MỤC LỤC
M C L C ............................................................................................1
L I NÓI U ......................................................................................4
CH NG I : M T S V N L LU N CHUNGÍ ....................6
I. L LU N CHUNG V U TÍ .........................................................6
1. Khái ni m v u t .......................................................................................6
2. c i m c a u t phát tri n ...................................................................7
3. Vai trò c a u t phát tri n .........................................................................8
II. KH I NI M V C S H T NG V VAI TRÒ C A VI CÁ À
U T PH T TRI N C S H T NGÁ ........................................13
1. Khái ni m v phân lo i c s h t ngà ........................................................13
2. Khái ni m c s h t ng giao thông v n t i ..............................................14
3. Vai trò c a c s h t ng trong vi c phát tri n kinh t ...........................14
III. V N U T .................................................................................16
1. Khái ni m .......................................................................................................16
2. Các ngu n v n có th u t cho c s h t ng giao thông v n t i .......17
IV. M T S V N V NGU N V N H TR PH T TRI NÁ
CH NH TH C ( ODA)Í ...........................................................................19
1. Khái ni m v phân lo i ngu n v n ODAà .....................................................19
2. c i m c a ODA ......................................................................................20
3. Hình th c ti p nh n ODA ............................................................................24
4. Các i tác cung c p ODA. ..........................................................................25
5. Vai trò c a ODA ............................................................................................28
1
CH NG II : TH C TR NG C S H T NG GIAO
THÔNG V N T I VI T NAM V TÌNH HÌNH S D NG ODAÀ
TRONG PH T TRI N C S H T NG GIAO THÔNG V NÁ
T I ......................................................................................................36
I.TÌNH HÌNH THU H T V S D NG V N T I VI T NAMÚ À
TRONG NH NG N M G N YÂ! " ......................................................36
1. M t s gi i pháp nh m t ng c ng thu hút v s d ng có hi u quà+ , - . ! " ,
ngu n v n ODA nói chung. ...............................................................................96
2. Các gi i pháp nh m t ng c ng thu hút v s d ng có hi u qu ngu nà, - . ! " ,
v n ODA trong ng nh GTVT.à ..........................................................................101
2.7. T ng c ng công tác theo dõi v ánh giá d án.à. / 0 .................................106
K T LU N* & ......................................................................................109
3
LỜI NÓI ĐẦU
Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền kinh
tế Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhũng thành tựu hết sức quan trọng.
Từ một nền kinh tế khép kín dưới chế đô tập trung quan liêu bao cấp, Việt Nam đã
chuyển sang một nền kinh tế mở, tăng cường quan hệ giao lưu kinh tế với tất cả các
nước, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Đây là một nền tảng hết sức quan trọng để
chúng ta đưa nền kinh tế ngày một phát triển trở thành một nước công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Tuy nhiên để phát triển, nền kinh tế Việt Nam phải vượt qua nhiều tồn
tại và bất cập, trong đó sự yếu kém của cơ sở hạ tầng (CSHT) đã và đang là rào cản
lớn cho sự phát triển kinh tế.
Theo nguyên tắc của sự phát triển: Muốn có một nền kinh tế phát triển, cơ sở
hạ tầng phải đi trước một bước và phát triển với một nhịp độ cao hơn nhịp độ phát
triển chung của nền kinh tế. Đứng trước thực tế này, yêu cầu cấp bách đặt ra cho
chúng ta là phải đầu tư cho CSHT, tạo điều kiện cho CSHT phát triển. Một trong
những lĩnh vực được ưu tiên hiện nay là đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.
Hiểu rõ tầm quan trọng của CSHT GTVT và vốn đầu tư cho lĩnh vực này,
Chính phủ Việt Nam đã đặc biệt ưu tiên cho mọi hình thức để phát triển nhanh lĩnh
vực này. Tuy nhiên với đặc điểm là những dự án đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian thu
hồi vốn chậm, lợi ích đem lại là lợi ích công cộng, khó bù đắp kinh phí đầu tư... thì
nguồn vốn trong nước sẽ không đủ để đầu tư. Trong điều kiện vốn ngân sách hạn hẹp
như vậy thì việc kết hợp nguồn vốn trong nước và ngoài nước là hết sức quan trọng và
cần thiết.
