LUẬN VĂN:Giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Giám sát thi hành án dân sự ở
Việt Nam hiện nay


nhân quan trọng là giám sát thi hành án dân sự còn nhiều bất cập, chưa thực sự trở thành
công cụ bảo đảm thực hiện quyền lực nhà nước trong thi hành án dân sự. Do đó, đã làm
giảm hiệu lực, hiệu quả của thi hành án dân sự. Nhiều bản án, quyết định về dân sự đã có

hiệu lực pháp luật, nhưng không được tổ chức thi hành dứt điểm, đặc biệt, tình trạng vi
phạm pháp luật, tiêu cực, sách nhiễu trong tổ chức thi hành án dân sự vẫn diễn ra nhiều.
Đúng như phát biểu của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm tại Lễ kỷ niệm 60 năm
ngày truyền thống ngành Tư pháp và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ II
tháng 8 năm 2005 là "thi hành án dân sự vẫn chưa có bước chuyển biến đáng kể, vẫn còn sự
phàn nàn của nhân dân đối với thi hành án dân sự", đã làm cho công bằng xã hội không
được đảm bảo ở mức độ cao, hiện tượng vi phạm quyền tự do, dân chủ trong thi hành án dân
sự vẫn còn xảy ra đã làm giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân đối với các cơ quan thi
hành án dân sự nói riêng và làm suy giảm hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước ta nói
chung.
Xuất phát từ những lý do nêu trên cho thấy, giám sát thi hành án dân sự là một vấn đề
cần được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống cả lý luận và thực tiễn. Vì vậy, tác giả đã
lựa chọn đề tài "Giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" để làm đề tài luận văn
Thạc sĩ, chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước đây (trước tháng 7/1993), thi hành án dân sự được đặt dưới sự quản lý của Tòa
án, do Tòa án đảm nhiệm. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của Tòa án là xét xử. Vì vậy, thi hành án
dân sự như là việc làm "kiêm nhiệm" của Tòa án, nên thi hành án dân sự còn chưa được quan
tâm nghiên cứu, ít có những công trình khoa học hay các bài nghiên cứu của các nhà khoa học
đề cập đến thi hành án dân sự. Từ khi thi hành án dân sự được chuyển giao sang cho Chính phủ
thống nhất quản lý, vấn đề thi hành án dân sự đã được đặt ra và triển khai nghiên cứu ở mức độ
nhất định: Đề tài "Thừa phát lại" do Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý Bộ Tư pháp và Sở Tư
pháp Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện; đề tài khoa học cấp Bộ về "Mô hình quản lý
thống nhất công tác thi hành án" do Cục quản lý Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì; Luận
văn thạc sĩ Luật học "Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Việt Nam" của
tác giả Trần Văn Quảng; Luận văn thạc sĩ Luật học "Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân

Do thời gian nghiên cứu có hạn, nên luận văn chỉ nghiên cứu giám sát thi hành án dân
sự từ năm 1989, thời điểm có Pháp lệnh Thi hành án dân sự đầu tiên đến nay.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật và hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng với các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể và các phương pháp
nghiên cứu khác như: so sánh, thống kê, điều tra
xã hội,
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối có hệ thống và toàn diện về
giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam. Vì vậy, luận văn có những điểm mới cụ thể là:
- Nghiên cứu xác định khái niệm giám sát thi hành án dân sự và những đặc trưng cơ
bản của giám sát thi hành án dân sự;
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động giám sát thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó
chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của giám sát thi hành án dân sự;
- Đưa ra một số quan điểm và đề xuất các giải pháp bảo đảm giám sát thi hành án dân
sự ở Việt Nam hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Với kết quả đạt được, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về giám
sát thi hành án dân sự, từ đó nâng cao nhận thức của xã hội đối với giám sát thi hành án dân sự.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về vấn
đề liên quan đến thi hành án dân sự trong các trường đại học, cao đẳng, Học viện Tư pháp và
xây dựng Luật thi hành án.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Nội dung của
luận văn gồm 2 chương, 7 tiết.

