LUẬN văn lạm phát và thực trạng làm phát ở việt nam hiện nay - Pdf 33

LUẬN VĂN:

Lạm phát và thực trạng làm
phát ở việt nam hiện nay


I - Đặt vấn đề

Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ đối với một nền kinh tế hàng hoá và hầu hết quảng
đại quần chúng đã có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát ở những mức độ khác nhau,
nhưng để hiểu một cách chính xác lạm phát là gì thì thật là không rễ. ở đây ta có thể hiểu một
cách nôm na rằng lạm phát là: lạm phát trong lĩnh vực lưu thông tràn ngập khối lượng tiền thừa
làm cho tiền tệ ngày càng mất giá so vời toàn bộ các sản phẩm hàng hoá, vàng và để lại những
hậu quả hết sức trầm trọng cho nền kinh tế.

- Giải quyết vấn đề

1. Những vấn đề lý luận về lạm phát.
1.1. Khái niệm
Vậy lạm phát là gì ? đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát và mỗi quan
điểm đều có sự chắc chắn về luận điểm và những lý luận của mình.
Theo L.V.chandeler, D.C cliner với trường phái lạm phát giá cả thì khẳng định :lạm
phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn , chu kỳ hay đột xuất.
G.G. Mtrukhin lại cho rằng : Trong đời sống, tổng mức giá cả tăng trước hết thông
qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá và rút cuộc dẫn tới việc tăng giá cả
nói chung. Với ý nghĩa như vậy có thể xem sự mất giá của đồng tiền là lạm phát. Ông cũng
chỉ rõ: lạm phát, đó là hình thức tràn trề tư bản một cách tiềm tàng ( tự phát hoặc có dụng ý)
là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân thông qua giá cả giữa các khu vực
của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân cư xã hội.
ở mức bao quát hơn P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn “Kinh tế học” đã
được dịch ra tiếng việt, xuất bản năm 1989 cho rằng lạm phát xẩy ra khi mức chung của giá cả

mức một con số hay dưới 10%.
+ lạn phát phi mã:là loại lạm phát biết được khi giá cả đạt tới ngưỡng từ 2 con số đến
3 con số ( 20%,100%,200%) một năm.
+ Siêu lạm phát : Siêu lạm phát là thời kì mà tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi
mã và vô cùng không ổn định.
- Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát người ta phân biệt
+ Lạm phát cầu dư thừa tổng quát


+ Lạm phát chi phí đẩy
+ Lạm phát cơ cấu
+ Lạm phát nhập khẩu
- Căn cứ vào tính chất chủ động bị động từ phía chính phủ đối phó với lạm phát người
ta chia ra:
+ Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước
+ lạm phát không cân bằng và không dự đoán trước
- Căn cứ voà quá trình bộc lộ hiện hình lạm phát người ta phân biệt
+ Lạm phát ngầm đây là loại lạm phát đang ở giai đoạn ẩn náu, bị kiềm chế về t ốc độ
tăng giá.
+ Lạm phát công khai đây là loại lạm phát mà sự tăng giá cả hàng háo, dịch vụ rõ rệt
trên thị trường.
1.3. Tác động của lạm phát tới nền kinh tế.
Lạm phát tác động mọi mặt tới nền kinh tế và sự tác động đó theo hai chiều hướng đó
là tích cưc và tiêu cực.
+ Các tác động tiêu cực của lạm phát.
Tiêu cực của lạm phát có thể có ở một số tác đông sau:
- Vì làm rối loạn chức năng thước đo giá trị của tiền tệ nên lạm phát xuyên tạc, bóp
méo, làm biến dạng các yếu tố của thị trường
-


còn là một căn bệnh nguy hiểm của nền kinh tế nữa, mà nó đã trở thành một công cụ điều tiết
kinh tế .
2. Những nguyên nhân và hậu quả của lạm phát.
2.1. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát
- Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến lạm phát, song dù có những sự khác
nhau như thế nào đi nữa thì cấc cuộc lạm phát đều có những nguyên nhân có tính chất chung
đó là:
+ Những nguyên nhân có liên quan đến chính sách của nhà nước như: Chính sách tiền
tệ và tài chính của nhà nước, phát hành tiền đáp ứng các nhu cầ chi tiêu của nhà nước quá
mức, định mức cho vay và lãi suất thấp hơn mức lạm phát, chính sách thuế không hợp lý,