Tất cả những hành động bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động trên đây đều
nhằm mục đích chung là thu được lợi ích nào đó về tài chính, về cơ sở vật chất, nâng
cao trình độ, bổ sung kiến thức... trong tương lai lớn hơn những chi phí bỏ ra. Và vì
vậy nếu xét trên góc độ từng cá nhân hoặc đơn vị thì các hành động này đều được gọi
là đầu tư.
Tuy nhiên nếu xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế thì không phải tất cả các
hành động trên đây đêù đem lại lợi ích cho nền kinh tế và được coi là đầu tư của nền
kinh tế. Ví dụ như các hoạt động gửi tiền tiết kiệm, mua cổ phần, mua hàng tích trữ
không hề làm tăng tài sản cho nền kinh tế. Các hoạt động này thực chất chỉ là việc
chuyển giao quyền sử dụng tiền, quyền sở hữu cổ phần từ người này sang người khác,
do đó chỉ làm số tiền thu về của người đầu tư lớn hơn số tiền mà họ bỏ ra tuỳ thuộc
vào lãi suất tiết kiệm, lợi ích cổ phần hoặc giá hàng vào dịp tết... Tài sản của nền kinh
tế trong trường hợp này không có sự thay đổi một cách trực tiếp.
6
Như vậy đầu tư trên giác độ nền kinh tế là sự hi sinh giá trị hiện tại gắn với
việc tạo ra những tài sản mới cho nền kinh tế và ta coi đó là hoạt động đầu tư phát
triển.
Đầu tư phát triển là quá trình sử dụng vốn đầu tư để tái sản xuất giản đơn và tái
sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kĩ thuật thông qua các hoạt động xây dựng nhà
cửa, kiến trúc hạ tầng, mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị, các công tác xây dựng cơ
bản và thực hiện các chi phí phục vụ cho sự phất huy tác dụng trong một chu kì hoạt
động của các cơ sở vật chất kĩ thuật này.
2. Đặc điểm của đầu tư phát triển
Xuất phát từ khái niệm và bản chất của đầu tư phát triển, ta thấy hoạt động
này có những đặc điểmkhác biệt với các loại hình đầu tư khác.
Thứ nhất, do đây là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế nên
bao giờ cũng đòi hỏi một lượng vốn lớn, lao động lớn và lượng vốn này nằm khê
đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư, không sinh lời. Song song với chi phí về
vốn là chi phí về lao động. Lao động ở đây cũng đòi hỏi số lượng lớn, có kinh
Xuất phát từ việc xem xét bản chất của đầu tư phát triển, các lí thuyết kinh tế
(bao gồm lí thuyết kinh tế kế hoạch hoá tập trung và lí thuyết kinh tế thị trường) đều
coi đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự
8
tăng trưởng. Chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của đầu tư phát triển qua một
số mặt sau:
• Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế :
Thứ nhất, đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu của
toàn bộ nền kinh tế.
Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ tổng cầu
của nền kinh tế. Theo số liệu của ngân hàng thế giới: Đầu tư chiếm từ 24-28% trong
tổng cơ cấu cầu của tất cả các nước trên thế giới. Trên góc độ tổng cầu thì tác động
của đầu tư là ngắn hạn. Trong thời gian thực hiện đầu tư và trong khi cung chưa thay
đổi (các kết quả đầu tư chưa phát huy tác dụng), sự tăng của cầu làm cho sản lượng
cân bằng tăng theo và giá cả của các đầu vào tăng.
Về mặt cung: Tác động của đầu tư phát triển là dài hạn: khi các thành quả của
đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là
tổng cung dài hạn tăng lên kéo theo sản lượng tiềm năng tăng lên và do đó giá cả sản
phẩm giảm xuống.
Thứ hai, đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định nền kinh tế.
Bất cứ một vấn đề nào có liên quan đến lĩnh vực kinh tế bao giờ cũng có hai
mặt của nó, mặt tiêu cực và mặt tích cực:
+ Tăng đầu tư: góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống của người lao động,
giảm thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội. Nhưng tăng đầu tư quá mức sẽ gây ra lạm phát,
giá cả nguyên vật liệu tăng cao sẽ làm cho sản xuất bị đình đốn, trì trệ.
