VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀI SANH
ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. Hồ Sĩ Quý
2. TS. Nguyễn Văn Dũng
Hà Nội, năm 2013
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀI SANH
ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
2
Hà Nội, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Các kết luận khoa học
của luận án chưa từng công bố trên bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
72
3.2. Vấn đề mối quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn giáo với văn hóa
84
3.3. Vấn đề mối quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn giáo với đạo đức
96
Chương 4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH VỀ ĐỜI SỐNG
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
109
4.1. Vấn đề lịch sử và đặc điểm của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
Nam
110
4.2. Vấn đề gia tăng các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã
hội hiện nay
115
4.3. Vấn đề quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam
trong những năm gần đây
137
4.4. Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo vì sự phát triển đất nước
146
KẾT LUẬN
153
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
156
TÀI LIỆU THAM KHẢO
157
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội đã tồn tại từ lâu cùng với
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Những năm gần đây,
cùng với xu hướng đổi mới toàn diện đất nước và sự thay đổi quan trọng
trong đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam diễn ra hết sức sôi động và không kém phần
phức tạp, ảnh hưởng mạnh mẽ, toàn diện đến đời sống tinh thần của bộ phận
lớn người dân; tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Với sự “phục
hưng” của tín ngưỡng truyền thống, hay sự “thức tỉnh tôn giáo”, đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đang diễn ra vô cùng phong phú. Có thể nói, lần
đầu tiên xuất hiện nhiều biểu hiện, nhiều xu hướng rất đáng được quan tâm,
như: tình trạng cải đạo, bỏ đạo, tình trạng từ bỏ một số hình thức tín ngưỡng
truyền thống của đồng bào miền núi để theo tôn giáo mới. Một xu hướng khác
là xu hướng thế tục hóa tôn giáo cũng diễn ra khá mạnh mẽ. Các hoạt động xã
hội như hoạt động từ thiện, cứu tế được các tôn giáo quan tâm thực hiện trên
quy mô lớn; tình trạng truyền giáo của các nhà đầu tư nước ngoài lan rộng tại
nhiều địa phương; một số hình thức tín ngưỡng lạ được cộng đồng người Việt
đã từng lao động ở nước ngoài mang về kèm theo những nét mới trong các
hoạt động truyền giáo và sinh hoạt tín ngưỡng… Ngoài ra, ngay trong tín
ngưỡng truyền thống, bên cạnh việc gia tăng các hoạt động thờ cúng vốn đã
có lịch sử lâu đời lại xuất hiện nhiều biểu hiện mới (hoặc không mới nhưng ở
một mức độ phổ biến hơn) như lên đồng, cầu siêu, giải hạn, cầu an, tìm mộ,
gọi hồn, …
Cùng với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra bình thường trong
khuôn khổ pháp luật, đã xuất hiện nhiều hiện tượng đáng lo ngại, tiềm ẩn
2
nhiều nguy cơ đối với xã hội. Chẳng hạn, đã có tình trạng nhân danh truyền
giáo để thực hiện những mục đích phi tôn giáo, gây mất ổn định xã hội, phá
vỡ kết cấu xã hội truyền thống, ảnh hưởng đến việc bảo tồn bản sắc văn hóa
cổ truyền. Các hoạt động hành lễ mang tính chất mê tín, dị đoan; các hiện
tượng tệ nạn xã hội ăn theo sự bùng phát lễ hội làm méo mó đời sống lễ hội
ảnh hưởng xấu đến thuần phong mĩ tục và trật tự an toàn xã hội… Cũng đã
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hệ thống hóa, góp phần làm rõ các quan điểm cơ bản về tín ngưỡng,
tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo.
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cấp bách trong đời sống tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong thực tiễn đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
- Bước đầu đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm giải quyết tốt
vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển đất nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là đời sống
tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990, kể từ khi có Nghị quyết 24-
NQ/TW (ngày 16 tháng 10 năm 1990) đến nay.
Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo là khái niệm rất rộng, vì thế có nhiều
cách tiếp cận. Chúng tôi tán thành quan điểm của Từ điển Bách khoa về tôn
giáo (Encyclopedia of Religion), theo đó “Đời sống tôn giáo bao hàm toàn
bộ các quan hệ nội bộ của tôn giáo và các quan hệ giữa tôn giáo với xã
hội” [dẫn theo 155]. Trên cơ sở quan niệm này, chúng tôi cũng sẽ đưa ra
định nghĩa riêng nhằm chi tiết hóa để dễ thao tác hơn (xem phần 2.4).
