Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cửa sổ nhựa Châu Âu - Eurowindow - Pdf 12

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Lời nói đầu
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước
nhà từ một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh
tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ cao, dựa trên nền tảng của kinh tế tri
thức và xu hướng gắn với nền kinh tế toàn cầu. Chính sự dịch chuyển này
đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều nghành kinh tế phát triển.
Song cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đặt ra cho các doanh nghiệp
những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự vận
động vươn lên để vượt qua những thử thách, tránh nguy cơ bị đào thải bơi
quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường.
Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên
thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong đó đổi mới về quản lý
tài chính là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Bởi lẽ, để
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần
nhanh chóng nắm bắt những tín hiệu của thị trường, xác định đúng nhu cầu
về vốn, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời, sử
dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần
nắm được những nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của
từng nhân tố đến tình hình tài chính doanh nghiệp. Điều này chỉ thực hiện
được trên cơ sở phân tích tài chính doanh nghiệp. Vốn sản xuất kinh doanh
trong các doanh nghiệp là yếu tố quan trọng quyết định tới sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Bởi vậy bất cứ một doanh nghi ệp nào muốn
tồn tại và phát triển phải quan tâm đến vấn đề tạo lập vốn quản lý sao cho
có hiệu quả, nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp trên cơ sở
tôn trọng các nguyên tắc quản lý tài chính, tín dụng và chấp hành đúng
pháp luật của nhà nước.
Chính vì thế, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh như thế nào để đạt được

phần kinh tế .
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao
động. Qúa trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố này để
tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Trong nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để có được
các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh trên, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có một lượng tiền vốn nhất định. Chỉ khi nào có được
tiền vốn, doanh nghiệp mới có thể đầu tư mua sắm các tài sản cần thiết cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như để trả lương cho người lao động.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ có
nhiệm vụ sản xuất ra sản phẩm mà còn có nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm đó.
Khi sản phẩm, dịch vụ được tiêu thụ trên thị trường các doanh nghiệp sẽ
thu được một khoản tiền gọi là doanh thu tiêu thụ sản phẩm và một phần
trong số đó được dành ra để bù đắp lại tài sản cố định đã bị hao mòn, một
phần dùng để tái lập các vật tư dự trữ cho sản xuất trong thời kỳ tiếp theo,
một phần dùng để trả lương cho người lao động và một phần để đầu tư mua
sắm mới mở rộng qui mô sản xuất.
3
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Như vậy, ta có thể thấy rằng các tư liệu lao động và đối tượng lao
động mà doanh nghiệp phải đầu tư mua sắm cho hoạt động sản xuất kinh
doanh chính là hình thái hiện vật của vốn sản xuất kinh doanh và vốn bằng
tiền chính là tiến đề cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Qua những phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm :
Vốn SXKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá
trị tài sản được dùng để đầu tư vào hoạt động SXKD nhằm thu lợi
nhuận .

chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được dịch chuyển dần vào giá trị của sản phẩm .
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định
được gắn liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là tài sản cố định. Vì
thế quy mô của vốn cố định sẽ quyết định quy mô của tài sản cố định. Song
đặcđiểm của tài sản cố định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu
chuyển giá trị của vốn cố định – tạo nên đặc thù của vốn cố định :
- Là hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, vốn cố định
tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất.
- Gía trị của vốn được luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị
của sản phẩm .
Tài sản cố định khi tham gia vào quá trình sản xuất không bị thay đổi
hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất bị giảm dần, tức là
nó bị hao mòn và cùng với giá trị sử dụng giảm dần thì giá trị của nó cũng
giảm đi . Bởi vậy vốn cố định đựoc tách làm hai phần :
- Một phần ứng với giá trị hao mòn đựơc chuyển vào giá trị của sản
phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và sau khi sản phẩm được
tiêu thụ thì số tiền khấu hao được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao,
5
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
dùng để tái sản xuất tài sản cố định, duy trì năng lực sản xuất của
doanh nghiệp .
-Phần giá trị còn lại của vốn cố định vẫn được “tồn tại“ lại trong hình
thái của tài sản cố định.
*Vốn lưu động:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận vốn sản xuất kinh
doanh ứng ra để mua sắm và hình thành tài sản lưu động sản xuất và tài sản
lưu thông nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp một cách thường xuyên, liên tục .

