƯƠNG LONG, THÀNH PHỐ HUẾ
Trần Thị Lệ, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Xuân Kỳ
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Tóm tắt. Đề tài đã tuyển chọn được chủng PC6 có khả năng phân giải cellulose từ
43 chủng nấm Trichoderma spp. đã được phân lập của Viện Tài nguyên môi trường
và Công nghệ sinh học, Đại học Huế. Sau đó chủng nấm Trichoderma PC6 được
phối trộn với chất mang là cám: trấu theo tỷ lệ 1:5 với 10 ml nước cất thanh
trùng cho 0,5 kg. Ủ phân hữu cơ từ rơm rạ với hỗn hợp trên, và so sánh chất
lượng phân bón, khả năng phân giải cellulose với công thức không bổ sung và công
thức bổ sung chế phẩm VIXURA và chế phẩm chức năng của Viện vi sinh vật và
Công nghệ sinh học, Đại học quốc gia Hà Nội. Kết quả thí nghiệm cho thấy công
thức bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật Đại học Quốc gia Hà Nội (công thức
II) cho chất lượng phân tốt nhất. Sau đó chúng tôi thử nghiệm ảnh hưởng của 3 loại
phân này với lượng thay thế phân chuồng khác nhau (0, 50, 60 và 100%) trên giống
Đậu xanh cao sản 208 tại HTX Hương Long, thành phố Huế. Kết quả cho thấy
phân hữu cơ vi sinh được ủ với chế phẩm của Viện vi sinh vật và Công nghệ sinh
học với lượng thay thế phân chuồng 60% cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao
hơn so các loại phân hữu cơ vi sinh và các mức thay thế còn lại, năng suất lý thuyết
và năng suất thực thu đạt tương ứng là 17,27 tạ/ha và 12,44 tạ/ha.
nấm Trichoderma PC6 chúng tôi tiến hành tạo hỗn hợp nấm với chất mang là cám:
trấu với tỷ lệ 1:5 với 10 ml nước cất thanh trùng cho 0,5 kg. Tiến hành nuôi ở nhiệt
độ phòng thí nghiệm và sau 6 ngày đếm số lượng bào tử, kết quả thu được là:
4,067x10
8
CFU/g, phù hợp với tiêu chuẩn về chế phẩm vi sinh (>10
8
CFU/g) của
Công ty TNHH vi sinh môi trường [3].
2.2.2. Thí nghiệm ủ phân hữu cơ từ rơm rạ có sử dụng và không sử dụng chế
phẩm sinh học
Thí nghiệm gồm 3 công thức (I: Không bổ sung chế phẩm, II: Ủ với chế phẩm của
Viện VSV-CNSH, III: Ủ với hỗn hợp Trichoderma PC6).được thực hiện ở phòng thí
nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế.
2.2.3. Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ tạo ra đến sinh
trưởng, phát triển và năng suất giống đậu xanh 208 trên đất phù sa hợp tác xã Hương
Long, thành phố Huế.
Thí nghiệm gồm 8 công thức 3 lần nhắc lại được bố trí theo phương pháp khối
hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB). Lượng phân bón/ha ở các công thức cụ thể như sau:
Công thức I (Đ/C): Nền + 5 tấn phân chuồng
Công thức II: Nền + 2 tấn phân chuồng + 3 tấn phân ủ II
Công thức III: Nền + 2,5 tấn phân chuồng + 2,5 tấn phân ủ II
Công thức IV: Nền + 5 tấn phân ủ II
Công thức V: Nền + 2 tấn phân chuồng + 3 tấn phân ủ III
Công thức VI: Nền + 2,5 tấn phân chuồng + 2,5 tấn phân ủ III 205
Công thức VII: Nền + 2 tấn phân chuồng + 3 tấn phân ủ I
3.2. Thí nghiệm ủ phân hữu cơ từ rơm rạ có sử dụng và không sử dụng chế
phẩm sinh học
Chúng tôi đánh giá hiệu quả của quá trình phân giải chất hữu cơ thông qua đánh
giá hàm lượng cellulose của phân ủ và chất lượng phân ủ.