4
Phạm vi nghiên cứu: Cả hai mặt của đời sống tôn giáo được xác định
như trên là rất phong phú, việc xem xét cả hai mặt đó một cách chi tiết, cụ
thể thì chắc chắn không thể có công trình nghiên cứu nào bao quát hết
được. Trong khuôn khổ của một Luận án tiến sĩ triết học, mã ngành Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, công trình này không đi sâu
chuyên nghiên cứu về bản thân các tín ngưỡng, tôn giáo với tính cách là toàn bộ
các quan hệ nội bộ của các tôn giáo cũng như các biểu hiện thực hành đa dạng
của chúng. Chúng tôi, từ cách tiếp cận của mình, chủ yếu muốn nghiên cứu, tìm
hiểu về vị thế, vai trò và sự ảnh hưởng, tác động của tín ngưỡng, tôn giáo tới một
số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội; đồng thời lựa chọn nghiên cứu một số
vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự phát triển
đất nước.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy và tư vấn chính sách về những vấn đề thuộc đời sống tín ngưỡng,
tôn giáo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần củng cố nhận thức lý luận về tín ngưỡng, tôn giáo và
đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; làm rõ các vấn đề thực tiễn cấp bách trong đời
sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Việc nghiên đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn góp phần cung cấp cơ sở
khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng
dạy và học tập những vấn đề thuộc đề tài tín ngưỡng, tôn giáo và chủ nghĩa
vô thần khoa học. Luận án cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai
quan tâm đến đề tài này.
6
7. Kết cấu của luận án
Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục các bài
viết của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, nội
dung chính của luận án gồm 04 chương, 13 tiết và kết luận các chương.
7
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu của nước ngoài
Từ lâu, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đã
được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới. Những công trình đó đã
gợi mở những cách nhìn nhận, đánh giá nhiều chiều đối với tôn giáo. Sau đây
chúng tôi xin đề cập chi tiết hơn tình hình nghiên cứu nói trên qua một số tác
phẩm đáng chú ý với các tác giả tiêu biểu được biết đến ở Việt Nam.
Trong các năm 1997 đến 2005, Viện Thông tin Khoa học Xã hội đã sưu
tầm, dịch và giới thiệu nhiều bài viết của các học giả nước ngoài nghiên cứu
về vấn đề tôn giáo trong xã hội hiện đại, xuất bản bộ sách gồm 5 tập Tôn giáo
và đời sống hiện đại. Đáng chú ý, cuốn sách có một số bài nghiên cứu sự thay
đổi của đời sống tôn giáo trong xã hội hiện đại, trước sự tác động của toàn cầu
hóa kinh tế, nhất là các tác giả Trung Quốc.
Những năm gần đây có một số tác phẩm đáng chú ý của các học giả
Trung Quốc cũng đã được dịch và phổ biến ở nước ta. Có thể kể tác giả Trác
Tân Bình, nhà nghiên cứu có nhiều công trình về tôn giáo của Trung Quốc. Tác
phẩm Lý giải tôn giáo của ông (Trần Nghĩa Phương, dịch), Nxb. Hà Nội, 2007
đã gây được sự chú ý trong giới nghiên cứu tôn giáo ở Việt Nam. Trong công
trình này, những vấn đề cơ bản của tôn giáo như tôn giáo là gì? Bản chất tôn
giáo? Vai trò của tôn giáo trong xã hội hiện đại… đã được ông lý giải. Tác giả
đặc biệt coi trọng vai trò của tôn giáo và vai trò của công tác nghiên cứu tôn
giáo, đi sâu nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài của các tôn giáo, đồng thời
phân tích kết cấu nội tại của chúng nhằm đạt đến sự lý giải chân thực thế giới
tâm linh tôn giáo, qua đó làm nổi bật mối quan hệ khách quan gắn bó giữa tôn
giáo với đời sống hiện thực của nhân loại. Trong công trình này, tác giả cũng đã
nghiên cứu về tôn giáo Trung Quốc đương đại và giới thiệu một số tôn giáo lớn
trên thế giới.