+ Giảm đầu tư: Giảm lạm phát, giá cả đi vào ổn định. Nhưng giảm đầu tư sẽ
giảm việc làm, thất nghiệp tăng lên, gây nhiều tệ nạn xã hội.
9
để đạt tốc độ 15-20% là không khó khăn, nhưng đối với nông, lâm, ngư nghiệp, do
điều kiện hạn chế về đất đai và khả năng sinh học, để đạt được mục tiêu tăng trưởng
5-6% là rất khó khăn.
Do đó, để dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tập trung cho các ngành có tốc độ tăng
trưởng cao thì phải có vốn đầu tư.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa cá vùng lãnh thổ, đưa các vùng kém phát triển thoát khỏi cảnh nghèo đói,
phát huy tối đa lợi thế so sánh về kinh tế, chính trị, tài nguyên của các vùng có khả
năng phát triển nhanh hơn làm bàn đạp thúc đẩy các vùng khác phát triển.
Thứ năm, đầu tư tác động đến việc tăng cường khả năng công nghệ và khoa
học của các nước.
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư lầ điều kiện tiên quyết
của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của đất nước ta hiện nay. Theo
đánh giá của các chuyên gia công nghệ thế giới, trình độ công nghệ của Việt Nam lạc
hậu nhiều thế kỉ so với cá nước trên thế giới và trong khu vực.
Theo UNIDO, nếu chia quá trình phát triển công nghệ thành 7 giai đoạn thì
năm 1990, trình độ công nghệ Việt Nam đứng ở giai đoạn 1 và 2. Việt Nam là một
trong 90 quốc gia kém phát triển nhất về công nghệ trên thế giới. Quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, chúng ta cần đề ra chiến
11
lược phát triển công nghệ nhanh và vững chắc. Để phát triển công nghệ có hai con
đường tự nghiên cứu và chuyển giao công nghệ:
+ Nếu tự nghiên cứu, chúng ta sẽ được độc quyền công nghệ của mình trên thế
giới. Tuy nhiên, để tự nghiên cứu chúng ta cần phải có thời gian, phương tiện, nhân
tài, đặc biệt là có vốn và độ mạo hiểm của con đường này là rất cao.
+ Nếu mua cộng nghệ sẵn có trên thị trường thế giới, chúng ta sẽ nhanh chóng
có được công nghệ mà mình mong muốn. Song theo con đường này, trình độ công
nghệ của chúng ta sẽ phải dưới tầm của người khác, phải chịu sự khống chế của bên
bán, công nghệ chưa phải hiện đại nhất do đó hàng hoá sản xuất ra bị cạnh tranh, kém
duy trì và phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện (các cơ sở giáo dục đào tạo,
các cơ sở khám chữa bệnh, văn hoá nghệ thuật, phòng chống dịch bệnh...) và đảm bảo
đời sống tinh thần của các thành viên trong xã hội (các cơ sở đảm bảo đời sống tinh
13
thần của các thành viên trong xã hội (các cơ sở đảm bảo an ninh xã hội, nhà tù, cơ sở
tang lễ...)
2. Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là một lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu rộng
và phức tạp do đó trong thời gian hạn hẹp không thể trình bày hết những vấn đề có
liên quan. Vì vậy theo định nghĩa trong bản luận văn: CSHT GTVT là một hệ thống
các công trình và phương tiện vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ nhu cầu sản xuất
và sinh hoạt của xã hội bao gồm các công trình và phương tiện của mạng lưới giao
thông vận tải đường bộ, đường biển, đường sông, giao thông nông thôn, giao thông đô
thị.
Hiện nay, CSHT GTVT là một trong những nhân tố giúp cho Việt Nam duy trì
và đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế với tốc độ cao, cân đối với các
vùng.
Giao thông vận tải là một ngành dịch vụ sản xuất, là sự tiếp tục của quá trình
sản xuất trong lĩnh vực lưu thông.