Qua bảng 1 chúng ta thấy trước khi bổ sung chế phẩm thì các công thức thí
nghiệm có hàm lượng cellulose tương đương nhau. Khi kết thúc ủ, ở cả 3 công thức,
hàm lượng cellulose giảm xuống và dao động từ 22,77% đến 28,12%. Như vậy, trong
quá trình ủ phân, vi sinh vật có sẵn trong rơm rạ và được bổ sung thêm đã phân hủy
cellulose làm cho hàm lượng cellulose giảm đáng kể. Trong đó, công thức II ủ với chế
phẩm của Viện VSV-CNSH có hàm lượng cellulose nhỏ hơn so với công thức I và III và 206
sai khác có ý nghĩa thống kê với 2 công thức ủ còn lại.
Bảng 1. Ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học đến khả năng phân giải cellulose và chất lượng
phân bón
Hàm lượng cellulose (%) Chất lượng phân bón (%)
Công thức
Bắt đầu ủ Kết thúc ủ
N tổng
số
P
2
O
5
tổng số
K
2
O
hàm lượng đạm, lân, kali tổng số đạt tương ứng là: 1,15%; 0,29%; 3,59% [4]. Hàm
lượng nitơ tổng số ở công thức II và III đều cao hơn kết quả của nhóm tác giả trên,
tương ứng là 1,30 và 1,27%. Tương tự, hàm lượng lân tổng số của cả 3 công thức ủ
đều cao hơn so với kết quả của nhóm tác giả trên; trong đó, cao nhất là ở công thức I
(0,45%), tiếp đến công thức III (0,39%) và công thức II (0,35%). Tuy nhiên, so với
kết quả của nhóm tác giả trên thì hàm lượng kali tổng số ở cả 3 công thức đều ở mức
thấp, trong đó ở công thức III có hàm lượng cao nhất (0,96%).
3.3. Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ tạo ra đến sinh trưởng, phát triển
và năng suất giống đậu xanh 208 trên đất phù sa hợp tác xã Hương Long, thành phố
Huế.
3.3.1. Ảnh hưởng của các loại phân và lượng bón đến chiều cao thân chính của
giống đậu xanh 208 qua các thời kỳ
Chiều cao cây của các giống đậu xanh tăng dần theo sự sinh trưởng và phát triển
của cây và đạt lớn nhất vào thời kỳ thu hoạch. Ở cùng một thời kỳ sinh trưởng cùng một
lượng phân chuồng và lượng phân hữu cơ vi sinh như nhau, nhưng phân được ủ với các
nguồn vi sinh vật khác nhau thì chiều cao cây đậu xanh có sự sai khác nhau có ý nghĩa
về mặt thống kê. 207
Bảng 2. Ảnh hưởng của phân bón đến chiều cao cây đậu xanh ở các thời kỳ của các công thức
thí nghiệm (cm)
Công thức Phân cành Ra hoa Tạo quả Thu hoạch
I. 100% phân chuồng 19,67
b
36,54
a
41,47
b
55,80
c
VII. Thay 60% phân ủ I 19,91
b
36,87
b
42,98
a
57,61
a
LSD
0,05
0,44 0,19 0,83 0,28
III. Thay 50% phân ủ II 21,81
a
38,07
a
45,92
a
58,33
a
VI. Thay 50% phân ủ III 20,93
b
36,58
c
42,76
c
3.3.2. Ảnh hưởng của các loại phân và lượng bón đến sự ra hoa của giống đậu
xanh 208
Bảng 3. Ảnh hưởng của phân bón đến sự ra hoa của đậu xanh ở các công thức thí nghiệm
Công thức
Thời gian ra
hoa (ngày)
Tổng số hoa
(hoa/cây)
Tỷ lệ hoa hữu
hiệu (%)
I. 100% phân chuồng 18,43
a
20,03
b
40,12
a
IV.Thay 100% phân ủ II 16,76
b
26,06
a
31,77
b
LSD
0,05
1,65 0,28 2,50
II. Thay 60% phân ủ II 16,33
b
29,96
25,20
c
32,87
b
VIII. Thay 50% phân ủ I 17,83
a
28,23
a
31,23
c
LSD
0,05
0,37 0,64 1,20
(Chú ý: Các công thức giống nhau biểu thị cùng một chữ cái. Các chữ cái khác nhau
biểu thị sự sai khác nhau ở mức 0,05).
