Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hướng CCNH - HDH - Pdf 12

Lời nói đầu
Phát triển công nghiệp nông thôn là một nội dung trọng yếu của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nớc ta và đang là một nhu cầu hết sức
bức bách của Bắc Giang. Thực tiễn đã chỉ rõ: nếu chỉ dựa vào nông nghiệp thuần
nông, độc canh cây lúa thì kinh tế tỉnh Bắc Giang không thể phát triển nhanh và
bền vững, đời sông nhân dân khó đợc cải thiện và nâng cao.
Với hy vọng góp phần nhỏ vào việc tìm ra những căn cứ khoa học và những
giải pháp thực tiễn khả thi đa Bắc Giang tiến nhanh lên trình độ văn minh, hiện
đại, tôi đã đi sâu nghiên cứu vấn đè Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc
Giang theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hoá .
ở nớc ta cho đến nay đã nhiều công trình nghiên cứu và viết về công nghiệp
nông thôn. Tất cả các tác giả đều tập trung nghiên cứu công nghệp nông thôn với
t cách là giải pháp thúc đẩy sự phát triển toàn diện kinh tế xã hội nông thôn
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các tác giả đều thống nhất nhận
định và đã đạt tới kết quả sau:
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của kinh tế nông thôn và nàm trong
kết cấu công nghiệp chung của cả nớc.
Phát triển công nghiệp nông thôn là yêu cầu khách quan cấp thiết của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp nông thôn có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội
nông thôn.
Đề xuất đợc những đính hớng và giải pháp cho sự phát triển công nghiệp nông
thôn nớc ta.
Tuy vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc
Giang còn ở bớc sơ khởi, cha có những công trình nghiên cứu ngang tầm. Do vậy,
phải đi sâu ngiên cứu phát triển công ngiệp nông thôn ở Bắc Giang trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên các nội dung sau:
1
Phân tích, luận giải làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển công nghiệp
nông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở quán
triệt sâu sắc những quan điểm lý luận của các tác giả đi trớc, các nghị quyết của

thôn phù hợp với điều kiện cụ thể của Bắc Giang.
Đề xuất những giải pháp thực tiễn và khả thi nhằm đẩy mạnh phát triển công
nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong
những năm tới.
Phát triển công nghiệp nông thôn ở Bắc Giang theo hớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là một vấn đề mới mẻ và phức tạp. Mặc dù tôi đã rất cố gắng đi sâu
nghiên cứu và đã đạt đựợc những kết quả nhất định, song do còn có nhiều khó
khăn về chủ quan và khách quan, cho nên đề án này chắc chắn còn có những
khiếm khuyết, kích mong các thầy giáo lợng thứ.
Tôi chân thành cám ơn THS. Nguyễn Thành Hiếu đã tận tâm hớng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành đề án này.
3
I. Lý luận chung về phát triển công nghiệp hoá ở nông thôn
theo hớng xă hội chủ nghĩa
1.1. Lý luận chung
a. vai trò công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Trong xây dựng và phát triển kinh tế nông thôn ở các nớc đang phát triển, thì
trớc hết phải tập trung vào phát triển nông nghiệp và từ nông nghiệp đi lên. Đó là
kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hoá.
Bản thân nông nghiệp có những mặt han chế nh không thể tự mình tạo ra sự
thay đổi mạnh mẽ về cơ sở vật chất kỹ thuật, về công nghệ và thiêt bị, để hiện đại
hoá sản xuất tạo ra mức tăng trởng cao hơn, cũng nh không đủ khả năng tạo ra
việc làm với thu nhập cao hơn cho số lao động tăng lên ở nông thôn,mà cần đến
tác động của công nghiệp. Nhng chính công nghiệp đo thị ở các nớc nông nghiệp
lạc hậu lại cha phát triển đén mức có thể thu hút đợc nhiều lao động d thừa ở nông
thôn và các nhu cầu khác ở nông thôn. Đó là lý do đặt ra vấn đè công nghiệp hoá ở
nông thôn ở các nớc đang phát triển trong quá trình công nghiệp hoá đất nớc.
Trong thời kì đầu nông nghiệp phát triển theo hớng công nghiệp hoá, do sẵn
có tiềm lực về đất đai, lao động dồi dào, nên thờng tập trung vào phát triển sản
xuất nông nghiệp để đảm bảo nhu cầu nông sản cho xã hội và cả cho xuất khẩu.

