VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀI SANH
ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CẤP BÁCH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62. 22. 80.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - năm 2013
2
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. Hồ Sĩ Quý
2. TS. Nguyễn Văn Dũng
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương
Khoa Tôn giáo học, Học viện Khoa học xã hội
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Quang Hưng
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
Phản biện 3: GS.TS. Nguyễn Hữu Khiển
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
3
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học Xã hội
vào hồi…………giờ…………phút,
ngày………tháng……….năm………
Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, nghiên cứu một số vấn đề lý luận cấp bách trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay.
Thứ ba, nghiên cứu một số vấn đề cấp bách trong thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
hiện nay.
Thứ tư, bước đầu đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm giải quyết tốt vấn đề tín ngưỡng, tôn
giáo, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển đất nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ
năm 1990, kể từ khi có Nghị quyết 24-NQ/TW (ngày 16 tháng 10 năm 1990) đến nay.
2
Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo là khái niệm rất rộng, vì thế có nhiều cách tiếp cận. Chúng tôi tán thành
quan điểm của Từ điển Bách khoa về tôn giáo (Encyclopedia of Religion), theo đó “Đời sống tôn giáo bao
hàm toàn bộ các quan hệ nội bộ của tôn giáo và các quan hệ giữa tôn giáo với xã hội” [dẫn theo 155].
Phạm vi nghiên cứu: Cả hai mặt của đời sống tôn giáo được xác định như trên là rất phong phú, việc xem
xét cả hai mặt đó một cách chi tiết, cụ thể thì chắc chắn không thể có công trình nghiên cứu nào bao quát hết
được. Trong khuôn khổ của một Luận án tiến sĩ triết học, mã ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, luận án này không đi sâu chuyên nghiên cứu về bản thân các tín ngưỡng, tôn giáo với tính cách là toàn bộ
các quan hệ nội bộ của các tôn giáo cũng như các biểu hiện thực hành đa dạng của chúng. Chúng tôi, từ cách tiếp
cận của mình, chủ yếu muốn nghiên cứu, tìm hiểu về vị thế, vai trò và sự ảnh hưởng, tác động của tín
ngưỡng, tôn giáo tới một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội; đồng thời lựa chọn nghiên cứu một số vấn
đề, hiện tượng thuộc các vấn đề nội tại của tôn giáo, tức các quan hệ nội bộ của tín ngưỡng, tôn giáo,
giới hạn nội dung ở một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đối với Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Luận án còn kế thừa, tiếp thu
có chọn lọc những tư tưởng của một số công trình nghiên cứu khoa học đã có như các bài viết, luận án, các tư liệu điều
tra, khảo sát… có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận án.
3
Về mặt phương pháp, luận án sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch,
cứu về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong tác phẩm này, tác giả đã tập trung nghiên cứu về các hình thức tôn giáo sơ
khai ra đời trong khi xã hội loài người còn chưa phân hóa giai cấp; quá trình phát triển của chúng, tác động và gia
nhập vào các tôn giáo xuất phát trong xã hội có giai cấp.
- Tác phẩm Lý giải tôn giáo của Trác Tân Bình, (Trần Nghĩa Phương, dịch), Nxb. Hà Nội, 2007 đã gây được
sự chú ý trong giới nghiên cứu tôn giáo ở nước ta. Trong công trình này, tác giả đặc biệt coi trọng vai trò của tôn giáo
và vai trò của công tác nghiên cứu tôn giáo, đi sâu nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài của các tôn giáo, đồng thời
phân tích kết cấu nội tại của chúng nhằm đạt đến sự lý giải chân thực thế giới tâm linh tôn giáo, qua đó làm nổi bật mối
5
quan hệ khách quan gắn bó giữa tôn giáo với đời sống hiện thực của nhân loại. Ông cũng đã nghiên cứu về tôn giáo
Trung Quốc đương đại và giới thiệu một số tôn giáo.