Thời gian ra hoa của đậu xanh biến động từ 16,33 ngày đến 18,43 ngày, trong đó
công thức I là công thức có thời gian ra hoa dài nhất (18,43 ngày) và sai khác có ý nghĩa
thống kê với các công thức còn lại. Ở lượng thay thế 60% phân chuồng bằng phân hữu
cơ vi sinh thì loại phân ủ có bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật, Đại học Quốc gia
Hà Nội (công thức II) có thời gian ra hoa ngắn hơn có ý nghĩa thông kê so với các công
thức còn lại (công thức V và VII).
Tổng số hoa/cây cũng có sự thay đổi theo lượng thay thế phân chuồng và các
loại phân ủ khác nhau. Trong đó, công thức II (thay 60% phân ủ II) là công thức có tổng
số hoa lớn nhất đạt 29,96 hoa/cây và công thức I (100% phân chuồng) có số hoa thấp
nhất (20,03 hoa/cây).
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ hoa hữu hiệu biến động từ 31,23% đến
40,12%. Tuy nhiên, tỷ lệ này tương đối thấp là do có mưa to vào thời gian nở hoa.
Bảng 5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm
Công
thức
Tổng số
quả
(quả/cây)
Số quả
chắc
(quả/cây)
Số hạt
chắc
(hạt/quả)
P100
quả
(g)
P1000
hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha)
NSTT
(tạ/ha)
I 13,23
f
8,00
e
7,05
h
119,50
f
11,07
a
138,83
a
53,44
d
17,27
a
12,44
a
V 15,70
bc
9,96
b
8,61
e
126,17
de
55,88
b
13,32
c
10,77
b
VII 15,90
b
8,93
d
9,55
c
134,00
b
51,44
f
11,27
e
9,44
d
VIII 14,63
d
8,80
d
9,17
d
127,83
d
54,33
c
12,18
d
9,16
d
LSD
0,05
0,29 0,38 0,10 2,15 0,46 0,62 0,55
0
5,000
10,000
15,000
20,000
I II III IV V VI VII VIII
Công thức
N ă n g s u ấ t (tạ / h a )
NSLT
NSTT
Hình 4. Năng suất đậu xanh ở các công thức thí nghiệm
Năng suất thực thu: Đây là kết quả cuối cùng để đánh giá hiệu quả của việc
phun các loại phân bón lá khác nhau, là năng suất thực có được sau mùa thu hoạch.
Năng suất thực thu dao động từ 7,77 đến 12,44 tạ/ha. Trong đó công thức II đạt năng suất
cao nhất và sai khác có ý nghĩa về mặt thống kê so với các công thức còn lại.
Cùng một loại phân hữu cơ vi sinh khi mà tăng hàm lượng thay thế phân chuồng
lên 60% thì cho năng suất thực thu cao hơn so với hàm lượng thay thế 50%. Biểu hiện là
công thức II bón với hàm lượng thay thế phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh là 60%
cho năng suất cao 12,44 tạ/ha cao hơn so với công thức III bón với hàm lượng thay thế
phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh là 50% đạt 11,00 tạ/ha.