3. Vai trò của cơ sở hạ tầng trong việc phát triển kinh tế
Cơ sở hạ tầng chi phối tất cả các giai đoạn phát triển, làm cơ sở cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh. Vai trò của nó được thể hiện qua các mặt sau:
+ Quyết định sự tăng trưởng và phát triển nhanh của các ngành, các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh và dịch vụ.
Kết cấu hạ tầng cung cấp dịch vụ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các yếu tố
đầu vào và đầu ra, đảm bảo cho qui trình sản xuất của đất nước được tiến hành một
14
cách thường xuyên, liên tục với qui mô ngày càng mở rộng. Trên cơ sở đó làm tăng
làm tăng tích luỹ cho nền kinh tế.
Cơ sở hạ tầng phát triển cho phép chúng ta tạo ra nhiều cơ sở sản xuất vật chất
mới, tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế văn hoá giữa các khu vực, góp phần giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời phân bố nguồn lao động hợp lý.
Hơn nữa, sự xuất hiện của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới với công nghệ
kỹ thuật cao sẽ hoạt động hiệu quả hơn, mang lại nhiều lợi nhuận hơn, mang lại thu
nhập cao hơn cho người lao động.
III. VỐN ĐẦU TƯ
1. Khái niệm
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, là tiền huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh,
liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài... để:
- Tái sản xuất các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất,
kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ,
cũng như thực hiện các chi phí cần thiết, tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của
các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới.
16
- Tạo ra tài sản lưu động lần đầu gắn liền với sự tạo ra các tài sản cố định vừa
mới tạo ra ở trên.
2. Các nguồn vốn có thể đầu tư cho cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
Trên cơ sở phân loại nguồn vốn đầu tư, qui định của nghị định 42/CP, 92/CP
về quản lý đầu tư, các văn bản của chính phủ và chiến lược huy động vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào phát triển cơ sở hạ tầng ta có các nguồn vốn có thể đầu tư cho cơ
sở hạ tầng GTVT như sau:
2.1. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước:
Sử dụng để đầu tư phát triển theo kế hoạch của Nhà nước cho các dự án đầu tư
xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh mà không
có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm. Còn các công trình giao thông được
ưu tiên sử dụng vốn ngân sách là các dự án giao thông quan trọng ở các vùng kinh tế
Trong thời gian qua, nguồn vốn ODA đã tăng dần lên, tập trung chủ yếu cho
việc tăng cường thể chế, phát huy nguồn nhân lực, phục hồi và phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế- xã hội. Do đó, để nghiên cứu về nguồn vốn ODA ta đã phải hiểu rõ bản
chất của nó.
18
IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH
THỨC ( ODA)
1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn ODA
ODA (oficial Development assistance) là một dạng đầu tư gián tiếp dưới hình
thức viện trợ phát triển của các nước công nghiệp phát triển cho các nước đang phát
triển. Vốn ODA thường là những khoản đầu tư lớn nên có tác dụng mạnh và nhanh
đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư.
ODA bao gồm ODA không hoàn lại và ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn
lại đạt ít nhất 25% trị giá khoản vay. ODA là nguồn quan trọng của ngân sách Nhà
nước và được ưu tiên sử dụng cho những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
- ODA không hoàn lại được ưu tiên sử dụng cho các công trình và dự án thuộc
các lĩnh vực: y tế, dân số và kế hoạch hoá gia đình, giáo dục đào tạo, các vấn đề xã
hội (xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn và miền núi, cấp nước sinh hoạt...), bảo
vệ môi trường môi sinh, nghiên các chương trình dự án phát triển, hỗ trợ phát triển
ngân sách nhà nước và một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ.
- ODA cho vay ưu đãi được ưu tiên sử dụng cho các dự án và chương trình xây
dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thuộc lĩnh vực: năng lượng, GTVT,
thông tin liên lạc, thuỷ lợi , cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, xã hội (các công trình
phúc lợi công cộng, y tế, giáo dục và đào tạo, cấp thoát nước, bảo vệ môi trường...) và
một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Trong một số chương
trình dự án cụ thể có thể kết hợp sử dụng một phần ODA không thời hạn và một phần
ODA Cho vay ưu đãi.
vừa gây ảnh hưởng chính trị vừa đem lại lợi nhuận cho hàng hoá dịch vụ tư vấn
trong nước.