9
Trương Chí Cương có tác phẩm Tôn giáo học là gì? (Trần Nghĩa
Phương, dịch), Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2007. Tác phẩm đã giải
thích bản chất của tôn giáo theo quan điểm của các nhà xã hội học, tâm lý học
nổi tiếng trên thế giới như Emile Durkheim, William James, Paul Tillich, Max
Weber, Max Müller, v.v… Các vấn đề cơ bản của tôn giáo như bản chất của
tôn giáo, tính giao thoa của tôn giáo cũng như mối quan hệ giữa tôn giáo và
thế giới tinh thần của con người trên ba phương diện lý trí, tình cảm, ý chí
đã được tác giả nghiên cứu.
Cuốn Vũ trụ trong một nguyên tử sự hội tụ của khoa học và tâm linh
ý. Câu hỏi mà nhiều người quan tâm là, ở một quốc gia văn minh vật chất
phát triển hàng đầu thế giới hiện nay, tôn giáo có vai trò gì? Tác giả, sau khi
giới thiệu các tôn giáo ở Mỹ đã tập trung nghiên cứu một cách tổng thể đời
sống tôn giáo Mỹ đương đại, làm rõ mối quan hệ của người dân Mỹ với tôn
giáo, lý giải sự ảnh hưởng sâu sắc của tôn giáo trong xã hội Mỹ, nơi hàng
năm có đến 5.200 triệu lượt người tham gia các hoạt động tôn giáo; nơi tôn
giáo có mặt ở hầu khắp các hoạt động thế tục, nơi nhiều trường đại học danh
tiếng (và nổi tiếng trên toàn thế giới) do nhà thờ sáng lập. Tôn giáo đã cắm rễ
rất sâu trong xã hội Mỹ, có ảnh hưởng rất rộng lớn đối với quốc gia này.
Nước Mỹ, vì thế, được xem là quốc gia thế tục nhất và cũng là quốc gia có
tính tôn giáo mạnh trên thế giới nhất [xem 116].
Lưu Bành còn có nghiên cứu Vốn xã hội của đoàn thể tôn giáo Mỹ,
Trần Nghĩa Phương dịch, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2, 3/2010 tiếp tục
nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội nước Mỹ.
Tác giả đi sâu phân tích vốn xã hội to lớn của đoàn thể tôn giáo ở quốc gia
này, cho rằng, nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cụ thể khác nhau
đã tạo ra sự bảo đảm cho tổ chức tôn giáo tham dự vào hoạt động xã hội. Các
tổ chức tôn giáo ở Mỹ nắm giữ nguồn vốn xã hội phong phú, sử dụng nó
11
thông qua việc triển khai các hoạt động tôn giáo và thế tục phục vụ tín đồ và
xã hội, mở rộng tầm ảnh hưởng đối với xã hội. Các đoàn thể tôn giáo có mặt
khắp nơi ở Mỹ đã sử dụng cực kỳ hiệu quả vốn xã hội, phản ứng nhanh chóng
các vấn đề xã hội làm cho công năng xã hội của tổ chức tôn giáo Mỹ được
đánh giá là vượt xa các nước khác trên thế giới.
