Giáo trình luật Hiến pháp - ĐH Kinh tế quốc dân - Pdf 12

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Khoa Luật
Nguyễn Hữu Mạnh
Luật Hiến phápHà Nội, 2008
Mục lục
Chương 1: Lý luận chung về Ngành Luật Hiến pháp
I. Khái niệm ngành luật Hiến pháp, đối tượng điều chỉnh, phương
pháp điều chỉnh của ngành luật Hiến pháp
II. Nguồn và hệ thống Luật Hiến pháp
III. Quan hệ pháp luật Hiến pháp
Chương 2: Khái quát chung về Hiến pháp
I. Nguồn gốc và bản chất của Hiến pháp
II. Quá trình hình thành và phát triển của Hiến pháp
III. Phân loại Hiến pháp
Chương 3: Quá trình hình thành và phát triển của Hiến pháp Việt Nam
I. Tư tưởng lập hiến trước cách mạng tháng Tám năm 1945
II. Hiến pháp 1946
III. Hiến pháp 1959
IV. Hiến pháp 1980
V. Hiến pháp 1992
Chương 4: Chế độ chính trị
I. Khái niệm chế độ chính trị
II. Sự phát triển của chế độ chính trị qua các bản Hiến pháp
III. Một số nội dung cơ bản của chế độ chính trị theo Hiến pháp 1992
(đã sửa đổi, bổ sung)
IV. Một số vấn đề về hoàn thiện hệ thống chính trị của nước
CHXHCN Việt Nam
Chương 5: Chế độ kinh tế

IV. Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học
và công nghệ
Chương 7: Chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh
I. Khái quát chung về chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh
II. Sự phát triển của chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh qua
các bản Hiến pháp
III. Một số điểm mới về chính sách đối ngoại, quốc phòng, an ninh
trong Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung)
IV. Một số vấn đề về hoàn thiện chính sách đối ngoại, quốc phòng, an
ninh
Chương 8: Quốc tịch Việt Nam
I. Khái quát chung về quốc tịch
II. Quốc tịch Việt Nam
Chương 9: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam
I. Khái niệm quyền, nghĩa vụ và chế định quyền, nghĩa vụ cơ bản
của công dân Việt Nam
II. Sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
qua các bản Hiến pháp
81
86
94
95
98
101
109
110
111
114
120
122

142
152
167
174
194
197
198
200
205
209
213
214
216
217
220
222
222
224
4
IV. Mối quan hệ giữa Chính phủ với các cơ quan nhà nước khác trong
bộ máy nhà nước
V. Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính phủ
Chương 15: Hội đồng nhân dân
I. Vị trí, chức năng
II. Thẩm quyền
III. Tổ chức và hoạt động
IV. Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân với các cơ quan nhà nước
khác trong bộ máy nhà nước
V. Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân

294
296
300
305
5
I. Vị trí, chức năng
II. Thẩm quyền
III. Tổ chức và hoạt động
IV. Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với các cơ quan khác
trong bộ máy nhà nước
V. Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Viện kiểm
sát nhân dân
310
310
312
315
319
6
Chương 1
Lý luận chung về
Ngành luật Hiến pháp
I. Khái niệm ngành luật Hiến pháp, đối tượng điều chỉnh, phương
pháp điều chỉnh của Ngành luật Hiến pháp
1. Khái niệm ngành luật Hiến pháp
Ngành luật Hiến pháp là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất.
Trong phạm vi môn học Luật Hiến pháp, khái niệm Luật Hiến pháp được
hiểu là ngành luật Hiến pháp. Môn học Luật Hiến pháp không chỉ nghiên cứu
các quy định hiện hành của ngành Luật Hiến pháp, mà còn nghiên cứu quá trình