hút số lao động d thừa nông nghiệp, sử dụng một phần thu nhập đẻ đầu t cho nông
nghiệp phát triển, thúc đảy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.
Trong giai đoạn này giá trị sản phẩm ngoài nông nghiệp ở nông thôn có xu h-
ớng tăng dần, cả về số tuyệt đói và tỷ trọng. Tỷ trọng giá trị sản phẩm ngoài nông
nghiệp trong cơ cấu
kinh tế nông thôn từ chỗ thấp hơn tỷ trọng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tiến lên
bằng rồi, vợt nông nghiệp.
Khi một nơc đang phát triển hoàn tất quá trình công nghiệp, hoá trở thành
một nứơc công nghiệp, thì phát triển nông thôn bớc vào tời kì giảm bớt tỷ trọng
khu vực kinh tế nông nghiệp nhng vẫn giữ một mức độ cần thiết về sản lợng nông
sản, về giá trị sản phẩm nông nghiệp trong kinh tế nông thôn và mở rộng khu vực
kinh tế ngoài nông nghiệp ở nông thôn cả về sản lợng, giá trrị sản lợng và tỷ trọng.
Tóm lại trong công cuộc phát triển nông thôn, để đạt mục tiêu tạo việc làmvà
nâng cao thu nhập của c dân nông thôn, đa mức sống của dân nông thôn tiến lên
5
gần mức sống của dân thành thị thì giải pháp cơ bản không phải chỗ tập chung vào
phát triển nông nghiệp la đủ mà phải phát triển đồng thời kinh tế nông nghiệp và
ngoài nông nghiệp theo hớng đa kinh tế ngoai nông nghiệp ở nông thôn phát triển
đạt đến tỷ trọng cao hơn kinh tế nông nghiệp. (1)
b. Mục tiêu, nội dung tổng quát và quan điểm phát triển.
Thực tế cho thấy dù công nghiệp hoá nông thôn đã diễn ra ở nhiều nớc nhng
định nghĩa về công nghiệp về công nghiệp hoá nông thôn thì cho đến nay cha đợc
diễn giải trong các từ điển trong nớc và ngoài nớc vì đây vẫn còn là vấn đề mới,
đang còn tiếp tục trao đổi. ngay công nghiệp hoá-một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu
- đến nay vẫn còn những định nghĩa không hoàn toàn giống nhau. ở nớc ta vấn đề
này đã đợc nghị quyết Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung ơng Đảng (khoá
VII) ghi rõ Công dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và
phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh,
dich vụ và quản lý kinh tế , xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sang

bảo vệ môi trờng sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuấtphù
hợp; xây dựng nền dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn.
c. Những quan điểm về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Phát
triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ chợ đắc lực và phục vụ có hiệu
quả cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Ưu tiên phát triển lực lợng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con ngời,
ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế heo hớng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trờng để sản xuất hàng
hoá quy mô lớn với chất liệu va hiệu quả cao; bảo vệ môi trờng, phòng chống, hạn
chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững.
Dựa trên nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên
ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nớc giữ
7
vai trò chủ đạo, cùng với tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc; phát
triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn,
Kết hợp chắt chẽ các vấn đè kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp hoá
và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoá đói, giảm
nghèo, ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vất chất và văn hoá
của nhời dân nông thôn, nhất là đòng bằng các dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa;
giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục.
Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
với xây dựng tiềm lực và thé trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân,
thể hiện trong chiến lợc quy hoạch, dự án phát triển kinh tế-xã hội của cả nớc của
các ngành, các địa phơng.đầu t phát triển kinh tế-xã hội, ổn định dân c các vùng
xung yếu, vùng biên giới cửa khẩu, hải đảo phù hợp với chiếnc lợc an ninh quốc