sách cấp ( doanh nghiệp Nhà nước ), đóng góp ( doanh nghiệp cổ phần ),
doanh nghiệp tự bổ sung, vốn liên doanh liên kết, vay Ngân hàng, vay của
các tổ chức cá nhân khác...
Tuỳ theo tiêu thức phân loại nhất định mà nguồn vốn trong doanh
nghiệp được chia thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên trong bài viết này
chỉ đề cập đến một số cách phân loại chủ yếu sau :
* Theo nguồn hình thành :
Theo cách phân loại này nguồn vốn kinh doanh có thể chia thành hai
loại:
- Nguồn vốn chủ sở hữu : là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, chi phối và
định đoạt . Nó có thể được hình thành do ngân sách Nhà nước
cấp, do chủ doanh nghiệp bỏ ra hoặc do góp vốn cổ phần, vốn tự
bổ sung từ lợi nhuận để lại...
- Nợ phải trả: là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải thanh toán
tại một thời điểm nào đó cho các chủ sở hữu khác. Nợ phải trả
hình thành do doanh nghiệp đi vay các Ngân hàng hoặc các tổ
7
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
chức tài chính khác, vay cán bộ công nhân viên (thông qua phát
hành trái phiếu) các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán ( hàng
hoá , nguyên – nhiên vật liệu, mua chịu hay trả chậm ...
* Theo phạm vi huy động vốn:
- Huy động vốn từ bên trong:
+ Từ nguồn vốn chủ sở hữu :huy động từ số vốn thuộc quyền sở hữu
của doanh nghiệp
+Từ quỹ khấu hao : để bù đắp giá trị TSCĐ bị hao mòn trong quá
trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải dịch chuyển dần phần giá trị

thể huy động từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc
có thể vay dài hạn từ các Ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng...
- Nguồn vốn tạm thời : trong quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, từng thời kỳ có các nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến
kết quả kinh doanh. Chính vì hình thành nên nguồn vốn có tính chất tạm
thời như những khoản nợ ngắn hạn, phần vốn chiếm dụng của người bán ...
II . Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Kinh doanh là một hoạt động kiếm lời mà lợi nhuận là mục tiêu hàng
đầu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để đạt được mục đích
tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải không ngừng nâng cao
trình độ quản ký kinh doanh, trong đó quản lý và sử dụng vốn là một bộ
phận rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả SXKD của doanh
nghiệp. Trước tình hình đó, khi không còn được bao cấp về vốn nữa đòi hỏi
các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trước hết
là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đảm bảo tự trang trải chi phí và có
lãi.
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD là tìm biện pháp làm cho
doanh lợi vốn là cao nhất. Để thực hiện được điều đó, doanh nghiệp cần
tìm mọi biện pháp làm cho chi phí về vốn cho hoạt động SXKD là ít nhất
nhưng kết quả đạt được cao nhất, tăng khả năng tiêu thụ trên thị trường,
giảm lượng hàng tồn kho, sử dụng tối đa công suất máy móc, tăng nhanh
vòng quay của vốn lưu động. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn được hiểu
trên hai khía cạnh:
+Thứ nhất với số vốn hiện có thể sản xuất được một lượng sản phẩm
có giá trị lớn hơn trước, với chất lượng tốt hơn, giá thành thấp hơn để tăng