II. Nguồn và Hệ thống luật Hiến pháp
1. Nguồn của Luật Hiến pháp
Nguồn của luật Hiến pháp là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật có
chứa đựng các quy phạm pháp luật cấu thành nên ngành luật Hiến pháp. Gồm
các hình thức văn bản: Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội; một số Pháp
lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Lệnh, Quyết định của Chủ
tịch nước; Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án TNND tối
cao, Viện trưởng VKSND tối cao; một số Nghị quyết của HĐND, Quyết định
8
của UBND. Trong chừng mực nào đó, nguồn của luật Hiến pháp còn phải kể đến
Tuyên ngôn độc lập và lời nói đầu các bản Hiến pháp của Nhà nước ta.
2. Hệ thống Luật Hiến pháp
Hệ thống luật Hiến pháp gồm nhiều chế định pháp luật khác nhau, mỗi chế
định điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định thuộc đối tượng điều chỉnh của
ngành luật Hiến pháp, các chế định ấy liên hệ mật thiết với nhau tạo thành một
chỉnh thể thống nhất.
Hệ thống luật Hiến pháp được chia thành các chế định cơ bản sau: (1) chế
định về chế độ chính trị; (2) chế định về chế độ kinh tế; (3) chế định về chế độ
văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ; (4) chế định về quốc phòng, an ninh; (5)
chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; (6) chế định về bầu cử; (7)
chế định về Quốc hội; (8) Chế định về Chủ tịch nước; (9) Chế định về Chính
phủ; (10) Chế định về Hội đồng nhân dân; (11) Chế định về Uỷ ban nhân dân;
(12) Chế định về Toà án nhân dân; (13) Chế định về Viện kiểm sát nhân dân.
III. Quan hệ pháp luật Hiến pháp
1. Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật Hiến pháp
Quan hệ pháp luật Hiến pháp là những quan hệ xã hội được quy phạm
pháp luật Hiến pháp điều chỉnh, quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với
các chủ thể trong mối quan hệ ấy. Các quyền và nghĩa vụ pháp lý này được Nhà
nước bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.

Chương 2
Khái quát chung về Hiến pháp
I. Nguồn gốc và bản chất của Hiến pháp
1. Nguồn gốc của Hiến pháp
Thuật ngữ Hiến pháp đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của
xã hội loài người. Thuật ngữ này bắt nguồn từ chữ Latinh: “Constitutio” với
nghĩa là thiết lập, xác định. Tuy vậy, trong một khoảng thời gian dài, thuật ngữ
này được sử dụng với những nghĩa khác nhau và khác so với quan niệm hiện nay
về Hiến pháp.
Dưới thời Lamã cổ đại, Hiến pháp được sử dụng với nghĩa là một hình
thức văn bản của Hoàng đế. Trung Hoa cổ đại, Hiến pháp được sử dụng với
nghĩa là kỷ cương, phép nước.
Hiến pháp, theo quan niệm hiện đại, là một đạo luật cơ bản, quan trọng
của mỗi quốc gia, có nội dung xác định chế độ xã hội, xác định các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân, xác định những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và
hoạt dộng của bộ máy nhà nước. Sự ra đời của Hiến pháp gắn liền với thắng lợi
của cách mạng tư sản, đồng thời đánh dấu sự chấm dứt của chế độ phong kiến,
chế độ chiếm hữu nô lệ. Trong Nhà nước chiếm hữu nô lệ, Nhà nước phong kiến
không hề biết tới Hiến pháp. Dưới chế độ phong kiến, vua hay hoàng đế được
coi là “thiờn tử”, thâu tóm trong tay toàn bộ quyền lực nhà nước: quyền đặt ra
pháp luật, quyền cắt cử quan lại để cai quản đất nước, quyền xét xử tối cao.
Người dân trong xó hội được gọi là "thần dõn" đó bị tước đoạt cả các quyền tối
thiểu nhất của con người, như quyền sống, quyền tự do: Vua cho sống thỡ được
sống, vua bắt chết thỡ phải chết. Để hạn chế quyền lực vô hạn định của nhà vua,
tiến tới lật đổ chế độ thống trị hà khắc, độc đoán, chuyên quyền phong kiến, giai
11
cấp tư sản đó phỏt động cuộc cách mạng tư sản. Để tập hợp lực lượng giai cấp tư
sản cần đến một nền tảng lý luận để thuyết phục mọi người. Giai cấp tư sản đó
tỡm đến những tư tưởng đũi hỏi sự phõn chia quyền lực được nêu ra từ thời cổ
đại, phát triển chúng để phục vụ cho cuộc cách mạng tư sản.