suất lao động nông nghiệp. Không làm đợc nhng việc nh vậy sẽ không chuyển đợc
nền nông nghiệp sản xuất tự túc sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, đảm bảo
yêu cầu có nhiều nông sản hàng hoá cho công nghiệp hoá. Một nền nông nghiệp
công nghiệp hoá phải đảm báo sản phẩm lao động làm ra đủ nuôI 5 7 ngời
ngoài nông nghiệp trơ lên, vì tỷ trọng lao động ngoài nông nghiệp ở nông thôn
cũng nh trong xã hội ngày càng tăng. Mặt khác việc đa máy móc vào để cơ giới
hóa, hiện đại hoá nông nghiệp sẽ dẫn đến tình trạng tăng thêm số lợng lao động d
thừa ở nông thôn vốn đã nhiều. Nh vậy cơ giới hoá nông nghiệp làm tang thêm
nạn thất nghiệp ở nông thôn, làm giảm bớt nguồn thu nhập vốn đã ít ỏi từ nông
nghiệp của dân. Chìa khoá đẻ giảI quyết mâu thuẫn này chính là việc phát triển
mạnh mẽ các ngành nghề công nghiệp nông thôn để số lao động d thừa có việc
làm và có thu nhập không những bằng mà còn caohơn thu nhập từ nông nghiệp.
Đây là con đờng mà Trung Quốc thực hiên và đem lại hiệu quả rõ rệt.
Kinh nghiệm rút ra là cơ giới hoá nông nghiệp và phát triển ngành nghề có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy nhau dùng phát triển. Muốn đạt đợc
hiệu quả đồng bộ trong phát triển kinh tế nông thôn theo hớng công nghiệp hoá,
mức độ hiện đại hoá nông nghiệp trong từng thời gian phảI phù hợp với mức độ
phát triển ngành nghề ngoài nông nghiệp tạo việc làm cho lao động d thừa ở nông
thôn.(2)
9
(1): V¨n kiÖn §¹i Héi §¶ng IX
(2):nguån: Trung Quèc lý luËn, thùc tiÔn vµ nh÷ng bµi häc kinh nghiÖm(t¹p chÝ céng s¶n)
10
II. Thực trạng công nghiệp hoá nông thôn ở Bắc Giang
2.1. Tình hình công nghiệp hoá nông thôn ở Bắc Giang
a. Tình hình nông - lâm - ng nghiệp và kinh tế nông thôn
Cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp
Mặc dù cơ giới hoá nông nghiệp ở Bắc Giang đợc bắt đầu từ những năm 50
và phát triển tơng đối mạnh vào thời gian từ 1975-1980 nhng sang đến năm những
năm 80 thì cơ giới hoá nông nghiệp giảm sút nhiều do thiếu vốn đầu t, do không

Mấy năm gần đây số lợng các loại náy động lực( động cơ điện, động cơ nổ,
ôtô và các máy công tác nh máy bơm, máy đập lúa, máy xay xát tăng lên nhiều:
máy phát điện tăng 12 lần, ôtô ở nông thôn tăng 8 lần, máy bơm nớc tăng 2,8 lần
máy đập lúa tăng 3 lần, máy nghiền thức ăn gia súc tăng5 lần.
Động cơ đốt trong nhiều nhất là ở Việt Yên, Lục Nam dùng để chạy các máy
nhỏ, các phơng tiện vận chuyển băng công nông, máy kéo nhỏ và chạy các máy
đập tuốt lúa và máy xay xát nhỏ. Động cơ điện nhiều nhất ở Lạng Giang, Hiệp
Hoà, Tân Yên vì đây là vùng có mạng lới điện quốc gia kéo về tận các làng xã và
hộ gia đình nông thôn. Động cơ điện ít nhất ở vùng Sơn Động, Lục Ngạn là do
điện khí hoá nông nghiệp và nông thôn ở đây kém phát triển.
Để đánh giá chính xác hơn trình độ cơ giới hoá,bên cánhử dụng chỉ tiêu số máy
động lực, ngời ta còn sử dụng chỉ tiêu công suất đọng lực bình quân trên diện tích
gieo trồng.
Nhìn chung trong thời gian 1991- 1995, các máy động lực và máy công tác trong
nông nghiệp đã đợc tăng về số lợng ở hầu nh tất cả các vùng trong cả nớc.
Mức trang bị động cơ đốt trong( xăng, diesel) trên 100 hộ nông dân cao nhât là
Lục Nam(10,55 máy) thứ hai là Sơn Động (1,9 máy), vì các hộ nông dân Lucn
Nam,Sơn Động cần động cơ để chạy máy xay xát, đập tuốt lúa(do mạng lới điện
cha phát triển), và dùng động cơ để chạy thuyền máy.
Điểm mới nổi lên trong việc trang bị và sử dụng máy móc trong nông nghiệp ở
thời kỳ đổi mới là chủ thể sở hữu quản lý và sử dụng máy không phải chỉ co kinh
tế quốc doanh và tập thể nh trớc kia, mà bao gồm nhiều thành phần kinh tế: quốc
doanh, hợp tác, gia đình, cá thể trong đó số lợng các hộ gia đình làm chủ sở hữu
và sử dụng máy móc nông nghiệp ngày càng tăng, với số lợng máy móc ngày càng
nhiều.
12
Nh vậy là số lợng máy móc trong nông nghiệp thuộc kinh tế quốc doanh sở
hữu và quản lý cao nhất là các trạm bơm điện 25%, trạm biến thế điện 12%, còn
các máy móc khác phần lớn do kinh tế cá thể và hợp tac sở hữu và quản lý.
Trong thời gian 1991-1995 việc máy móc nông ngiệp trang bị cho nông nghiệp