Bỉ, Đức, Đan mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá và dịch
vụ của nước mình, Canada yêu cầu cao nhất khoảng 65%. Thuỵ Sỹ yêu cầu 1,7%, Hà
Lan 2,2% - đây là hai nước có tỷ lệ yêu cầu thấp. Thấp hơn cả là Niudilân với 0%.
Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ
của các quốc gia viện trợ. Ngoài ra mỗi nước viện trợ đều có ràng buộc riêng nhiều
khi cũng rất chặt chẽ (Nhật yêu cầu vốn ODA của họ đều phải thực hiện bằng đồng
Yên Nhật).
Kể từ khi ra đời cho đến nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại
song song.
Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm đói nghèo ở
những nước đang phát triển. Động cơ nào thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêu này?
Bản thân các nước phát triển thấy được lợi ích của mình trong việc hỗ trợ và giúp đỡ
các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu
tư. Viện trợ thường gắn với điều kiện kinh tế. Mỹ cũng như nhiều nhà tài trợ khác quy
định phải dùng khoản viện trợ của họ để mua hàng hoá của mình hoặc trực tiếp lấy
hàng hoá dư thừa của Mỹ thay thế cho các khoản viện trợ. Mỹ còn đòi các nước nhận
viện trợ cung cấp vật tư trọng yếu, dành cho Mỹ những điều kiện ưu đãi đầu tư thuân
21
lợi. Xét về mặt lâu dài các nhà tài trợ sẽ có lợi về mọi mặt an ninh kinh tế, chính trị
khi các nước nghèo tăng trưởng.
Mối quan tâm mang tính cá nhân được kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính
cộng đồng. Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số, bảo vệ môi
trường, dịch bệnh, các cuộc xung đột sắc tộc và tôn giáo... đòi hỏi sự hợp tác nỗ lực
của cả cộng đồng quốc tế không phân biệt nước giàu nước nghèo.
Mục tiêu thứ hai là tăng cường lợi ích chính trị cho các nước tài trợ. Các nước
phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị, xác định vị trí và ảnh hưởng của
mình tại các nước các khu vưc tiếp nhận ODA. Mỹ là một trong những nước như vậy.
2.3. Bản chất của ODA phải ghi nhớ rằng đó là nguồn vốn có khả năng gây
nợ.
Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nần
thường không thấy ngay. Một số nước do sử dụng không có hiệu quả nên có thể tạo ra
sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần, do không
có khả năng trả nợ. Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư
trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu, trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất
khẩu thu ngoại tệ. Do đó trong khi hoạch định chính sách phải phối hợp với các loại
nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
Theo ngân hàng thế giới và quỹ tiền tệ quốc tế, xác định một quốc gia có khả
năng trả nợ nước ngoài là khi nước nàycó thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ
nước ngoài hiện tại và tương lai mà không cần dựa vào việc giảm hay bố trí lại lịch trả
hoặc chồng chất thêm nợ và không làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Tuy vậy
23
có rất ít các nước đang phát triển thoả mãn yêu cầu này, thông thường các nước này
đang phải đối mặt với gánh nặng trả nợ trong hàng chục năm tới thậm chí là không có
khả năng trả nợ. Có ý kiến cho rằng bình quân mỗi người châu Phi nợ phương Tây
379$ và trung bình cứ 10 đồng đô la thì có 9 đồng đô la quay trở lại dưới dạng trả nợ.
Tuy tương quan 1-9 này chưa phải là tính toán chính thức nhưng nó cũng khiến các
nước nhận viện trợ phải thận trọng mỗi khi nhận một khoản ODA.
3. Hình thức tiếp nhận ODA
3.1. Hỗ trợ cán cân thanh toán
Thường có nghĩa là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ). Nhưng đôi
khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá). Ngoại tệ, hàng hoá chuyển vào trong nước qua
hình thức cán cân thanh toán có thể chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách (chủ yếu cho
chính phủ).
3.2. Viện trợ chương trình (viện trợ phí dự án):
Là viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một
khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với một mục đích nhất định.
nhập thấp và không có điều kiện chính trị ràng buộc một cách lộ liễu.
♦ Liên minh châu âu (EU).
25