Hiến pháp còn thể hiện là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước. Các quy
định của Hiến pháp trở thành những nguyên tắc tối cao trong hệ thống pháp luật
quốc gia. Xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản trong Hiến pháp, nhiều văn bản
luật và dưới luật được ban hành để triển khai, thực hiện những nguyên tắc ấy.
Bất cứ một văn bản pháp luật nào trái với các nguyên tắc trong Hiến pháp đều bị
coi là vi hiến và bị hủy bỏ, bãi bỏ theo những thủ tục nhất định.
Hiến pháp còn mang tính nhân bản ở việc ghi nhận quyền của con người.
Thông qua Hiến pháp, mọi người trong xã hội thoát khỏi thân phận “thần dân”,
được trở thành “công dân” và được Nhà nước ghi nhận cho hưởng những quyền
nhất định. Theo nguyên tắc, đó là những quyền tối thiểu mà công dân được
hưởng, các văn bản khác được trao thêm quyền cho người dân, nhưng không
được hạn chế bớt những quyền của người dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp.
Các văn bản khác cũng không được hạn chế, cản trở việc hưởng thụ các quyền
của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp.
Hiến pháp còn là cơ sở để hạn chế quyền lực của các cơ quan nhà nước, tránh
sự lạm quyền của các cơ quan này. Hiến pháp ghi nhận những quyền hạn tối đa
mà các cơ quan nhà nước được hưởng và những nghĩa vụ tối thiểu mà các cơ
quan nhà nước phải thực hiện. Các văn bản khác được trao thêm nghĩa vụ cho
các cơ quan nhà nước, nhưng không được trao thêm các quyền ngoài những
quyền mà Hiến pháp quy định.
II.QUá trình hình thành và phát triển của Hiến pháp
13
1. Quá trình hình thành và phát triển của Hiến pháp
trong xã hội tư sản
Hiến pháp được hình thành cùng với cuộc cách mạng tư sản, là sản phẩm
của cách mạng tư sản. Trong cuộc cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo nhằm
chống lại chế độ phong kiến, chống lại quyền lực vô hạn của vua, chúa phong
kiến. Để tập hợp lực lượng, giai cấp tư sản đã đưa ra yêu cầu phải xây dựng Hiến
pháp nhằm để hạn chế hoặc xoá bỏ quyền lực vô hạn của vua chúa phong kiến.
Hình thức hạn chế hoặc xoá bỏ quyền lực được thực hiện bằng cách: xoá bỏ

tố tích cực, tiến bộ.
2. Quá trình hình thành và phát triển của Hiến pháp
trong xã hội XHCN
Hiến pháp XHCN được hình thành gắn liền với cuộc cách mạng vô sản.
Giai cấp vô sản đã tiến hành phê phán Hiến pháp tư sản, chỉ ra rằng Hiến pháp tư
sản có bản chất chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Đồng thời cũng nhận
thấy được những giá trị tích cực của Hiến pháp, giai cấp vô sản cho rằng cũng
cần phải xây dựng một loại Hiến pháp mới cho một xã hội mới, xã hội XHCN.
Hiến pháp được xây dựng để ghi nhận thắng lợi của giai cấp vô sản, ghi nhận
những nền tảng của chế độ XHCN, ghi nhận những quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, ghi nhận những nguyên tắc cơ bản về tổ chức quyền lực nhà nước.
Trong giai đoạn đầu, từ cách mạng tháng Mười đến năm 1945, Hiến pháp
XHCN chỉ tồn tại trong phạm vi nội bộ quốc gia (Liên bang Nga, sau là liên
bang Xôviết). Sau này, khi các nước XHCN khác được hình thành, cùng với nó
là sự ra đời của các bản Hiến pháp, như: Hiến pháp Việt Nam năm 1946, Hiến
pháp Bungary năm 1947, Hiến pháp Rumani năm 1948, Hiến pháp Cộng hoà dân
chủ Đức năm 1949, Hiến pháp Hungary năm 1949, Hiến pháp Ba lan năm 1952,
Hiến pháp Trung Hoa năm 1954. Từ năm 1990 đến nay, khi các nước XHCN ở
15
Đông Âu tan rã và quay trở lại với hình thức nhà nước tư sản, các bản Hiến pháp
XHCN ở các nước này đã được thay đổi, trở thành các bản Hiến pháp tư sản.
Hiến pháp XHCN hiện chỉ còn áp dụng tại một số rất ít quốc gia, trong đó có
Việt Nam.
III. Phân loại Hiến pháp
1. Phân loại Hiến pháp theo hình thức biểu hiện
a) Hiến pháp thành văn
Hiến pháp thành văn là Hiến pháp được biểu hiện dưới hình thức văn bản.
Thông thường là một văn bản, trong trường hợp đặc biệt, Hiến pháp được thể
hiện dưới hình thức nhiều văn bản. Ví dụ như Hiến pháp Thụy Điển được biểu
hiện thông qua các đạo luật: Luật về chính thể (1809), Luật về kế vị ngôi vua