Tỷ suất thanh toán hiện hành =
Tổng tài sản lưu động
Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này phản ánh khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn (phải
thanh toán trong vòng 1 năm hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh). Tỷ
suất này ≥ 1thì tình hình tài chính của doanh nghiệp là bình thường.
2.3 Tỷ suất thanh toán nhanh, tỷ suất thanh toán tức thời (tỷ suất
thanh tóan bằng tiền)
Để thấy rõ hơn khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động
để thanh toán và khả năng dùng vốn bằng tiền để thanh toán ta sử dụng các
công thức
Tỷ suất thanh toán nhanh =
Tổng TSLĐ - Vật tư hàng hoá
Nợ ngắn hạn
Tỷ suất thanh toán tức thời =
Tổng số vốn bằng tiền
Nợ ngắn hạn
2.4 Đánh giá về tốc độ luân chuyển vốn
11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Để thấy được năng lực sản xuất của vốn, cần tiến hành phân tích tốc
độ chu chuyển của vốn qua công thức tính toán số lần luân chuyển của vốn
qua 1 năm và tính số ngày của một vòng chu chuyển vốn. Thông thường
người ta phân tích tốc độ chu chuyển của vốn lưu động theo công thức
Số vòng luân chuyển VLĐ
trong kỳ
=

một vòng chu
chuyển VLĐ
kỳ trước
12
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
Công thức tính ra phải có kết quả số âm (- ) mới là mức tiết kiệm
2.6 Tính mức luân chuyển hàng tồn kho
Cũng tương tự như tốc độ luân chuyển vốn lưu động ta cần phân tích
số ngày và số vòng quay kho để đánh giá tình hình sử dụng hàng tồn kho
trong kỳ
Số vòng quay hàng tồn kho
trong kỳ
=
Giá vốn hàng bán trong kỳ
Tồn kho bình quân trong kỳ
Số ngày của một vòng quay = Số ngày trong kỳ : số vòng quay kho
2.7 Phân tích về hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Doanh thu (Hoặc DTT) trong
kỳ
Nguyên giá TSCĐ bình quân
Công thức trên cho thấy 1đ giá trị TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu
Tuỳ theo tình hình, ta có thể phân tích hiệu suất sử dụng vốn cố định
là phân tích 1đ giá trị còn lại của TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
2.8 Phân tích hệ số doanh lợi
Đây là chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá kết quả kinh doanh của Doanh
nghiệp để tính xem một đồng vốn tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận. Khi

vốn nhanh nhằm tái tạo mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh. Ngược lại
nếu chu kỳ kéo dài sẽ là một gánh nặng gây ứ đọng vốn, tăng các khoản lãi
vay phải trả, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn .
v Kỹ thuật và trình độ lao động :
Các đặc điểm riêng về mặt kỹ thuật tác động trực tiếp đến một số chỉ tiêu
quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định. Nếu kỹ thuật giản đơn
đòi hỏi tay nghề không cao, doanh nghiệp dễ có điều kiện sử dụng máy
móc thiết bị nhưng năng suất không cao, sản phẩm có chất lượng thấp
không có khả năng cạnh tranh. Ngược lại nếu kỹ thuật sản xuất phức tạp,
trình độ trang thiết bị máy móc hiện đại, doanh nghiệp có lợi thế hơn trong
14
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
cạnh tranh và đòi hỏi tay nghề công nhân kỹ thuật cũng phải cao. Do đó,
đổi mới trang thiết bị là yêu cầu rất bức thiết đối với các Doanh nghiệp.
đ Đặc điểm về sản phẩm :
Sản phẩm sản xuất là nơi chứa đựng chi phí và doanh thu của doanh
nghiệp. Nếu sản phẩm là những tư liệu tiêu dùng, nhất là các sản phẩm
công nghiệp nhẹ như : rượu, bia, thuốc lá...sẽ có vòng đời sử dụng ngắn,
tiêu thụ nhanh, qua đó thu hồi vốn nhanh, hơn nữa máy móc để sản xuất ra
các sản phẩm này có giá trị không lớn do đó doanh nghiệp có điều kiện đổi
mới. Ngược lại nếu sản phẩm có vòng đời dài , có giá trị lớn , sản xuất trên
công nghệ hiện đại như: ô tô, xe máy sẽ có khó khăn trong việc đổi mới
máy móc thiết bị một cách liên tục do thời gian thu hồi vốn dài , do đó hiệu
quả sử dụng vốn trước mắt là thấp.
q Tác động của thị trường :
Do tác động của nền kinh tế, giá cả thị trường thường xuyên biến đổi, sức
mua của đồng tiền giảm sút dẫn đến sự tăng giá các loại vật tư hàng hoá.
Tuỳ theo từng loại thị trường mà doanh nghiệp tham gia sẽ có tác động đến