quyết lao động d thừa ở nông thôn khi cơ giới hoá nông nghiệp phát trỉển.
Thuỷ sản
Thy sn ca tnh hn mt nm nay cng ó cú bc chuyn mnh, c bit
l t khi Bc Giang cú ch trng chuyn i 10.000 ha t lỳa mt v khụng
n chc sang trng cõy n qu, cõy cụng nghip v nuụi trng thy sn. Dự cũn
vng v c ch h tr vn, nhng do thy c li ớch v s cp bỏch phi
chuyn i hng lm n nờn nụng dõn trong tnh vn ch ng b vn ra lm.
Nh vy, trong nm 2002 tũan tnh ó chuyn c 2.598 ha t "hiu qu trng
lỳa kộm" sang sn xut cõy, con giỏ tr cao t "qu 10.000 ha", trong ú cú 1.023
ha sang nuụi trng thy sn, a din tớch thy sn tũan tnh n thi im ny
t 3.392 ha, tng 13% so vi 2001, sn lng t trờn 7.000 tn.
Tỡnh hỡnh chuyn dch c cu kinh t Bc Giang (nhandan.org.vn)
Nhng nm qua, nụng nghip Bc Giang khụng ch bo m n nh
lng thc, thc phm cho 1,5 triu dõn m cũn to iu kin cho mt b phn
nụng dõn tớch ly vn, m mang ngnh ngh nụng thụn. Bc Giang ó v ang
hỡnh thnh mt vựng sn xut nụng nghip hng húa, cung cp lng thc, thc
phm cho cỏc thnh ph v khu cụng nghip tp trung phớa bc.
Tip tc chuyn dch c cu cõy trng
Bc Giang l mt tnh min nỳi, trung du, tip giỏp vi vựng ng bng Bc
B. éc bit, cỏc huyn phớa nam tnh nh Yờn Dng, Vit Yờn, Hip Hũa v
mt phn cỏc huyn Tõn Yờn, Lng Giang, t xa ó l vựng sn xut lỳa nc
truyn thng.
Sau khi chia tỏch tnh, Bc Giang vn cũn ti 12,4 vn ha t nụng nghip,
trong ú cú 7,4 vn ha t cy lỳa, 0,7 vn ha t chuyờn mu. Bỡnh quõn rung
t l 524 m2/ngi. Vi tim nng t ai phong phỳ, a dng phự hp nhiu
14
loại cây trồng, vật nuôi, cho nên trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp
luôn có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế của địa phương.
Với lợi thế địa lý và tiềm năng đất đai lao động sẵn có, từ nay tới năm 2005
và những năm tiếp theo, nông nghiệp Bắc Giang vẫn có cơ hội phát triển mạnh.