b) Hiến pháp cương tính
Hiến pháp cương tính là Hiến pháp có thủ tục thông qua đặc biệt hơn so
với các đạo luật thông thường. Tính đặc biệt thể hiện ở chỗ: (1) cần có một cơ
quan đặc biệt thông qua, như Quốc hội lập hiến hoặc thông qua toàn dân biểu
quyết; (2) thủ tục thông qua chặt chẽ, khắt khe hơn thể hiện ở trình tự xây dựng
và thông qua Hiến pháp, tỷ lệ thông qua Hiến pháp cao hơn mức quá bán (trên
2/3, hoặc trên 3/4).
4. Phân loại Hiến pháp theo bản chất giai cấp
a) Hiến pháp tư sản
17
Hiến pháp tư sản là Hiến pháp được ban hành trong nhà nước tư sản, với
bản chất là ý chí của giai cấp tư sản để bảo vệ các quyền, lợi ích của giai cấp tư
sản. Hiến pháp tư sản có một số đặc trưng:
(1) Về chế độ xã hội: không có quy định rõ về tính giai cấp, bảo vệ chế độ
tư hữu;
(2) Về quyền và nghĩa vụ của công dân: Sau chiến tranh thế giới lần thứ
hai, các quyền tự do, dân chủ đã được ghi nhận nhiều hơn.
(3) Về tổ chức quyền lực nhà nước: áp dụng thuyết phân quyền.

b) Hiến pháp xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp XHCN là Hiến pháp được ban hành trong nhà nước XHCN, với
bản chất là ý chí của nhân dân lao động, bảo vệ các quyền, lợi ích của nhân dân
lao động. Hiến pháp XHCN có một số đặc trưng sau:
(1) Về chế độ xã hội: quy định rõ tính giai cấp, ghi nhận vai trò lãnh đạo
của Đảng cộng sản, bảo vệ cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa;
(2) Về quyền và nghĩa vụ của công dân: quy định nhiều quyền tự do, dân
chủ và các quyền công dân khác;
(3) Về tổ chức quyền lực nhà nước: áp dụng nguyên tắc tập quyền ở
những mức độ khác nhau.
18

hướng này là: Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh, Lê Văn Bông, Nguyễn Văn Vĩnh,
Phạm Huy Lạc
Khuynh hướng, tư tưởng của các nhà chí sỹ yêu nước muốn xây dựng một
nhà nước độc lập, xâu dựng một bản Hiến pháp của nhà nước Việt Nam độc lập,
không phụ thuộc vào Pháp. Đại biểu cho khuynh hướng này là: Phan Chu Trinh,
Phan Bội Châu; Huỳnh Thúc Kháng.
Tư tưởng lập hiến của Nguyễn ái Quốc chịu ảnh hưởng của trường phái
thứ hai, tư tưởng này được phát triển sau khi người trải nghiệm thực tiễn ở các
nước tư sản, tham gia quốc tế cộng sản và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác -
Lênin.
II. Hiến pháp năm 1946
1. Hoàn cảnh ra đời Hiến pháp năm 1946
a) Tình hình thế giới
Chiến tranh thế giới lần thứ hai đang bước vào giai đoạn cuối, các nước xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu ra đời và trở thành hệ thống, với vai trò đứng đầu của
nhà nước liêng bang Xô Viết. Lúc này, trên thế giới hình thành hai hệ thống: Hệ
thống các nước xã hội chủ nghĩa và hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa. Hai hệ
thống này đấu tranh gay gắt với nhau bởi chúng có bản chất khác nhau. Các
nước tư bản chủ nghĩa áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, duy trì sự
bóc lột của nhà tư sản đối với lao động làm thuê. Nhà nước tư sản là nhà nước do
20
giai cấp tư sản lập ra, là nhà nước bóc lột, vì lợi ích của giai cấp chiếm thiểu số
trong xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa duy trì phương thức sản xuất xã hội chủ
nghĩa, công hữu về tư liệu sản xuất, xóa bỏ tình trạng bóc lột, là nhà nước của
dân, do dân và vì dân. Hai hệ thống này đấu tranh với nhau cả về chính trị, kinh
tế và tư tưởng.
Các phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ của công nhân, nhân dân
lao động, của các Đảng cộng sản ở nhiều nước tư bản lan rộng. Cách mạng giải
phóng dân tộc của các nước trên thế giới làm lung lay chủ nghĩa thực dân. Các
nước phát xít (Đức, ý , Nhật) bị bại trận, các đế quốc đại diện cho chế độ thực