Ngoài ra, cũng còn một số quan điểm khác cũng cho rằng, thi hành án dân sự cũng
giống như thi hành án hình sự, được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, thi hành
án dân sự phải được coi là một giai đoạn của tố tụng dân sự và là hoạt động mang tính chất
tư pháp thuần túy.
Có thể nói, hầu hết các quan điểm nêu trên đều lấy xuất phát điểm từ luật thực định,
cụ thể là vị trí, tính chất của chủ thể tiến hành các hoạt động thi hành án dân sự, tính chất
loại công việc cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành để xác định thi hành án dân sự là
loại tố tụng gì, có tính chất như thế nào. Tuy nhiên, các quan điểm này vẫn chưa thể giải
quyết được thỏa đáng các vấn đề đặt ra. Cụ thể:
Hiện tại, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2002, thì việc thi hành án
hình sự được giao cho các cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức thi hành (Bộ Công an tổ chức
thi hành hình phạt tù, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tổ chức thi hành án quản chế, các
cơ quan tổ chức nơi người bị án treo, đảm trách việc thi hành án treo đối với cá nhân, công
dân thuộc sự quản lý của cơ quan tổ chức đó). Nhưng việc thi hành án phạt tù vẫn được coi
là một giai đoạn của quá trình tố tụng. Đồng thời, theo quy định của pháp luật, thì cơ quan
điều tra và một số cơ quan khác thuộc chính phủ được giao nhiệm vụ điều tra đối với một số
tội phạm thuộc lĩnh vực quản lý như: Công an, Hải quan, Kiểm lâm, Điều tra quân đội,
những cơ quan này đều là các cơ quan thuộc Chính phủ, nằm trong hệ thống các cơ quan
hành pháp, nhưng các hoạt động do các cơ quan này tiến hành vẫn là hoạt động tố tụng.
Chính vì vậy, không thể căn cứ vào việc cơ quan nào đảm nhận việc tổ chức thi hành các bản
án, quyết định dân sự để xác định hoạt động thi hành án dân sự là tố tụng hay không tố tụng;
mang bản chất là hoạt động tư pháp hay hoạt động hành chính.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, thì
ngoài việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có
hiệu lực pháp luật của Tòa án, nhưng được thi hành ngay, thì cơ quan thi hành án còn tổ chức
thi hành cả quyết định của Trọng tài Thương mại là cơ quan không nằm trọng hệ thống các cơ
quan tư pháp. Do đó, việc căn cứ vào công việc cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện để
xác định thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố tụng là chưa thuyết phục.

Để có thể xem xét thi hành án dân sự có phải là hoạt động tố tụng hay không, mang

nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định của Trọng tài Thương mại Việt Nam có hiệu
lực thi hành) và những bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng
được thi hành ngay (bản án, quyết định sơ thẩm về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động,
trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe;
nhận người lao động trở lại làm việc; quyết định khẩn cấp tạm thời để bảo đảm lợi ích cấp
thiết của đương sự, bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án ) đều là kết quả của quá trình
giải quyết tranh chấp, nhưng tính chất lại khác nhau. Bản án, quyết định của Tòa án là kết
quả của quá trình tố tụng, nên nó mang bản chất tư pháp. Còn quyết định của Trọng tài
Thương mại, là kết của quá trình giải quyết tranh chấp thông thường, nên nó không mang
bản chất tư pháp.
Thứ ba, tính chất các hoạt động cơ bản do cơ quan thi hành án tiến hành để tổ chức
thi hành một bản án, quyết định về dân sự
Nếu coi xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng và bản án, quyết định là
điểm nút kết thúc giai đoạn đó và đồng thời kết thúc quá trình tố tụng, thì thi hành án dân sự
là một giai đoạn sau của giai đoạn xét xử, mang tính chấp hành. Lúc này sự thật khách quan
về vụ án đã được sáng tỏ, các quyền và nghĩa vụ của các bên đã được xác định rõ, cơ quan
thi hành án dân sự sẽ căn cứ vào đó để tổ chức thi hành theo đúng các trình tự đã được quy
định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cơ quan thi
hành án dân sự phải tổ chức thi hành đúng nội dung phần quyết định của bản án (trường hợp
chủ động thi hành án); thi hành đúng nội dung bản án và đơn yêu cầu thi hành án (trường
hợp thi hành án theo đơn yêu cầu). Cơ quan thi hành án không được tổ chức thi hành án trái
với nội dung quyết định của bản án. Đồng thời, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan
thi hành án dân sự, sử dụng quyền lực nhà nước trực tiếp tác động đến các bên có liên quan
đến việc thi hành án. Mặc dù, trong quá trình thi hành án, quyền định đoạt của các bên
đương sự vẫn được tôn trọng, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa
thuận với nhau về cách thức thi hành án. Tuy nhiên, nếu như các bên không thỏa thuận được
về phương thức thi hành án, hoặc đã thỏa thuận nhưng bên phải thi hành án không tự
nguyện thực hiện đúng, thì cơ quan thi hành án dân sự sử dụng quyền lực nhà nước thông
qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để tổ chức thi hành dứt điểm bản án,