Là tỉnh đi lên từ kinh tế nông nghiệp, Bắc Giang coi việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong nông nghiệp để đưa tốc độ tăng trưởng trong ngành nông, lâm
nghiệp, thủy sản từ 4,8% năm 2003 lên 5-5,5% trong năm 2004. Bắc Giang có
12,4 vạn ha đất nông nghiệp, trong đó đất lúa là 7,4 vạn ha. Diện tích gieo trồng
hằng năm của tỉnh 18,2 vạn ha, riêng diện tích lúa cả năm là 115.871 ha.
Trong những năm vừa qua, Bắc Giang đã phối hợp, tranh thủ sự giúp đỡ của
các viện khoa học nông nghiệp đưa các loại giống lúa thuần, lúa lai nhập khẩu
vào canh tác. Tỉnh có chính sách trợ giá giống cho nông dân mỗi năm từ hai đến
ba tỷ đồng.
Nhờ công tác tuyên truyền sâu rộng, cộng với sự trợ giá của tỉnh, đến năm
2003, hơn 70% diện tích lúa đã được cấy bằng các giống thuần, cho năng suất
bình quân đạt 45,4 tạ/ha; đây là năm có năng suất cao nhất từ trước tới nay.
Năm 2004 và những năm tiếp theo, Bắc Giang chủ trương đưa các loại giống
mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào thâm canh, tăng năng suất, nhằm giảm
diện tích lúa xuống còn ổn định 100 nghìn ha nhưng tổng sản lượng lương thực
vẫn đạt 555,1 nghìn tấn. Từ đó, Bắc Giang sẽ chuyển hơn 10 nghìn ha ruộng
vùng cao, vùng trũng sang trồng màu công nghiệp ngắn ngày, trồng cây ăn quả
và nuôi thủy sản.
Nâng cao hiệu quả kinh tế
Năm 2004, Bắc Giang phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế nông, lâm,
ngư nghiệp từ 5 đến 5,5%, đây là tốc độ tăng trưởng cao đối với sản xuất nông
nghiệp. Ðể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong nông nghiệp, Bắc Giang
16
chủ trương động viên nông dân đầu tư xây dựng "cánh đồng có thu nhập cao" và
hưởng ứng phong trào thi đua "hộ thu nhập 50 triệu đồng/năm".
Qua khảo sát điều tra ở huyện Hiệp Hòa đã có 300 ha, bằng 0,3% tổng diện
tích canh tác toàn huyện đã có thu nhập hơn 50 triệu đồng/ha/năm. Ở các xã
vùng ven sông Cầu thuộc huyện Hiệp Hòa, Việt Yên với công thức chuyên
canh: lúa + cá; chuyên rau, củ quả cao cấp đã cho thu nhập từ 80 đến 100 triệu
đồng/ha. Ngược lại có vùng công thức luân canh hai lúa/năm chỉ cho thu nhập

bc vn lờn tr thnh tnh cú nn nụng nghip hng húa phỏt trin.(1)
ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản suất nông nghiệp
trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý
Việc áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào nông nghiệp
trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ và đã có tác dụng tích cực đối với sản
xuất. (1):ngun :Hong Tin(http:// www.nhandan.org.vn)
18
Trớc hết là công nghệ sinh học đã góp phần thúc đẩy tăng năng suất của các
loại cây trồng vật nuôi. Không chỉ các giống cây trồng tốt nh lúa lai, lạc đậu tơng,
cây ăn trái ,rau, mía, chè v.v...mà cả các giống vật nuôi tốt nh gà công nghiệp, lợn
nhiều nạc, bò thịt, bò sữa v.v...đều đợc nông dân đa vào sử dụng rộng rãi. Cùng với
giống cây trồng và vật nuôi, các loại vật t kỹ thuật nh phân hóa học các loại, phân
vi sinh, thuốc trừ sâu, thuốc thú y cũng đã trở nên quen thuộc đối với nông dân các
vùng từ miền xuôi đến miền núi.
Các quy trình công nghệ tiến bộ với những công cụ máy móc thích hợp cũng
đã và đang đợc phổ cập trong sản xuất. Ví dụ nh kỹ thuật làm mạ non để tiết kiệm
giống, tiết kiệm đât, đảm bảo chất lợng mạ tốt, năng suất lúa cao đang phát triển ở
một số huyện Việt Yên, Lạng Giang, Tân Yên, . Kỹ thuật trồng ngô bầu trên đất
ớt vụ đông cũng đợc ứng dụng đại trà. Kỹ thuật chiết ghép một số loại cây ăn trái
cũng có nhiều tiến bộ. Kỹ thuật cơ giới hoá một số khâu canh tác bắt đầu phát
triển bổ sung và thay thế kỹ thuật thủ công.
Đổi mới về vật t kỹ thuật, công cụ sản xuất và công nghệ sản xuất nông
nghiệp theo hớng công nghiệp hoá đã tác động tích cực đến sản xuất.
Sản xuất lơng thực có tốc độ tăng trởng vợt mức tăng dân số, nên Bắc Giang
về cơ bản đã vợt qua cửa ải lơng thự từ chỗ phải nhập ở các tỉnh lân cận, tiến lên
xuất khẩu gạo. Tổng sản lợng lơng thự năm1998 là 3,5 triệu tấn, năm 2002 tăng
lên 4,2 triệu tấn. Sản lợng lơng thực bình quân ngời năm 1998 là 324,9 kg, năm