kết của nhân dân ta theo tinh thần tự nguyện cứu trợ, nhường cơm sẻ áo, đồng
bào nơi đói ít san sẻ cho đồng bào vùng đói nghiêm trọng. Chính phủ động viên
toàn dân tích cực tăng gia sản xuất, tổ chức lạc quyên, lập “hũ gạo tiết kiệm”,
đồng thời ban hành các sắc lệnh tiết kiệm gạo, cấm tích trữ lương thực. Chính
phủ xóa bỏ các thứ thuế vô lý của chế độ cũ, dồng thời động viên toàn thể nhân
dân bằng tinh thần tự nguyện và theo khả năng của mình, đóng góp tài chính
bằng nhiều hình thức. Kết quả thu được hàng chục triệu đồng và hàng trăm cân
vàng cho Nhà nước. Chế độ thực dân đã để lại cho 90 % nhân dân mù chữ,
Chính phủ mở các lớp bình dân học vụ xóa mù chữ ở khắp các nơi.
c) Quá trình xây dựng, ban hành Hiến pháp 1946
Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách. Trong đó có nhiệm vụ quan trọng là cần xây
dựng ngay một bản Hiến pháp. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Trước chúng ta đã bị chế
độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên
chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự
do, dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ
chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”
[
2
].
Ngày 20/9/1945 Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo
Hiến pháp, gồm 7 thành viên, do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Sau khi công
2
[] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập IV, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.8.
22
việc soạn thảo được hoàn thành, bản dự thảo được đem công bố để lấy ý kiến
góp ý từ nhân dân.
Công việc chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử và dự thảo Hiến pháp được
tiến hành khẩn trương, tuy nhiên trong điều kiện các thế lực thù địch trong và
ngoài nước lăm le lật đồ chính quyền non trẻ nên quá trình chuẩn bị diễn ra hết

Thứ nhất, những nội dung xác định chế độ xã hội của nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà. Hiến pháp năm 1946 khẳng định nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà là nhà nước có hình thức chính thể cộng hoà dân chủ, hình thức cấu
trúc là nhà nước đơn nhất; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; không
phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.
Thứ hai, những nội dung quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân. Hiến pháp năm 1946 quy định công dân cơ các nghĩa vụ cơ bản như:
Bảo vệ tổ quốc; tôn trọng Hiến pháp, tuân thủ pháp luật; đi lính. Các quyền cơ
bản gồm: quyền bình đẳng; quyền tham gia vào quản lý nhà nước; quyền tự do
ngôn luận, xuất bản, tổ chức và hội họp, tín ngưỡng, đi lại và cư trú; quyền tư
hữu đối với tài sản; quyền học tập; quyền bầu cử và ứng cử; quyền bất khả xâm
phạm về thân thể, nhà ở và thư tín.
Thứ ba, những nội dung quy định về tổ chức quyền lực nhà nước. Hiến
pháp năm 1946 xác định việc tổ chức bộ máy nhà nước ta theo nguyên tắc tập
quyền. Tuy nhiên bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 có những sự sáng
tạo nhất định trên cơ sở tiếp thu một số đặc trưng của hình thức cộng hoà tổng
thống và cộng hoà đại nghị. Bộ máy nhà nước gồm có: Nghị viện nhân dân,
Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính, Toà án.
III. Hiến pháp năm 1959
1. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1959
24
Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp thứ hai của nhà nước ta. Bản Hiến
pháp này ra đời trong hoàn cảnh sau cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân
ta giành được thắng lợi, miền Bắc đã được giải phóng và thực hiện việc xây
dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội còn miền Nam tiếp tục cuộc kháng
chiến. Do tình hình lúc đó có nhiều thay đổi so với trước nên cần phải xây dựng
một bản Hiến pháp mới để đáp ứng được với những sự thay đổi đó.
a) Tình hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, quân đội Việt Minh tiếp quản thủ đô theo
hiệp định Giơnevơ. Khi tiếp quản, nhiều công trình, máy móc, nhà xưởng bị thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status