quan hệ mang bản chất hành chính, có tính chấp hành và điều hành. Thậm chí ngay cả các
quan hệ với cơ quan tố tụng như Tòa án, Công an, thì các quan hệ này cũng hầu như không
được quy định cụ thể trong luật tố tụng.
Từ các phân tích trên cho thấy, thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành
chính - tư pháp, không phải là hoạt động tố tụng, không phải là một giai đoạn của quá trình
tố tụng.
Ngoài ra, khác với các hoạt động tố tụng khác đòi hỏi thủ tục rất chặt chẽ và chỉ do
các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện, thì việc thi hành bản án, trong một số trường hợp có
thể để người dân tự chịu trách nhiệm, tức là có thể tiến hành xã hội hóa một số hoạt động thi
hành án.
Tóm lại, thi hành án sự được hiểu là trình tự, thủ tục thi hành các quyết định về dân
sự trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật
nhưng được thi hành ngay của Tòa án và các quyết định về tài sản khác theo quy định của
pháp luật.
1.1.2. Đặc trưng của thi hành án dân sự
1.1.2.1. Thi hành án dân sự là hoạt động mang bản chất hành chính - tư pháp, thể
hiện tính chấp hành và điều hành
Như đã phân tích ở trên, căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án là
các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án và quyết định của Trọng tài Thương mại có
hiệu lực thi hành. Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực, cơ quan thi hành án sẽ căn cứ vào
nội dung của bản án, quyết định (trường hợp cơ quan thi hành án chủ động thi hành án), căn
cứ vào đơn yêu cầu thi hành án và bản án, quyết định (trường hợp thi hành án theo đơn yêu
cầu của người được thi hành án, người phải thi hành án) để thi hành án. Cơ quan thi hành án
có trách nhiệm tổ chức thi hành đúng nội dung của bản án, quyết định; người được thi hành
án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án phải
nghiêm chỉnh thi hành, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và cá nhân tôn
trọng [43]. Chính vì vậy, ở đây thể hiện rất rõ tính chấp hành trong hoạt động thi hành án dân
sự. Đồng thời, chấp hành viên với tư cách là người được Nhà nước trao quyền và chịu trách



minh thấy đương sự có điều kiện để thi hành án, nhưng xét thấy người phải thi hành án ý
thức chấp hành pháp luật không tốt, có biểu hiện tẩu tán tài sản, hoặc cố tình chây ỳ không
tự nguyện thi hành án, thì chấp hành viên lựa chọn, áp dụng một hoặc nhiều biện pháp
cưỡng chế được quy định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự (khấu trừ tài khoản, trừ vào
tiền, thu hồi giấy có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi
hành án; phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín
dụng, kho bạc; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản của người phải
thi hành án đang do người thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao
vật, tài sản khác; cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công việc nhất
định) để tổ chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của Trọng
tài Thương mại.
1.1.2.3. Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
Khác với thi hành án hình sự, người bị kết án phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án,
quyết định của Tòa án, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thi hành án hình sự có trách
nhiệm phải tổ chức thi hành dứt điểm các hình phạt đối với người phạm tội. Trong thi hành
án dân sự, ngoài các trường hợp cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án
(án phí, lệ phí Tòa án, trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; hình phạt tiền; tịch thu tài
sản, truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ;
thu hồi đất theo quyết định của Tòa án; quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án), cơ quan
thi hành án chỉ tổ chức thi hành án trên cơ sở yêu cầu thi hành án của người được thi hành
án và người phải thi hành. Cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định trong phạm vi yêu cầu của
người được thi hành án, người phải thi hành án. Đồng thời, người được thi hành án có quyền
yêu cầu không thi hành án, hoặc cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành án; thỏa
thuận với người phải thi hành án về phương thức, địa điểm thi hành án.
1.1.3. Vai trò của thi hành án dân sự
1.1.3.1. Thi hành án dân sự là phương tiện đưa bản án, quyết định của Tòa án,
của Trọng tài Thương mại vào thực tiễn cuộc sống
Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của
người phải thi hành án. Chính vì vậy, người phải thi hành án thường xuyên tìm mọi cách lẩn

các giai đoạn tố tụng trước đó có vấn đề, thì quá trình thi hành án dân sự sẽ gặp nhiều khó
khăn.
1.1.3.3. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải
thi hành án và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án
Như trên đã nêu, thi hành án luôn đụng chạm trực tiếp đến lợi ích về vật chất của
người phải thi hành án, nên quá trình thi hành án sẽ trực tiếp tác động đến đời sống của
người phải thi hành án và trong nhiều trường hợp còn tác động cả đến cuộc sống bình
thường của gia đình người phải thi hành án. Do đó, trên thực tiễn có rất ít người phải thi
hành án tự nguyện thi hành án. Mặt khác, cũng có nhiều trường hợp, người phải thi hành án
không thỏa mãn với kết quả xét xử của Tòa án do quá trình xét xử không khách quan, hoặc
có sự không rõ ràng về pháp lý, nên người phải thi hành án tìm mọi cách để trì hoãn, chống
đối việc thi hành án. Chính vì vậy, thi hành án dân sự sẽ là một cơ chế hữu hiệu để người
được thi hành án thực hiện quyền của mình.
Tuy nhiên, thi hành án dân sự không chỉ bảo vệ riêng quyền lợi của người được thi
hành án, mà thi hành án dân sự còn bảo vệ cả quyền lợi của người phải thi hành án, những
người có quyền lợi liên quan đến việc thi hành án. Thi hành án dân sự một mặt bảo vệ
quyền lợi của người được thi hành án, nhưng mặt khác, nó cũng bảo vệ người phải thi hành
án trước những kiểu đòi nợ theo kiểu "luật rừng". Không những vậy, trong pháp luật về thi
hành án dân sự cũng có nhiều quy định cho phép người phải thi hành án chống lại sự lạm
dụng quyền lực của cơ quan thi hành án, chấp hành viên trong tổ chức thi hành án dân sự.
1.1.3.4. Thi hành án dân sự góp phần đảm bảo trật tự pháp luật và nâng cao
pháp chế xã hội chủ nghĩa
Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước để phán xử, nếu không được
tổ chức thi hành, thì toàn bộ kết quả của cả quá trình tố tụng trước đó trở nên vô nghĩa,
dẫn đến kỷ cương phép nước bị coi thường. Thông qua thi hành án dân sự, các mối quan
hệ xã hội bị xâm hại được khôi phục lại tình trạng ban đầu, trật tự pháp luật được lập lại.
Bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành một cách triệt để sẽ có tác động đến ý thức
chấp hành pháp luật của người được thi hành án, người phải thi hành án nói riêng và nhân

dân nói chung, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân, làm cho mọi

Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức,
cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp
lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trong quá trình thực hiện giám sát, chủ thể giám sát được thực hiện các biện pháp
xử lý, giải quyết theo thẩm quyền kiến nghị, yêu cầu, hủy bỏ, sửa chữa để bảo đảm các mục
đích giám sát. Ví dụ: khi thực hiện giám sát việc giao nhận hàng, nếu thấy bên giao không
thực hiện đúng những điều khoản theo thỏa thuận có hiệu lực thì người được giao giám sát
có quyền yêu cầu bên giao thực hiện đúng thỏa thuận.
Mặc dù vậy, giám sát không phải là một hoạt động mang tính thụ động, chỉ được
thực hiện sau khi có các vi phạm chuẩn mực do chủ thể giám sát đề ra, mà nó còn là một
hoạt động mang tính chủ động, tích cực, thể hiện mối quan hệ quan lại giữa đối tượng giám
sát và chủ thể của giám sát. Hoạt động giám sát không chỉ với ý nghĩa là phát hiện các sai
sót của đối tượng bị giám sát so với chuẩn mực đã được đề ra, tìm nguyên nhân và khắc
phục nó, mà giám sát ở một giác độ khác nó còn mang tính tích cực, đó là chủ thể giám sát
cũng sẽ tự hoàn thiện mình. Trong quá trình giám sát, chủ thể giám sát sẽ tự phát hiện ra
những khiếm khuyết trong các quy định, quyết định do mình đã đặt ra, từ đó điều chỉnh các
quy định, quyết định cho phù hợp với thực tế, đảm bảo cho đối tượng giám sát hoàn thành
tốt nhiệm vụ của mình.
Như vậy, có thể hiểu giám sát là việc chủ thể giám sát theo dừi, quan sát hành động
mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động để buộc và hướng hoạt
động của đối tượng chịu sự giám sát đi vào đúng trật tự đã định nhằm đạt được mục đích đã
đề ra.
Thi hành án dân sự với tính cách là một hoạt động mang tính chất hành chính - tư
pháp, trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
hoặc chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng được thi hành ngay và các quyết định của Trọng tài
Thương mại, cơ quan thi hành án, trực tiếp là cá nhân chấp hành viên, thay mặt nhà nước,

sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định đó, cũng cần phải có sự
giám sát chặt chẽ để đảm bảo cho quyền lực đó được sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
Từ các khái niệm thi hành án dân sự, khái niệm về giám sát nêu trên, có thể hiểu

cơ quan hành chính và các cơ quan tư pháp (kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân các cấp,
chịu sự giám sát của chính quyền các cấp và chịu sự giám sát, chỉ đạo nghiệp vụ của các cơ
quan quản lý thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự).
Mặt khác, với tính cách là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, cơ quan thi hành
án dân sự còn phải chịu sự giám sát trực tiếp của nhân dân, người đã ủy thác cho cơ quan thi
hành án dân sự thực hiện quyền lực của mình để xem xét xem quyền lực đó được thực thi
như thế nào trong cuộc sống. Bên cạnh đó, để tổ chức thi hành án dân sự có hiệu quả, cơ
quan thi hành án dân sự phải huy động nhiều đối tượng khác nhau tham gia vào quá trình thi
hành án. Với bản chất là hoạt động mang tính chấp hành, điều hành, khi tổ chức thi hành án,
ngoài việc cơ quan thi hành án phải chấp hành pháp luật, tổ chức thi hành đúng nội dung
bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của Trọng tài Thương mại, cơ quan thi hành án
còn có quyền đòi hỏi, yêu cầu những người có liên quan phải chấp hành các quyết định của
chấp hành viên khi họ có liên quan đến việc thi hành án. Trong những trường hợp như vậy,
những đối tượng này hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp tham gia vào quá trình thi hành án và
họ có nghĩa vụ phải chấp hành các yêu cầu của chấp hành viên và các quy định của pháp
luật có liên quan. Ví dụ, Tòa án nhân dân phải trả lời các đề nghị của cơ quan thi hành án về
việc giải thích bản án; cơ quan công an phải bố trí lực lượng bảo vệ cưỡng chế thi hành án
theo yêu cầu của chấp hành viên
Mặt khác, việc thi hành án dân sự có quan hệ và ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền
của công dân, nên hoạt động thi hành án dân sự còn phải tuân thủ nghiêm túc và chặt chẽ
các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Để đảm bảo các quy định của pháp luật
được cơ quan thi hành án dân sự nghiêm chỉnh chấp hành, pháp luật quy định các hoạt động
của cơ quan thi hành án được đặt dưới sự kiểm sát của của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
Tuy nhiên, với tư cách là cơ quan được phân công thực hiện quyền lực của nhân dân, trong
quá trình thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, thì
Viện kiểm sát cũng đã trực tiếp tác động đến quá trình thi hành án và gây ảnh hưởng gián
tiếp đến các quyền lợi hợp pháp của công dân. Chính vì vậy, bản thân Viện kiểm sát cũng

chính là đối tượng bị giám sát đối với việc thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm sát
thi hành án dân sự.

lại trật tự pháp luật, khôi phục lại tình trạng các quan hệ xã hội đã bị xâm phạm trước đó,
đảm bảo công bằng xã hội, đó cũng chính là mục tiêu của tư pháp mà trung tâm là hoạt động
xét xử. Chính vì vậy, thi hành án dân sự cũng phải chịu sự giám sát của các chủ thể có
quyền giám sát đối với hoạt động tư pháp.
Hai là, căn cứ vào mức độ tác động của chủ thể giám sát thi hành án dân sự đối với
đối tượng giám sát thi hành án dân sự
Mức độ tác động của chủ thể giám sát thi hành án dân sự đến đối tượng giám sát thi
hành án dân sự đó chính là các quyền của chủ thể giám sát thi hành án dân sự khi thực hiện
việc theo dõi, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm của đối tượng giám sát thi hành án dân sự.
Các quyền được thực hiện trên cơ sở vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chủ thể giám
sát thi hành án dân sự trong bộ máy nhà nước, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật và
được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể giám sát thi hành án dân sự và đối tượng
giám sát thi hành án dân sự. Do đó, chỉ có hoạt động của những chủ thể nào có thể tác động
trực tiếp đến hoạt động của đối tượng giám sát thi hành án dân sự mới là là chủ thể cơ bản
của giám sát thi hành án dân sự. Tùy thuộc vào mức độ tác động, mối quan hệ giữa của chủ
thể giám sát thi hành án dân sự đối với đối tượng giám sát thi hành án dân sự và căn cứ vào
các quy định của pháp luật để chúng ta xác định đâu là chủ thể giám sát thi hành án dân sự.
Ba là, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ theo pháp luật của các chủ thể giám sát thi
hành án dân sự
Trong quá trình hoạt động, các cơ quan, tổ chức căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn được pháp luật quy định để thực hiện. Trên cơ sở các quy định của pháp luật, các
cơ quan tổ chức xác định mình được làm gì, phải làm gì và làm như thế nào. Chính vì vậy,
khi xác định chủ thể giám sát thi hành án dân sự, chúng ta cũng cần căn cứ vào các quy định
của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến
thi hành án dân sự.
1.2.3.2. Các chủ thể giám sát thi hành án dân sự cơ bản

Xuất phát từ những căn cứ đã nêu trên, có thể thấy chủ thể của giám sát thi hành án
dân sự rất rộng. Sau đây là một số chủ thể giám sát cơ bản nhất:
Thứ nhất, nhân dân

đồng nhân dân các cấp sử dụng với hai ý nghĩa, đó là để thực thi quyền lực nhà nước và
đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực hiện trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và
pháp luật.
Do đó, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là chủ thể giám sát thi hành án dân
sự.
Thứ ba, Chính phủ, ủy ban nhân dân và các cơ quan quản lý thi hành án dân sự
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao
nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lý việc
thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà
nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn
trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Chính phủ bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang
nhân dân và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và
pháp luật trong nhân dân.
Trong lĩnh vực hành chính - tư pháp, Chính phủ thống nhất quản lý công tác hành
chính tư pháp, các hoạt động về luật sư, giám định tư pháp, công chứng và bổ trợ tư pháp; tổ
chức và quản lý công tác thi hành án, quốc tịch, hộ khẩu, hộ tịch [8].
Đối với ủy ban nhân dân, theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân, thì ủy ban nhân dân các cấp tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thi hành Hiến pháp,
luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội
đồng nhân dân cùng cấp; tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở địa
phương; chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo vệ tính mạng,
tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; tổ
chức, chỉ đạo công tác thi hành án ở địa phương theo quy định của pháp luật.

Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp với tư cách là chủ thể tổ chức thực hiện quyền lực
nhà nước và quản lý, chỉ đạo thực hiện hoạt động của các cơ quan, tổ chức ở địa phương
giám sát thi hành án dân sự, nhằm đảm bảo cho mục đích của thi hành án dân sự đạt được một

Tại Điều 6 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 có quy định: Khi thực
hiện quyền giám sát, Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, ủy ban của
Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội dựa vào sự tham gia của nhân dân,
của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận và có thể
mời đại diện ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu
cầu đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan tham gia; cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm thực hiện yêu cầu này.
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính nhân
dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây
dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công
chức theo quy định của pháp luật, trong đó có hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự.
Chính vì vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể xã hội cũng là chủ thể giám sát
thi hành án dân sự.
Thứ sáu, người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có quyền,
nghĩa vụ liên quan
Người được thi hành án, người phải thi hành án là trung tâm trong thi hành án dân
sự. Việc thi hành án dân sự tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, họ
cũng là chủ thể giám sát thi hành án dân sự. Theo qui định tại Điều 59, Điều 60 của Pháp
lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, thì người được thi hành án, người phải thi hành án,
người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thi hành án có quyền khiếu nại về hành vi trái
pháp luật của thủ trưởng và chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự.
Người được thi hành án là những người có quyền lợi theo nội dung quyết định của
bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật. Những người này bao gồm cơ quan nhà

Trích đoạn Giám sát thi hành án dân sự của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hình thức giám sát thi hành án dân sự Đánh giá về kết quả, hạn chế và nguyên nhân 1 Kết quả giám sát Giám sát thi hành án dân sự chưa bao trùm lên tất cả các đối tượng giám sát Bảo đảm giám sát thi hành án dân sự phải đặt trong tổng thể của công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status