2
, huyện Lục Ngạn là 905 m
2
, huyên Tân Yên là 764 m
2
, Lục Nam là 1.184 m
2
và huyện Việt Yên là 662 m
2
.
Tình hình ruộng đất ít ở nông thôn Bắc Giang gây ra tình trạng d thừa nhiều
lao động trong các lứa tuổi, cần có công ăn việc làm. đó là tiền đề của việc phát
triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn,
trong tình trạng đi lên công nghiệp hoá, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn sang cơ cấu công nông nghiệp và dịch vụ.
2.2. Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn
Nghề chế biến nông sản
Những năm gần đây, sản lợng nông nghiệp tăng nhanh dã thúc đẩy ngành
nghề chế biến nông sản, trớc hết là chế biên lơng thực thực phẩm, phát triển phục
vụ cho nhu cầu thị trờng trong tỉnh và bán sang các cửa khẩu Lạng Sơn đẻ xuất
khẩu sang Trung Quốc.
Tham gia chế biến lơng thực, thực phẩm ở Bắc Giang hiện nay bao gồm một
mạng lới từ các cơ sở của hộ nông dân, các doanh nghiệp t nhân, đến các cơ sở
quốc doanh.
Cho tới nay nghề chế biến lơng thực vẫn chủ yếu là xay xat gạo. Các nhà máy
xay xát quả quốc doanh không đáp ứng đợc yêu cầu về khối lợng và chất lợng xay
xát ngày càng cao không chỉ đối với thị trờng ngoài tỉnh mà cả đối với thị trờng
trong tỉnh vì thiết bị cũ kĩ và công nghệ lạc hậu.
Trừ một số xí nghiệp chế biến lơng thực nhà nớc mới đợc trang bị máy móc
với kỹ thuật và công nghệ hiện đại phục cụ xuất khẩu tập trung ở ven thị xã, còn

chế biến hoa màu để làm thức ăn cho gia súc là chủ yếu.
Công nghiệp chế biến lâm sản cha phat triển. Cho đến nay ở Bắc Giang gỗ
chế biến bình quân đầu ngời đạt mức 0,05 m3 /năm ( so với cả nớc 0.3 m3 /
năm ). Máy móc thiết bị chế biến gỗ còn lạc hậu trong đó 70% là khâu xẻ . thiết bị
mộc tinh chế biến chiếm 40% nhập của Bắc Ninh. Thiết bị ghép uốn tre gỗ, phủ bề
mặt còn ít. Tỷ lệ tận dụng gỗ trong chế biến gỗ còn thấp, bình quân 5 m3 tròn
mới làm đợc 1 m3 gỗ thành phẩm.
21
Lực lợng tham gia chế biến lâm sản bao gồm các doanh nghiệp quốc doanh,
t nhân, gia đình. Huyện Yên Thế năm 2002 có gần 20 cơ sở chế biến lâm sản
trong đó 5 cơ sở quốc doanh còn lại là ngoài quốc doanh. Hàng năm ca xẻ khoảng
5000 m3 gỗ tròn.
Công nghiệp chế biến thuỷ sản cha phát triển Chủ yếu là các hộ t nhân mở cơ
sở chế biến với quy mô nhỏ chế biến nớc mắm, tôm cá khô, v. v..
Ngh vt liu xõy dng
Ngh ny ang phỏt trin mnh nhiu ni vỡ nhu cu xõy dng trong
nhõn dõn ngy cng tng. Ngoi mt s xớ nghip gch, ngúi quc doanh v hp
tỏc xó cỏc c s nung vụi, gch ngúi gia ỡnh phỏt trin khp ni.
Ngh khai thỏc ỏ cỏc vựng nỳi ỏ B H, Sn ng tng lờn nhiu,
mt s vựng ven sụng Thng v sụng Lc Nam, ngh khai thỏc cỏt si xõy
dng cng phat trin.
Xó B H ( Yờn Th ) cú khong 100 lũ gch, vụi cỏc loi, mt nm sn
xut ra 30.000 tn vụi v 10 triu viờn gch. Xó Tõn Hng (Lng Giang) cú 50
lũ gch t nhõn sn xut ra 30 triu viờn mt nm, cú mỏy ựn gch s dng 500
700 lao ng th cụng nho t, úng gch, nung gch. Thu nhp khong
500 triu n 1 t ng.
Ngh xõy dng (n, mc) khụng nhng ch khụi phc m phỏt trin cỏc
lng ngh truyn thng, m cũn m rng ra nhiu ni khỏc. cỏc xó Thiờn
Thanh, Xng Lõm (Tõn Yờn) ngh xõy dng gn õy phỏt trin rt mnh to ra
thu nhp hng nm hng trm triu ng. Lao ng thng c t chc tng