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, yêu cầu cấp thiết nhất đối với
doanh nghiệp là phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, khi đã huy động
được vốn rồi vấn đề đặt ra không kém phần quan trọng là phải làm thế nào
để sử dụng đồng vốn có hiệu quả. Để làm được điều này các doanh nghiệp
cần thực hiện một số biện pháp sau:
Xác định một cách chính xác nhu cầu vốn cần thiết tối thiểu:
Từ việc xác định nhu cầu vốn đưa ra những kế hoạch về tổ chức huy
động vốn đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế đến mức thấp
nhất tình trạng thiếu vốn làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh
hoặc phải đi vay ngoài kế hoạch với lãi suất cao. Đồng thời, nếu thừa vốn
phải có biện pháp linh hoạt như : mở rộng qui mô sản xuất, cho các đơn vị
16
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
khác vay...xem xét lại cơ cấu vốn để điều chỉnh cho hợp lý tránh tình trạng
khâu này thừa vốn khâu kia thiếu vốn.
Lựa chọn các hình thức thu hút vốn :
Tích cực tổ chức khai thác triệt để các nguồn vốn bên trong doanh
nghiệp vừa đáp ứng kịp thời vốn cho nhu cầu sản xuất một cách chủ động
vừa giảm được chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp, tránh tình trạng vốn
tồn taị dưới dạng tài sản không cần sử dụng, vật tư hàng hoá kém phẩm
chất chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn sản xuất kinh doanh .
Tổ chức tốt quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản
phẩm:
Doanh nghiệp cần phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất
không ngừng nâng cao năng suất lao động nhằm sản xuất ra nhiều sản
phẩm có chất lượng cao, giảm định mức tiêu hao nguyên vật liệu, từ đó hạ
thấp giá thành sản phẩm, tăng cường công tác tiếp thị quảng cáo.
Xác định nguồn tài trợ vốn đàu tư có hiệu quả:

đảm bảo tính linh hoạt, sáng tạo, chủ động trong hoạt động sản suất kinh
doanh của doanh nghiệp.
18
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận

: 6.280.688
CHƯƠNG II
Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn trong công ty
Eurowindow
I. Tình hình phát triển và kết quả sản xuất kinh doanh
của công ty
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Ngày 29/8 năm 2002, Công ty Cửa sổ nhựa Châu Âu viết tắt là
Eurowindow chính thức được thành lập. Công ty chuyên sản xuất các loại
cửa sổ, cửa đi, vách ngăn. Ngày 29/8/2007 vừa qua, công ty kỷ niệm 5 năm
thành lập, từ chỗ chưa có mặt tại thì trường Việt Nam, đến nay sản phẩm
của Eurowindow đã chiếm trên 50% thị phần cửa nhựa uPVC tại thị
trường trong nước. Hiện nay, Việt Nam có hơn 5.000 công trình khách sạn,
tòa nhà văn phòng, chung cư, biệt thự, căn hộ cao cấp sử dụng sản phẩm
Eurowindow. Doanh số của công ty hàng năm tăng từ 60-70%. Năm 2007,
công ty phấn đấu tăng trưởng 100% đạt doanh số trên 300 tỷ đồng. Ngày
28/5/2007, công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu chính thức chuyển thành
Công ty Cổ phẩn cửa sổ nhựa Châu Âu. Hiện Công ty đang đàm phám với
các đối tác chiến lược trong và ngoài nước để góp vốn, nhằm tăng năng lực
quản trị và khả năng tài chính của công ty, tiến tới niêm yết cổ phiếu trên
sàn giao dịch chứng khoán vào năm 2008.
Tên giao dịch : Eurowindow Company
Địa chỉ : Lô 15,Khu Công nghiệp Quang Minh, Huyện Mê Linh –
Tỉnh Vĩnh Phúc.
Công ty cửa sổ nhựa Châu Âu trực thuộc tập đoàn T&M Trans Việt

20

Trích đoạn Phân tích hệ số các khoản phải thu so với các khoản phải trả Đánh giá tổng quát qua tổng hợp số liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status