Tùy vào loại vi sinh vật bổ sung vào để ủ phân hữu cơ vi sinh cũng làm thay đổi
năng suất thực thu của đậu xanh. Với cùng mức phân chuồng là 2 tấn/ha khi thay đổi
loại phân hữu cơ vi sinh, phân có bổ sung chế phẩm của Viện vi sinh vật Đại học Quốc
gia Hà Nội cho năng suất lớn hơn so với công thức có bón phân hữu cơ bổ sung vi sinh
vật tự nhiên và nấm Trichoderma spp. của Viện Tài nguyên và Công nghệ sinh học -
Đại học Huế cung cấp. Kết quả thu được như vậy vì chế phẩm của Viện Vi sinh vật Đại
học Quốc gia Hà Nội có bổ sung nhiều loại vi sinh vật như thế sẽ hạn chế được các yếu
tố có hại cho cây và làm cho cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn.
học
Phân
chuồng
Phân
hữu
cơ vi
sinh
Công
chăm
sóc
Tổng chi
(1000
đồng/ha)
NSTT
(tạ/ha)
Tổng thu
(1000
đồng/ha)
Lãi (1000
đồng/ha)
I 640 1020
500 0 400 2.560 7,833 23.499 20.939
IV 640 1020
33.000 28.415
VI 640 1020
250 1975
400 4.285 9,444 28.332 25.647
VIII 640 1020
250 1750
400 4.060 9,167 27.501 23.441
Qua bảng 6 ta thấy:
Khi thay thế phân chuồng bằng một phần phân hữu cơ vi sinh áp dụng trên
đậu xanh tại HTX Kim Long, Thừa Thiên Huế cho năng suất thực thu hầu hết cao
hơn so với bón toàn bộ phân chuồng từ 1,334 tạ/ha đến 6,611 tạ/ha. Trong đó, công
thức thay thế toàn bộ phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh cho năng suất thực thu
thấp hơn so với đối chứng, dẫn đến lãi thấp nhất chỉ đạt 16.724.000 đồng, do là khi
thay thế toàn bộ phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh thì làm cho chi phí bỏ ra lớn
cho nên hiệu quả thu lại thấp. Công thức II với phân hữu cơ vi sinh được bổ sung
chế phẩm của Viện VSV-CNSH, Đại học Quốc gia Hà Nội cho lãi cao nhất
32.342.000 đồng/ha.
4. Kết luận 213
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi có một số kết luận sau:
- Chủng PC6 có khả năng phân giải cellulose mạnh, ở 48 giờ kích thước vòng
phân giải đạt 18,33 mm và 56 giờ là 25,33 mm.
- Phân hữu cơ vi sinh có bổ sung chế phẩm của Viện VSV-CNSH, Đại học Quốc
CELLULOSE FOR BIOLOGICAL FERTILIZER PRODUCTION AND 214
RESEARCH ON THEIR INFLUENCE ON LEGUMINOUS GREEN 208 IN
SPRING 2011 IN HUONG LONG COMMUNITY, HUE CITY
Tran Thi Le, Tran Thi Thu Ha, Nguyen Thi Thanh, Nguyen Xuan Ky
College of Agriculture and Forestry, Hue University
Abstract. The Strain PC6 with the strongest cellulose resolution was chosen from
43 races of fungi Trichoderma spp and was isolated by the Institute for Natural
Resources and Environment and Biotechnology, Hue University. Then, it was
mixed with bran and rice husk at the rate 1:5 with 10 ml sterilized distilled water
for 0,5 kg. Straw was fermented with this mixture and compared its quality with
the fertilizers with and without the bio-products of Microbiology and
Biotechnology Institute-Hanoi National University. The results showed that the
supplement formula of the Institute (Formula II) gives the best fertilizer quality.
After that, we tested the effects of three fertilizers with different amounts of manure
(0, 50, 60, and 100% respectively) over leguminous green var. 208 in Huong Long
commune, Hue city. As a result, the leguminous green was fertilizered with bio-
products from Microbiology and Biotechnology Institute-Hanoi National
University with 60% of manure reaching the theory and real productivity 17.27 and
12.44 Quintal/ha respectively.
Keywords: Cellulose, Leguminous green var. 208, Trichoderma spp., Biological
fertilizer.