sử dụng riêng và đi làm thuê.có những hộ gia đình không làm ruộng nhưng mua
máy móc để chuyên đi làm thuê(làm đất,bơm nước, đập lúa).
Trong lĩnh vực cơ khí sửa chữa công cụ, máy móc trong nông nghiệp và
nông thôn trước đây tập trung vào các xưởng sửa chữa đại tu, tiểu tu va lực
lượng sửa chữa của các hợp tác xã nông nghiệp. Nay các xưởng sửa chữa nay
hầu như không có điều kiện và khả năng đáp ứng yêu cầu sửa chữa máy móc
23
theo yêu cầu của các chủ máy, các hộ gia đình nên đã xuất hiện lực lượng sửa
chữa tư nhân.
2.3 Tình hình dịch vụ kinh tế kỹ thuật ở nông thôn Bắc Giang
Ở nông thôn Bắc Giang sản xuất nông nghiệp đã bước đầu chuyển dịch theo
hướng sản xuất hàng hoá. Các nghành nghề tiểu thủ công nghiệp được hồi phục
và đi vào hoạt động, đã tạo ra tiền đề cho các hoạt động dịch vụ kinh tế kỹ thuật
ở nông thôn phát triển.
Đến nay ở nông thôn Bắc Giang đã và đang hình thành các loại tổ chức dịch
vụ kinh té kỹ thuật như: Dịch vụ về vốn cho sản xuất nông nghiệp và nghành
nghề; Dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật cho sanr xuất; Dịch vụ kỹ thuất sản xuất
nông nghiệp và chế biến nông sản; Dịch cụ thương nghiệp mua bán sản phẩm và
hàng tiêu dùng, .v.v..
Các tổ chức hoạt động dịch vụ nông thôn ở Bắc Giang hiên nay có sự tham
gia của nhiều thành phần kinh tế; ở thành thị và nông thôn với nhiều hình thức
khác nhau: công ty, cửa hàng, đại lý, chợ nông thôn, thương lái mua buôn, bán
buôn, bán lẻ.
a. Dịch vụ về vốn ở nông thôn
Hiện nay tham gia các dịch vụ này chủ yếu là các ngân hàng nôngnghiệp,
các quỹ tạo việc làm, quỹ xoá đói giảm nghèo,v.v.. của nhà nước. Trong mấy
năm gần đây, Ngân hàng nông nghiệp đã có nhiều biện pháp để rót vốn về đến
tận hộ nông dân ( là lực lượng sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay), và đã có
tác dụng tích cực đến sản xuất. Tuy nhiên về thủ tục thời hạn cho vay, và lãi
suất, còn có những mặt cần nghiên cứu thêm cho phù hợp với đặc điểm của

Trích đoạn tỡnh hỡnh dịch vụ thương nghiệp nụng thụn Sản xuất nụng lõm thuỷ sản Định hớng công nghiệp hoánông nghiệp, nông thôn giải pháp thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp nông thôn Bắc Giang
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status