Sang Gyoo Lee có công trình Đạo Tin Lành có ảnh hưởng đến Hàn
Quốc như thế nào (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/2012) tập trung nghiên
cứu ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến xã hội Hàn Quốc. Tác giả cho rằng, ảnh
hưởng của đạo Tin Lành đối với xã hội Hàn Quốc thể hiện trên mấy phương
diện cơ bản như: thúc đẩy hiện đại hóa xã hội ở quốc gia này thông qua nền
giáo dục và y tế hiện đại; bài trừ mê tín dị đoan; chú trọng giải phóng phụ nữ,
lượng ủng hộ và chống lại mô hình kinh tế tôn giáo; Anthony Gill nghiên cứu
quá trình thế tục hóa và chính sách của các chính phủ. Ông khẳng định: chính
sách của chính phủ đóng vai trò trong việc xác định tôn giáo xã hội. Andrew
Greeley cho rằng Châu âu không hoàn hoàn thế tục, trong xã hội hiện đại tôn
giáo có vai trò rất lớn. Robin Gill đã nghiên cứu các mô hình văn hóa, phân
tích sự suy giảm lòng tin tôn giáo ở Châu Âu hiện đại; Detlef Pollack và Gert
Pickel nghiên cứu về quá trình cá nhân hóa tôn giáo hay thế tục hóa: một nỗ
lực để đánh giá luận điểm của cá nhân hóa tôn giáo ở Đông và Tây Đức sau
khi sát nhập; Monika Wohlrab-Sahr bàn đến vấn đề tôn giáo và khoa học hay
tôn giáo đối đầu khoa học? Trình bày việc quá nhấn mạnh đến sự đối lập tôn
giáo và khoa học và hậu quả lâu dài của nó tại Cộng hòa Dân chủ Đức…
Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tín ngưỡng,
tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đã kể ra ở trên đã phản ánh được
phần nào những vấn đề đang đặt ra với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo trên thế
giới cũng như công tác nghiên cứu tôn giáo. Các vấn đề cơ bản của tôn giáo
đã được nghiên cứu, nhất là dưới khía cạnh thần học; một số công trình cũng
đã phân tích đến các khía cạnh xã hội của tôn giáo. Những công trình đó đã
13
gợi mở những cách nhìn nhận, đánh giá nhiều chiều đối với tôn giáo. Các vấn
đề thuộc đời sống tín ngưỡng, tôn giáo cũng đã được chú ý nghiên cứu ở một số
tác phẩm, nhất là dưới khía cạnh tác động, ảnh hưởng của tôn giáo đối với các
mặt khác của đời sống xã hội; vai trò của các hoạt động tôn giáo đối với sự biến
đổi, phát triển của đời sống xã hội đã được nhìn nhận, đánh giá một cách
khách quan.
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước
Công tác nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam chỉ mới thực sự được quan tâm kể từ năm 1990, khi Bộ
Chính Trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TW (16/10/1990) về tăng cường công tác
tôn giáo trong tình hình mới. Có thể nói, Nghị quyết 24 đã đáp ứng kịp thời
nhu cầu đổi mới về nhận thức tôn giáo và công tác tôn giáo trong tình hình
Nhà nước Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đức Lữ, Nxb. Chính trị - Hành
chính, Hà Nội, 2009; Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo,
Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội,
2003; Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện
nay, Nguyễn Đức Lữ (chủ biên), Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009;
Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam lý luận và thực tiễn, của Đỗ
Quang Hưng, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008; Nghiên cứu tôn giáo
nhân vật và sự kiện của Đỗ Quang Hưng, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh, 2010;…
- Các công trình trực tiếp nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo và đời
sống tín ngưỡng, tôn giáo. Có thể chia các công trình này theo các nhóm sau:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về các vấn đề cơ bản của tín
ngưỡng, tôn giáo. Các công trình này tập trung nghiên cứu, lý giải về nguồn
gốc, bản chất, chức năng, vai trò của tôn giáo nói chung; giúp chúng ta có
những hiểu biết cơ bản nhất về tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức
15
xã hội, một thiết chế xã hội. Có thể kể một số công trình tiêu biểu: Các hình
thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng của X.A. Tocarep, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994; Về tôn giáo, Viện Nghiên cứu tôn giáo,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994; Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiên
nay, Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; Lý
luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, do Nguyễn Đức Lữ chủ
biên, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2007; Lý giải tôn giáo của Trác Tân Bình,
Nxb. Hà Nội, 2007; …
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về các tôn giáo cụ thể, cung
cấp những hiểu biết cơ bản về lịch sử hình thành, phát triển của các tôn giáo
có ảnh hưởng của thế giới và Việt Nam, sự truyền bá, du nhập và lịch sử phát
triển ở Việt Nam cũng như ảnh hưởng của chúng đối với văn hóa và lịch sử