không đảm bảo được các nguồn thu... chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý khuyến khích
các ngành có chi phí cao kém hiệu quả phát triển.
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phí tiền
lương, nguyên nhiên liệu...
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện quốc tế: Chiến tranh, giá dầu
mỏ tăng....
+ Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện tự nhiên: Thiên tai, động đất...
Tuỳ theo các điều kiên cụ thể mà có thể có những cuộc lạm phát bắt nguồn từ một hoặc
hai nguyên nhân.
2.2. Những hậu quả của lạm phát
Qua thực tế của lạm phát ta thấy rằng hậu quả của nó để lại cho nền kinh tế là rất
trầm trọng, nó thể hiện về mọi mặt của nền kinh tế, đặc biệt là một số hậu quả sau:
- Xã hội không thể tính toán hiệu qủa hay điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của
mình một cách bình thường được do tiền tệ không còn giữ được chức năng thước đo giá trị
hay nói đúng hơn là thước đo này bị co giãn thất thường.
- Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều tiết nền kinh tế đã
bị vô hiệu hoá, vì tiền mất giá nên không ai tin vào đồng tiền nữa, các biểu thuế không thể
điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ của lạm phát và do vậy tác dụng điều chỉnh của thuế

Chính vì các tác hại trên của lạm phát nên việc kiểm soát lạm phát và giữ lạm phát ở
mức độ vừa phải đã trở thành một trong những mục tiêu lớn của mọi nền kinh tế hàng hoá.
Tuy nhiên, mục tiêu kiềm chế lạm phát không có nghĩa là phải đưa lạm phát ở mức bằng
không tức là nền kinh tế không có lạm phát mà phải duy trì mức lạm phát ở một mức độ nào
đó phù hợp vơí nền kinh tế bởi vì lạm phát không phải hoàn toàn là tiêu cực, nếu như một
quốc gia nào đó có thể duy trì được mức lạm phát vừa phải và kiềm chế, có lợi cho sự phát
triển kinh tế thì ở quốc gia đó lạm phát không còn là mối nguy hại cho nền kinh tế nữa mà nó
đã trở thành một công cụ đắc lực giúp điều tiết và phát triển kinh tế một cách hiệu quả .

3. Các giải pháp đối phó và tình trạng thực tế về lạm phát ở việt nam qua một số
thời kỳ.
3.1. Giải pháp đối phó với lạm phát.
Các giải pháp đối phó với lạm phát nói chung cúng chỉ nhằm hai mục tiêu chính đó là
rút bớt lượng tiền thừa trong lưu thông và gia tăng số lượng hàng hoá để đáp ứng nhu cầu của
dân chúng. Những giải pháp mà các nước thường áp dụng để đối phó với lạm phát là:
-

Chính sách tiền tệ.
Chính sách này được thực hiện theo hướng thắt chạt cung ứng tiền tệ.

-

Chính sách chi - thu ngân sách.


+ Tiết kiệm chi ngân sách, nâng cao hiệu quả thu ngân sách và hạn chế tình trạng bội
chi ngân sách.
-

Chính sách giá cả.

lạm phát. tuy nhiên cần phải phục hồi ngay dự trữ ngoại hôi sau mỗi cuộc khủng hoảng.
-

Nhập khẩu


Biện pháp này có tính cấp thời để đưa vào thị trường trong nước các mặt hàng đang
thiếu hay lên gíatuy nhiên nó có một số tác hại.
+Số vàng và ngoại tệ dự trữ của QG bị hoa hụt.
+Vay nợ nước ngoài nhiều do kinh tế kiệt quệ.
+Tạo cho dân chúng thói quen tiêu thụ hàng ngoại nhập.
-

Gia tăng sản xuất các mặt hàng trong nước.
Biện pháp này là biện pháp cơ bản trong chiến lược chống lạm phát, nhằm tăng hàng

hoá, dịch vụ trong nền kinh tế.
3.2. Thực tế lạm phát ở việt nam
ởViệt Nam xét dưới góc độ quan điểm và chính sách đối với vấn đề lạm phát có thể
chia diễn biến quá trình này ở việt nam thành bốn thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất , từ năm 1976 đến năm 1980: là thời kỳ được coi là không có lạm
phát theo quan niệm kinh tế chính trị phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa đương thời và
không được phản ánh trong các thống kê chính thức .Tuy nhiên, trên thực tế ở việt nam khi
đó vẵn có lạm phát, thể hiện ỏ sự khan hiếm hàng hoá ,dịch vụ và sự giảm sút của chúng,
đồng thời được hi nhận trong sự diễn biến gia tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng
trên thị trường xã hội trên dưới 20% trên một năm và đó là lạm phát của nền kinh tế kém phát
triển và đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế , nơi độc quyền nhà nước còn mang đậm tính
chất phi kinh tế và được dung dưỡng bởi các chỉ thị của nhà nước và tồn tại thống trị phổ biến
trong tất cả các lĩnh vực. Vào thời kỳ này khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 85 - 87%
vốn cố định, 95% lao động lành nghề mà chỉ tạo ra 30 – 37% tổng sản phẩm xã hội. Trong

án ra đời. Các biện pháp chống lạm phát được gắn với quá trình đổi mới, tực hiện các cải
cách thị trường ở việt nam. Song chúng mới ở dạng thử nghiệm , chưa đồng bộ, ngập ngừng,
lúc tiến lúc lùi với những đợt “sốc” nhỏ, đã thu được thành công đáng kể năm 1989 , sau đó
bị trững lại do tình hình trong nước và quốc tế biến động mạnh.
- Thời kỳ thứ tư :Từ cuối năm 1991 đến nay:


Chỉ số tăng giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng trên thị trưỡngã hội
trong thời kỳ 1976 - 1998

Tốc độ
Năm

giá cả

Năm

năm

Tốc
độ cả năm

1976

1988

308,2

1977


1994

114,5

1983

1995

112,7

1984

1996

104,5

1985

1997

103,8

1986

1998

108,2

1987


bị ở trường và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, tác giả của bài tiểu luận chỉ dừng lại ở
một số vấn đề lí luận cơ bản về lạm phát và tác giả của bài viết này không có tham vọng
đưa ra những những nhận định mới mẻ mang tính phát hiện mà chỉ mong muốn vận dụng
những hiểu biết này để phân tích bài tiểu luận được tốt. Hy vọng ở những nghiên cứu tiếp
theo trong quá trình học tập, tác giả sẽ có những ý tưởng sâu sắc và phong phú hơn.


Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình tài chính của trường Quản Lý &Kinh Doanh
Tác giả:PGS:Lê Thế Tường
2. Lý thuyết lạm phát, giảm phát và thực tiễn ở Việt Nam.
Tập thể tác giả:PTS:Nguyễn Minh Phong,TS:Võ Đại Lược,TS:Nguyễn Thị Hiền,
Và một số tác giả khác.
3. Tạp chí “Thông tin kinh tế kế hoạch “5-1993,t13.

đề cương

I - Đặt vấn đề
II - giải quyết vấn đề

1. Những vấn đề lý luận về lạm phát.
1.1. Khái niệm
1.2. Các Loại hình của lạm phát
1.3. Tác động của lạm phát tới nền kinh tế.
2. Những nguyên nhân và hậu quả của lạm phát.
2.1. Nguyên nhân dẫn tới lạm phát
2.2. Những hậu quả của lạm phát
3. Các giải pháp đối phó và tình trạng thực tế về lạm phát ở việt nam qua một số thời kỳ.
3.1. Giải pháp đối phó với lạm phát.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status