- Cuốn Vũ trụ trong một nguyên tử sự hội tụ của khoa học và tâm linh của Đạt Lai Lạt Ma, Nxb. Văn hóa
Sài Gòn, 2008 do Mai Sơn dịch đã khảo sát hai lĩnh vực tri thức quan trọng của nhân loại là khoa học và tâm linh
nhằm phát triển phương pháp nhận thức thế giới, thăm dò sâu xa thế giới hữu hình và vô hình thông qua việc
dùng lý trí để khám phá chứng cứ. Tác giả cho rằng, tâm linh và khoa học là hai lĩnh vực khác nhau nhưng bổ
sung cho nhau nhằm mục tiêu chung lớn lao là tìm kiếm chân lý. Ông cho rằng, có thể khoa học sẽ lĩnh hội được
những điều mới mẽ từ sự kết nối với lĩnh vực tâm linh, đặc biệt vì sự gần gũi của tâm linh với những vấn đề rộng
lớn hơn của con người, từ đạo đức đến xã hội, nhưng chắc chắn có một số phương diện nhất định của tư tưởng
Phật giáo - như các học thuyết vũ trụ luận cổ lỗ và vật lý học sơ khai của nó - sẽ phải được sửa đổi dưới ánh sáng
những tri thức khoa học mới mẻ.
- Tác phẩm Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (Max Weber, Bùi Văn Nam Sơn
dịch, Nxb. Tri Thức, 2008) đã đề cập rất sâu sắc ảnh hưởng của đạo đức Tin Lành đến sự hình thành và phát triển
của chủ nghĩa tư bản. Tác giả cho rằng, các nhân tố tôn giáo có vai trò trung tâm trong sự hình thành các xu
hướng văn minh, đặc biệt là các tôn giáo gắn liền với các xã hội có nền tảng tư duy lý tính phương Tây. Trong
cuốn sách này, M. Weber đã khảo sát quan niệm đạo đức và động cơ ứng xử của các cá nhân thuộc các giáo phái
Tin Lành, cũng như ý nghĩa mà nó gán cho hành động xã hội của mình, nhằm đi đến giả thuyết cho rằng nền đạo
6
đức Tin Lành có một mối liên hệ “tương hợp chọn lọc” với “tinh thần” của chủ nghĩa tư bản. Vì thế đã tạo nên
một động lực tinh thần cần thiết và thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu.
- Cuốn Tôn giáo đương đại Mỹ của tác giả Lưu Bành (Trung Quốc, người dịch: Trần Nghĩa Phương),
Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2009, sau khi giới thiệu các tôn giáo ở Mỹ đã tập trung nghiên cứu một cách
trên.
8
- Cuốn Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay, do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb. KHXH. Hà Nội,
1996 đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng tôn giáo Việt Nam, về hoạt động của các tín ngưỡng, tôn
giáo cụ thể như “Đạo thờ cúng tổ tiên”, Công giáo, Phật giáo, đạo Hòa Hảo, và những hiện tượng tôn giáo mới ở
Việt Nam. Công trình Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, (Đặng Nghiêm Vạn, chủ biên, Nxb.
CTQG. Hà Nội, 2001) đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo như đối tượng của
tôn giáo; các yếu tố cấu thành hình thức một tôn giáo; nhu cầu, vai trò và diễn biến tôn giáo trong đời sống xã hội;
đặc điểm và vai trò của tôn giáo Việt Nam trong đời sống hiện nay, nhất là đời sống văn hóa trong bối cảnh đất nước
hội nhập kinh tế quốc tế. Từ đó, tác giả đề cập đến một số vấn đề về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt
Nam hiện nay.
- Năm 1997, cuốn Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay do
Nguyễn Tài Thư chủ biên được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành. Công trình này đã nghiên cứu hình thái, sự
tác động của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam từ Nho giáo, Phật giáo, Công giáo, tín ngưỡng
dân gian Việt Nam đến vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Các tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị
phù hợp về công tác tư tưởng và văn hóa.
- Đỗ Quang Hưng có các tác phẩm đáng chú ý sau: Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhà nước và
giáo hội, (Đỗ Quang Hưng, chủ biên, Nxb. Tôn giáo, 2003) đã nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa nhà nước với các
tổ chức tôn giáo từ cả phương diện lý luận và thực tiễn. Cuốn sách cũng đã phân tích một số kinh nghiệm lịch sử
của mối quan hệ này, nhất là thời phong kiến Việt Nam. Tác phẩm Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý
luận và thực tiễn, (Đỗ Quang Hưng, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2008) đã nghiên cứu ảnh hưởng của Chủ
9
nghĩa Mác - Lênin đối với nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo, vai trò của tư tưởng Hồ
Chí Minh về tôn giáo; nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển tư duy lý luận của Đảng về tôn giáo và vấn đề
tôn giáo; nghiên cứu quá trình Đảng và Nhà nước Việt Nam xây dựng, phát triển, hoàn thiện chính sách tôn giáo
qua các giai đoạn lịch sử cụ thể. Ngoài việc phân tích bối cảnh quốc tế của vấn đề tôn giáo ở Việt Nam thế kỷ
XX, cuốn sách đã đề cập đến vấn đề “Bước khởi đầu của sự du nhập quan điểm macxit về tôn giáo vào Việt
Nam” qua quan điểm của các học giả và các nhà cách mạng … Tác phẩm Nghiên cứu tôn giáo nhân vật và sự
kiện (Đỗ Quang Hưng, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2010) đã giới thiệu quan điểm về tín ngưỡng, tôn
giáo của Hồ Chí Minh và một số lãnh tụ cách mạng và học giả đầu thế kỷ XX của Việt Nam… Cuốn sách cũng đã
theo đối với một lĩnh vực vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp.
11
Tiếp thu các thành quả nghiên cứu mà các tác giả đi trước đã đạt được, chúng tôi cho rằng cần thiết
phải tiếp tục tập trung nghiên cứu sâu hơn một số vấn đề vừa cơ bản lại vừa cấp bách sau: mối quan hệ
giữa tôn giáo với chính trị; quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn giáo với văn hóa; quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn
giáo với đạo đức; lịch sử và đặc điểm của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay; quan hệ giữa
Nhà nước với các tổ chức tôn giáo trong những năm gần đây; sự gia tăng của các hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo trong đời sống xã hội hiện nay. Chúng tôi nhận thức rằng, không hẳn tất cả những vấn đề sẽ được
nghiên cứu trong luận án xác định như trên là mới mẽ, nhưng từ cách tiếp cận của mình, luận án sẽ chỉ ra
tính cấp bách của vấn đề cũng như những điểm mới mà các công trình nghiên cứu khác chưa nghiên cứu
hoặc nghiên cứu chưa thỏa đáng.
Chương 2
TÔN GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO:
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN
2.1. Quan điểm về tôn giáo và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -
Lênin
Định nghĩa kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, gần đây được nhiều học giả thừa nhận, là tư
tưởng của Ph. Ăngghen nêu trong tác phẩm Chống Đuyrinh,: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo
- vào trong đầu óc con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản
ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế.” Với tư tưởng của C. Mác
và định nghĩa của Ph. Ăngghen, đặc thù của tôn giáo với tính cách là một hình thái ý thức xã hội đã được chỉ rõ.
12
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã giải đáp ba vấn đề cơ bản của tôn giáo: tôn giáo là gì? Nó phản ánh cái gì?
Phản ánh như thế nào?
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo, xét về bản chất là một hình thái ý thức xã hội.
Đương nhiên, cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, trong hiện thực, tôn giáo là một hiện tượng xã hội với
cấu trúc đặc biệt phức tạp, mà ở đó có những yếu tố không thuộc về ý thức xã hội. Nhưng khác với các hình thái ý
thức xã hội khác, tôn giáo chỉ là sự phản ánh ánh hư ảo; chỉ là sự phản ánh mà trong đó “những lực lượng trần
thế”, tức những thực tại của xã hội và tự nhiên, đã bị xuyên tạc biến thành lực lượng siêu tự nhiên, “siêu trần thế”.
Đó chính là sự phản ánh hư ảo về những điều kiện sinh hoạt xã hội của con người. Thế giới khách quan trong sự
điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
14
nghĩa xã hội năm 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII), khẳng
định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn
trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi
ích tổ quốc và của nhân dân”.
Những tư tưởng đó tiếp tục được thể hiện rõ hơn trong Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 Về
công tác tôn giáo cũng như trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X, XI. Những đổi
mới quan trọng đó về nhận thức là tiền đề cho sự đổi mới trong công tác tôn giáo. Trong Nghị quyết số 24/TW đã
dẫn ở trên, ngoài những điểm mới về nhận thức luận tôn giáo còn có các quan điểm rõ ràng về công tác tôn giáo.
Đó là sự thống nhất giữa quan điểm, nhận thức và hành động thực tiễn. Nghị quyết chỉ rõ: “làm tốt công tác tôn
giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Như vậy,
Đảng coi công tác tôn giáo là công tác chính trị đặc biệt, là một bộ phận quan trọng của đường lối chính trị của
Đảng, thực hiện bằng cả hệ thống chính trị. Trọng tâm của công tác tôn giáo là: “Vận động tín đồ, chức sắc, nhà tu
hành tôn giáo” để họ sống “tốt đời, đẹp đạo”. Nghị quyết xác định: “Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công
tác vận động quần chúng”.
Trên cơ sở tiếp thu, lý giải các quan điểm, quan niệm trong và ngoài nước về tôn giáo và đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo, luận án đã chỉ ra sự chưa thống nhất và những vướng mắc trong cách hiểu về đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo. Ở luận án này, bước đầu chúng tôi quan niệm và triển khai nghiên cứu Đời sống tín ngưỡng,
tôn giáo với khái niệm theo cách hiểu sau.
15
Đời sống tín ngưỡng bao gồm toàn bộ các hoạt động tâm linh và thực hành tín ngưỡng của con người (trước
hết và chủ yếu là con người cộng đồng). Đó là các quan niệm, quan điểm, triết lý, ý tưởng…, được thể hiện trong các
thói quen, tập tục, hành vi… thực hành tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu, thờ Thánh, Thần, Thành hoàng…
Những hoạt động tâm linh và thực hành tín ngưỡng này thường biểu hiện đa dạng, phong phú trong các hoạt động lễ,
hội, các nghi lễ thờ cúng. Ngày nay, những hoạt động tâm linh và thực hành tín ngưỡng này còn được mở rộng đến các
nghi lễ tôn vinh những nhân vật linh thiêng, những người có công với đất nước, với làng xã, cộng đồng, dòng họ…,
với các anh hùng, liệt sĩ, v.v
Đời sống tôn giáo bao gồm toàn bộ các hoạt động ý thức, tâm linh và thực hành tôn giáo của các tổ chức,
thiết chế và các tín đồ tôn giáo. Đó là các quan niệm, quan điểm, triết lý, ý tưởng…, được thể hiện trong các giáo lý,
tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam cũng đã xác quyết đường hướng
hành đạo đồng hành cùng dân tộc vì sự phát triển bền vững của đất nước và đạo pháp.
3.2. Vấn đề quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn giáo với văn hóa
Tín ngưỡng, tôn giáo vừa là sản phẩm, vừa là bộ phận cấu thành của văn hóa. Trong văn hóa, tín ngưỡng
và tôn giáo có lúc đóng vai trò là hạt nhân. Trong tín ngưỡng, tôn giáo cũng thể hiện khá rõ giá trị đạo đức, văn
hóa của nó. Sự ảnh hưởng của yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo lên văn hóa là rất lớn, nó vừa là chiều sâu, cũng vừa là
bề mặt dễ nhận biết của văn hóa, nó làm nên bản sắc của các nền văn hóa. Cũng chính vì vậy, tín ngưỡng, tôn
giáo có khi là nguyên nhân của các xung đột văn hóa - xã hội.
Khác biệt văn hoá là điều kiện khách quan dẫn đến đụng độ văn hoá, mà khác biệt văn hóa chính là yếu tố
bản sắc văn hóa, yếu tố làm nên sức sống của một nền văn hóa. Tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận cấu thành quan
trọng của văn hóa. Xung đột văn hóa - xã hội, vì thế thường có yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo. Ở Việt Nam hiện nay,
điều này diễn ra ở nhiều nơi với nhiều biểu hiện khác nhau. Nguyên nhân trực tiếp được lý giải từ sự tranh chấp đất
đai, cơ sở thờ tự; sự mâu thuẫn với một số chính sách của Nhà nước như vấn đề quy hoạch phát triển; sự xung đột
xẩy ra trong quá trình truyền đạo, hành đạo… nhưng kỳ thực sâu xa vẫn là sự khác biệt, sự xung đột của tư tưởng,
văn hóa, của giá trị, niềm tin.
3.3. Vấn đề quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn giáo với đạo đức
Các tôn giáo cụ thể bao giờ cũng có một hệ thống giáo lý, trong đó bao gồm hệ thống những tín điều
khuyên răn và đòi hỏi tín đồ của mình phải thực hiện. Hệ thống những tín điều ấy quy định những chuẩn mực của
đạo đức tôn giáo. Đạo đức tôn giáo, trong những hoàn cảnh nhất định có khả năng tác động, chi phối những chuẩn
18
mực cơ bản của nền đạo đức xã hội. Nhưng đạo đức tôn giáo không thể thay thế các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Chính các chuẩn mực đạo đức xã hội có tác động trở lại đối với tín ngưỡng, tôn giáo. Những hình thức tín
ngưỡng, hay những tôn giáo có các tín điều xung đột với các chuẩn mực đạo đức cơ bản, nền tảng của xã hội sẽ
không được chấp nhận, sẽ bị bài trừ. Những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo nào phù hợp với tâm lý, thói quen,
cách hành xử và đặc biệt là các quan niệm, các giá trị đạo đức truyền thống sẽ dễ được chấp nhận hơn.
Biểu hiện rõ nét của hiện tượng xung đột giữa đạo đức tôn giáo với đạo đức xã hội thể hiện ở một số quan
niệm đạo đức xã hội hiện đại, của đường lối chính sách với các tín điều tôn giáo truyền thống. Đó là xung đột về
giá trị. Trong đạo đức, hệ thống các giá trị về cái chân - thiện - mỹ, về lòng biết ơn, hiếu thảo, về sự sống, cái
chết, về trách nhiệm, nghĩa vụ là cốt lõi. Ở đây luôn có những sự khác nhau giữa đạo đức xã hội và đạo đức tôn
giáo. Các giá trị đạo đức tôn giáo dĩ nhiên đều mang tính thiêng, đều hướng đến đối tượng thiêng, và hướng đến sự
Thứ nhất, sự thay đổi mạnh mẽ trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay, đó là sự trở lại của
niềm tin tôn giáo, số lượng các tôn giáo, tín đồ tăng nhanh. Tổng cộng đến đầu năm 2012 đã có 13 tôn giáo với 40 tổ
chức tôn giáo được pháp luật công nhận tư cách pháp nhân.
Thứ hai, tình hình thực hành tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều biểu hiện tiêu cực. Cùng với việc bùng phát lễ
hội, hành vi thờ cúng là tình trạng mê tín trở nên trầm trọng, tình trạng buôn thần bán thánh, lợi dụng tín ngưỡng,
tôn giáo để trục lợi trở nên phổ biến, tình trạng truyền đạo và hành đạo vi phạm pháp luật xẩy ra ở nhiều nơi.
Thứ ba, các tôn giáo nói chung đều có xu hướng đồng hành với dân tộc, với đất nước trong quá trình đổi
mới vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Các tôn giáo ngoại nhập chung sống
hòa bình với nhau và với các hình thức tín ngưỡng truyền thống. Về cơ bản, các tôn giáo đều hoạt động trong
khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, tình trạng xung đột xã hội có yếu tố tín ngưỡng,
tôn giáo vẫn còn xẩy ra ở một số nơi, thậm chí xung đột gay gắt.
Thứ tư, hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện có tính quốc tế khá cao. Điều này vừa có thuận lợi, giúp các
tôn giáo Việt Nam gần gũi với tôn giáo thế giới nhưng cũng có nhiều nguy cơ, nhất là từ các thế lực phản động
quốc tế, các lực lượng phản động người Việt ở nước ngoài lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng
trong nước.
Thứ năm, sự xuất hiện và hoạt động của nhiều hiện tượng tôn giáo mới trên phạm vi cả nước với cách
thức truyền đạo, hành đạo trái với thuần phong mĩ tục, trái với pháp luật. Điều đáng nói là các hiện tượng này vẫn
21