xã hội nước ta. Nhóm các công trình này cũng đã đi sâu tìm hiểu về giáo lý,
nghi lễ, cơ cấu tổ chức hoạt động cũng như những biến đổi trong giáo lý, hành
khoa học từ cấp Viện, cấp Bộ đến cấp Nhà nước điều tra tìm hiểu diễn biến
hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nói chung hoặc một số hiện tượng tín
ngưỡng, tôn giáo cụ thể nào đó, trong một phạm vi không gian cụ thể. Có
thể kể: Một số vấn đề cơ bản về Phật giáo Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020,
Đề tài cấp Bộ 2010, chủ nhiệm: Nguyễn Quốc Tuấn; Sự biến đổi đời sống
tôn giáo Việt Nam trước tác động của toàn cầu hóa, Đề tài cấp bộ 2010, chủ
nhiệm: Nguyễn Phú Lợi; Ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống tinh thần
các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam, Đề tài cấp Bộ 2011, chủ
nhiệm: Nguyễn Bình; Những vấn đề cơ bản về tôn giáo ở Việt Nam giai
đoạn 2011 - 2020, Đề tài cấp Bộ 2011, chủ nhiệm: Nguyễn Hồng Dương;
Một số vấn đề cơ bản về đạo Tin Lành giai đoạn 2011 - 2020, Đề tài cấp Bộ
2012, chủ nhiệm: Nguyễn Xuân Hùng; …
17
Thứ năm, nhóm các công trình, chủ yếu là luận án tiến sĩ, thạc sĩ đi sâu
nghiên cứu về một mặt nào đó của một loại hình tín ngưỡng, một tôn giáo cụ
thể, hay sự tác động, vai trò của tôn giáo nào đó đối với các lĩnh vực của cuộc
sống trong phạm vi vùng, miền hay các nhóm đối tượng dân cư, đặc biệt là sự
ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống tinh thần của người dân. Tiểu biểu:
Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống tinh thần quân nhân ở đơn
vị quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ triết học của Lê Đại
Nghĩa, 1999; Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức xã hội Việt
Nam hiện nay, luận án tiến sĩ triết học của Hoàng Thị Lan, 2005; Ảnh hưởng
của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần xã hội Việt nam hiện nay, của
Lê Văn Lợi, 2008; Đời sống tôn giáo của tín đồ đạo Cao Đài trong bối cảnh
văn hóa Nam Bộ, luận án tiến sĩ triết học của Huỳnh Ngọc Thu, 2008;…
Tất cả các nguồn tư liệu, tài liệu tham khảo phong phú đó đã giúp tác
giả luận án có cái nhìn đầy đủ, vừa toàn thể, vừa chi tiết về tín ngưỡng, tôn
giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở khai
thác có chọn lọc nguồn tư liệu, tài liệu này, tác giả đánh giá được một cách
tổng quan các vấn đề đã được nghiên cứu và nghiên cứu ở mức độ nào, các
cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước trong việc ban hành các
đường lối, chính sách đối với tôn giáo. Công trình Lý luận về tôn giáo và tình
hình tôn giáo ở Việt Nam, (Đặng Nghiêm Vạn, chủ biên, Nxb. CTQG. Hà
Nội, 2001) được các nhà nghiên cứu đánh giá cao. Công trình là kết quả của
Đề tài KHXH - 04 - 06 Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tín
ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam. Chính sách của Đảng và Nhà nước do Đặng
Nghiêm Vạn chủ nhiệm đề tài, nằm trong chương trình KHXH - 04 Xây dựng
con người, phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, do Phạm Minh Hạc chủ trì. Cuốn sách đã nghiên cứu một số vấn đề lý
luận liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo như đối tượng của tôn giáo; các yếu tố
19
cấu thành hình thức một tôn giáo; nhu cầu, vai trò và diễn biến tôn giáo trong
đời sống xã hội; đặc điểm và vai trò của tôn giáo Việt Nam trong đời sống
hiện nay, nhất là đời sống văn hóa trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế
quốc tế. Từ đó, tác giả đề cập đến một số vấn đề về chính sách tôn giáo của
Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay. Ông cũng là người đã công bố nhiều
công trình nghiên cứu có giá trị trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành
nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo.
Năm 1997, cuốn Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với
con người Việt Nam hiện nay do Nguyễn Tài Thư chủ biên được nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia ấn hành. Đây là kết quả của Đề tài cấp Nhà nước KX. 07.
03 (Nguyễn Tài Thư chủ nhiệm đề tài) thuộc chương trình khoa học - công
nghệ KX - 07. Công trình này đã nghiên cứu hình thái, sự tác động của các hệ
tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam từ Nho giáo, Phật giáo,
Công giáo, tín ngưỡng dân gian Việt Nam đến vai trò của Chủ nghĩa Mác -
Lênin. Tùy từng giai đoạn lịch sử, các hệ tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo này
đã có ảnh hưởng, có vai trò khác nhau đối với đời sống xã hội Việt Nam. Các
tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp về công tác tư
tưởng và văn hóa.
Đỗ Quang Hưng - người đã nhiều năm nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn