Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN MẠNH QUÂN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013 4

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1


1.4.1.
Giai đoạn từ 1945 đến 1989
37
1.4.2.
Giai đoạn từ 01/01/1990 đến 30/6/1993
41
1.4.3.
Giai đoạn từ 1993 đến đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành
án dân sự năm 2004
42
1.4.4.
Giai đoạn từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
2004 đến trước khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008
43

5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
HIỆN HÀNH VÀ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI HỆ
THỐNG PHÁP LUẬT NÓI CHUNG
51
2.1.
Thực trạng pháp luật thi hành án dân sự
51
2.1.1.
Về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự
51
2.1.2.
Ngạch, thi tuyển, nhiệm kỳ bổ nhiệm Chấp hành viên (Điều
17, Điều 18)

2.2.
Pháp luật thi hành án dân sự hiện hành trong mối quan hệ
với hệ thống pháp luật nói chung
58
2.2.1.
Mô hình quản lý nhà nước về công tác thi hành án chưa hoàn chỉnh
60
2.2.2.
Các văn bản pháp luật về thi hành án và các văn bản pháp
luật thuộc các lĩnh vực khác trong hệ thống pháp luật còn
mâu thuẫn, thiếu đồng bộ, thống nhất
62
2.2.3.
Hệ thống pháp luật còn có những "khoảng trống" làm ảnh
hưởng đến hiệu quả công tác thi hành án
69

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM
74

6
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VIỆT NAM
3.1.
Giải pháp hoàn thiện
74
3.1.1.
Tăng cường việc nghiên cứu, triển khai chủ trương của Đảng
về xây dựng văn bản pháp luật chung điều chỉnh hoạt động
Thi hành án và chủ trương thống nhất đầu mối quản lý công

"Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải
được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ
trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan
phải nghiêm chỉnh chấp hành" [36].
Nhận thức tầm quan trọng của công tác thi hành án, từ khi thực hiện
đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về
thi hành án dân sự, như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa VII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII (1997), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX (2004) và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số
49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020. Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Hội đồng nhà

8
nước trước đây, nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh
Thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 và gần
đây là Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004.
Kết quả sau hơn ba năm thực hiện Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
2004 cho thấy, nhiều quy định về thủ tục thi hành án đã thể hiện được quan
điểm cải cách tư pháp, cải cách hành chính, phù hợp với sự chuyển đổi từ cơ
chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, tháo gỡ kịp thời một số tồn tại,
vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự, góp phần từng bước nâng cao
hiệu quả của công tác thi hành án. Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn và
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới thì Pháp lệnh năm 2004 đã bộc lộ nhiều
hạn chế, bất cập, nhất là quy định về trình tự, thủ tục; trách nhiệm, cơ chế
phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong thi hành án; cơ chế quản

lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác
thi hành án dân sự…
Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2009, đến nay
qua hơn hai năm thực hiện đã có sự chuyển biến tích cực, công tác thi hành án
dân sự đã đạt được một số kết quả đáng kể, cụ thể: Kết quả thi hành án dân sự
từ ngày 01/10/2010 đến ngày 30/9/2011 của cả nước như sau:
- Tổng số việc phải thi hành là 632.545 việc, tăng 17.134 việc (2,78%)
so với năm 2010. Qua phân loại thì có: 431.979 việc có điều kiện thi hành
(chiếm 68,29%); chưa có điều kiện thi hành là 200.566 việc (chiếm 31,71%).
Đã thi hành xong 379.990 việc đạt tỷ lệ 88% (vượt chỉ tiêu 7%), tăng 28.617
việc (1,65%) so với năm 2010 [9, tr. 3].
- Tổng số tiền phải thi hành là 35.416 tỷ 341 triệu 736 nghìn đồng,
tăng 4.718 tỷ 241 triệu 624 nghìn đồng (16,14%) so với năm 2010. Kết quả
phân loại số có điều kiện thi hành là 13.366 tỷ 290 triệu 661 nghìn đồng
(chiếm 37,74%), số chưa có điều kiện thi hành là 22.050 tỷ 51 triệu 75 nghìn
đồng (chiếm 62,26%). Đã thi hành được 10.167 tỷ 712 triệu 899 nghìn đồng,
đạt tỷ lệ 76,1% so số tiền có điều kiện thi hành (vượt chỉ tiêu 15,1%), tăng
1.866 tỷ 392 triệu 338 nghìn đồng so với năm 2010 [9, tr. 3].

10
Bên cạnh những chuyển biến tích cực, Luật Thi hành án dân sự và các
văn bản hướng dẫn thi hành cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết ở chỗ các quy
định "chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, thiếu thống nhất với pháp luật có
liên quan" [8, tr. 13]. Đó cũng chính là những khó khăn vướng mắc trong thực
tiễn thi hành án làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả thi hành án, là một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến lượng án tồn đọng. Công tác thi hành án
dân sự hiện nay vẫn đang đứng trước những khó khăn, thử thách to lớn với
nhiều vấn đề tồn tại, bất cập đang đặt ra cần được giải quyết. Hiệu quả công
tác thi hành án dân sự chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, và sự
quan tâm, mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoạt động thi hành án

sĩ luật học của Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt
Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới tổ chức
và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học của
Lê Anh Tuấn về "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam" Bên cạnh
đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội và
các trường đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các tạp chí
Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự
ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau. Ở một số công trình cũng đã
đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về thi
hành án dân sự, nhưng kể từ khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được ban
hành cho tới nay thì chưa có công trình nghiên cứu vấn đề "Hoàn thiện pháp
luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" một cách toàn diện, chuyên sâu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích
Trên cơ sở các vấn đề lý luận về thi hành án dân sự, tác giả đặt ra mục
đích của đề tài là chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật thi hành án dân
sự trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật nói chung để đưa ra các giải

12
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự góp phần nâng cao hiệu
quả công tác thi hành án dân sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích lớn đó cần phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ những cơ sở lý luận về thi hành án dân sự.
- Đánh giá đúng đắn về thực trạng pháp luật thi hành án dân sự.
- Đưa ra những giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật thi hành
án dân sự.
4. Phạm vi nghiên cứu
"Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" là

chung làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành và trong
mối quan hệ với hệ thống pháp luật nói chung.
Chương 3: Những giải pháp và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam.
14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thi hành án dân sự
1.1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự
Kể từ khi hoạt động thi hành án dân sự được chuyển giao từ Tòa án
nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ thì khái niệm thi hành án
(nhất là thi hành án dân sự) trở thành đề tài tranh luận sôi nổi trên diễn đàn
khoa học pháp lý. Có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận và
cách tiếp cận khác nhau về thi hành án nhưng trong đó nổi lên hai quan điểm
cơ bản, đó là quan điểm coi thi hành án là giai đoạn tố tụng và quan điểm coi
thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là một giai đoạn tố tụng:
Bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung
của toàn bộ quá trình tố tụng. Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện

kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành án của cơ quan thi hành án.
Với quan điểm này, thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình
tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho phán
quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm thứ hai coi thi hành án là hoạt động hành chính - tư pháp.
Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án
chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Tòa án đã
xác định quyền, nghĩa vụ các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai
đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng. Thi hành án không phải là giai đoạn
tố tụng, bởi vì:

16
Thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng
là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế,
trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy
định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt
động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật [38, tr. 21].
Cùng quan điểm trên PGS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: Không thể đồng
nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng, bởi lẽ hoạt động thi hành án
có tính chất chính trị, pháp lý, xã hội của nó. Nghiên cứu hoạt động thi hành
án hiện nay cần đặt trong vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền. Về bản chất,
hoạt động thi hành án được thể hiện ở ba phương diện chủ yếu sau đây:
- Xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình thi
hành án;
- Tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án;
- Đặc thù trong các quan hệ về thủ tục thi hành án (đây là một vấn đề
có thể dẫn đến sự nhầm lẫn với quan hệ tố tụng). Quan hệ thủ tục thi hành án
có thể bao gồm cả quan hệ tố tụng và quan hệ khác mang tính hành chính -
tư pháp. Nhưng cần khẳng định rằng, các quan hệ mang tính hành chính tư

không thể phụ thuộc nhiều vào chủ thể thực hiện nó.
Quan điểm thứ tư, coi thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp. Quan điểm
này cho rằng không nên hiểu "tố tụng" chỉ là "thưa kiện tại Tòa án nói
chung", là hoạt động của cơ quan Tòa án xét xử để đi tìm "chân lý", mà cần
xem xét đến bản chất của tố tụng. Đó là việc thực hiện các quy định của pháp
luật hình thức theo thủ tục nhất định để giải quyết các quan hệ xã hội theo
đúng sự điều chỉnh của pháp luật nội dung nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tố tụng được thực hiện bởi nhiều cơ
quan, hoạt động nào tuân theo thủ tục do pháp luật hình thức quy định là hoạt

18
động tố tụng. Do đó có nhiều loại tố tụng: tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố
tụng hành chính, tố tụng thi hành án. Ngoài ra, khi xem xét về tính chất của
việc thi hành án, thì tất cả các bản án, quyết định của Tòa án và của Trọng tài
đều có tính chất tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, tức không chỉ là việc xét xử mà
bao gồm cả lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Vì tất cả những lý do nêu trên thi hành án
được hiểu theo nghĩa rộng là thủ tục tố tụng tư pháp.
Để có thể xem xét thi hành án dân sự có phải là hoạt động tố tụng hay
không, mang bản chất hành chính hay tư pháp, theo chúng tôi cần phải xem
xét một số vấn đề sau:
Thứ nhất, mục đích của thi hành án dân sự
Trong quá trình tố tụng, cũng như sau khi đã kết thúc quá trình tố
tụng, Tòa án đưa ra một bản án hoặc quyết định giải quyết một cách tổng thể
về nội dung vụ án (trường hợp vụ án được đưa ra xét xử). Bằng bản án,
quyết định của mình Tòa án nhân danh Nhà nước xác định rõ sự thật khách
quan của vụ án; xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia vào quá
trình tố tụng. Tuy nhiên, lúc này quyền và nghĩa vụ của các bên mới chỉ xác
định được về mặt lý thuyết, trên cơ sở áp dụng các quy định của pháp luật có
liên quan để giải quyết vụ việc và còn nằm trên giấy. Tương tự như vậy, khi
giải quyết các tranh chấp, Trọng tài thương mại cũng mới chỉ vận dụng các

đương sự, bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án ) đều là kết quả của quá
trình giải quyết tranh chấp, nhưng tính chất lại khác nhau. Bản án, quyết định
của Tòa án là kết quả của quá trình tố tụng, nên nó mang bản chất tư pháp.
Còn quyết định của Trọng tài thương mại, là kết của quá trình giải quyết tranh
chấp thông thường, nên nó không mang bản chất tư pháp.
Thứ ba, tính chất các hoạt động cơ bản do cơ quan thi hành án tiến
hành để tổ chức thi hành một bản án, quyết định về dân sự
Nếu coi xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng và bản án,
quyết định là điểm nút kết thúc giai đoạn đó và đồng thời kết thúc quá trình tố

20
tụng, thì thi hành án dân sự là một giai đoạn sau của giai đoạn xét xử, mang
tính chấp hành. Lúc này sự thật khách quan về vụ án đã được sáng tỏ, các
quyền và nghĩa vụ của các bên đã được xác định rõ, cơ quan thi hành án dân
sự sẽ căn cứ vào đó để tổ chức thi hành theo đúng các trình tự đã được
quyđịnh trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành đúng nội dung phần quyết
định của bản án (trường hợp chủ động thi hành án); thi hành đúng nội dung
bản án và đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu).
Cơ quan thi hành án không được tổ chức thi hành án trái với nội dung quyết
định của bản án. Đồng thời, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi
hành án dân sự, sử dụng quyền lực nhà nước trực tiếp tác động đến các bên có
liên quan đến việc thi hành án. Mặc dù, trong quá trình thi hành án, quyền
định đoạt của các bên đương sự vẫn được tôn trọng, người được thi hành án,
người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với nhau về cách thức thi hành án.
Tuy nhiên, nếu như các bên không thỏa thuận được về phương thức thi hành
án, hoặc đã thỏa thuận nhưng bên phải thi hành án không tự nguyện thực hiện
đúng, thì cơ quan thi hành án dân sự sử dụng quyền lực nhà nước thông qua
việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để tổ chức thi hành dứt điểm
bản án,quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài thương mại. Đây là

chức năng khác chủ yếu dựa trên cơ sở của Pháp lệnh Thi hành án dân sự và
các luật, pháp lệnh, nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ
quan, tổ chức có liên quan. Do đó, các quan hệ của cơ quan thi hành án với
các cơ quan khác chủ yếu là các quan hệ mang bản chất hành chính, có tính
chấp hành và điều hành. Thậm chí ngay cả các quan hệ với cơ quan tố tụng
như Tòa án, Công an, thì các quan hệ này cũng hầu như không được quy định
cụ thể trong luật tố tụng.
Mỗi quan điểm trên đều có những lập luận và cơ sở khoa học riêng.
Tuy nhiên từ những phân tích trên, theo tôi quan điểm thứ hai coi thi hành án
là hoạt động hành chính- tư pháp là có nhiều điểm hợp lý hơn cả. Bởi vì, thi

22
hành án không chỉ đơn thuần là hoạt động mang tính tư pháp, hay là giai đoạn
cuối cùng của hoạt động tố tụng, cũng không nên hiểu tố tụng theo một nghĩa
không truyền thống như quan điểm thứ tư để coi thi hành án là hoạt động tố
tụng tư pháp. Mà bản chất thi hành án thể hiện cả hai đặc điểm rất rõ đó là
tính hành chính và tính tư pháp trong hoạt động của mình. Ngoài ra, khác với
các hoạt động tố tụng khác đòi hỏi thủ tục rất chặt chẽ và chỉ do các cơ quan
tiến hành tố tụng thực hiện, thì việc thi hành bản án, trong một số trường hợp
có thể để người dân tự chịu trách nhiệm, tức là có thể tiến hành xã hội hóa
một số hoạt động thi hành án. Vì thế nên coi thi hành án là hoạt động hành
chính - tư pháp.
Có thể đưa ra khái niệm về thi hành án dân sự như sau: Thi hành án
dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước, do cơ quan thi hành
án tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các
bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định khác của cơ quan
có thẩm quyền.
Trong khái niệm này, vấn đề cần tiếp tục làm rõ là phải hiểu như thế
nào về "dân sự" trong thi hành án?
Theo ý kiến thứ nhất thì "dân sự" được hiểu theo nghĩa hẹp. Cơ sở để

Như đã phân tích ở trên, căn cứ để cơ quan thi hành án dân sự tổ chức
thi hành án là các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án và quyết định của
Trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành. Sau khi bản án, quyết định có hiệu
lực, cơ quan thi hành án sẽ căn cứ vào nội dung của bản án, quyết định (trường
hợp cơ quan thi hành án chủ động thi hành án), căn cứ vào đơn yêu cầu thi hành
án và bản án, quyết định (trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu của người
được thi hành án, người phải thi hành án) để thi hành án. Cơ quan thi hành án có
trách nhiệm tổ chức thi hành đúng nội dung của bản án, quyết định; người được
thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến
việc thi hành án phải nghiêm chỉnh thi hành, các cơ quan nhà nước, tổ chức

24
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề
nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và cá nhân tôn trọng [50]. Chính vì
vậy, ở đây thể hiện rất rõ tính chấp hành trong hoạt động thi hành án dân sự.
Đồng thời, chấp hành viên với tư cách là người được Nhà nước trao quyền và
chịu trách nhiệm điều hành quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên căn
cứ vào các quy định của pháp luật về thi hành án chủ động phối hợp với các
cơ quan hữu quan để giải quyết các vấn đề có liên quan đến thi hành án. Đặc
biệt, trong nhiều trường hợp chấp hành viên còn chịu trách nhiệm và điều
hành cả các thành viên thuộc các cơ quan, tổ chức khác có tham gia vào quá
trình thi hành án. Ví dụ: làm Chủ tịch Hội đồng cưỡng chế, Chủ tịch Hội đồng
định giá tài sản, tiêu hủy tài sản
Mặt khác, hầu hết các hoạt động thi hành án đều hướng đến việc thực
hiện các nghĩa vụ về tài sản, trực tiếp tác động đến tài sản của các đương sự.
Theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì cơ quan thi
hành án chịu trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án
về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế; bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định về dân sự,

sự. Đây là một hành lang "mở" nhằm tiếp tục bảo đảm nguyên tắc tự định
đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự ở giai đoạn thi hành án. Và chính
hành lang "mở" này đã và đang tạo ra những điều kiện quan trọng làm luận cứ
cho chủ trương xã hội hóa một số mặt hoạt động của thi hành án dân sự, giảm
thiểu sự can thiệp, hỗ trợ của Nhà nước, tăng tính chủ động của các đương sự,
phù hợp với những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về
nâng cao tính tích cực xã hội của công dân trong quản lý nhà nước và xã hội.
Khác với thi hành án hình sự, người bị kết án phải chấp hành nghiêm
chỉnh bản án, quyết định của Tòa án, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thi
hành án hình sự có trách nhiệm phải tổ chức thi hành dứt điểm các hình phạt
đối với người phạm tội. Trong thi hành án dân sự, ngoài các trường hợp cơ

26
quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án (án phí, lệ phí Tòa
án, trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; hình phạt tiền; tịch thu tài sản,
truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; xử lý vật chứng, tài
sản đã thu giữ; thu hồi đất theo quyết định của Tòa án; quyết định khẩn cấp
tạm thời của Tòa án), cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành án trên cơ sở
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và người phải thi hành. Cơ
quan thi hành án chỉ ra quyết định trong phạm vi yêu cầu của người được
thi hành án, người phải thi hành án. Đồng thời, người được thi hành án có
quyền yêu cầu không thi hành án, hoặc cho người phải thi hành án hoãn việc
thi hành án; thỏa thuận với người phải thi hành án về phương thức, địa điểm
thi hành án.
- Thi hành án dân sự đề cao tính chủ động của chấp hành viên
Tùy từng trường hợp cụ thể, Chấp hành viên được lựa chọn biện
pháp thích hợp, chủ động giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thi
hành án (cưỡng chế, kê biên tài sản, ủy thác thi hành án) sao cho việc thi hành
án đạt được mục đích và hiệu quả miễn là đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã
hội chủ nghĩa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status