Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
LỜI CAM ĐOAN
Tên em là: Đinh Thị Nguyên Bình
Sinh viên lớp: Kinh tế và Quản lý công 48
Khoa: Khoa học quản lý
Trường: Đại học Kinh tế Quốc dân
Trong thời gian thực tập tại Công ty, em đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực
cạnh tranh của Công ty Cổ phần Thủy sản Diễn Châu”
Em xin cam đoan chuyên đề không phải là sao chép từ bất kỳ công trình nghiên
cứu nào; là kết quả nghiên cứu độc lập sau thời gian thực tập từ ngày 11/1 đến ngày 10/5
tại Công ty. Chuyên đề là sự cố gắng tìm tòi học hỏi của bản thân cùng với sự hướng dẫn
nhiệt tình của các cô chú trong công ty và sự chỉ bảo của giáo viên trực tiếp hướng dẫn,
cô Nguyễn Thị Lệ Thúy. Chuyên đề có tham khảo tài liệu nhưng hoàn toàn có chọn lọc.
Những tài liệu tham khảo đều ghi rõ nguồn trích dẫn cụ thể. Nếu có sai sót hoặc không
đúng sự thật, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà nội, ngày 10 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Nội dung Trang
Sơ đồ 1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức của CTCP Thủy sản Diễn Châu 21
Hình1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 12
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của Cty các năm 2007-2008-2009 24
Bảng 2.2: Sản lượng và doanh thu các mặt hàng của Cty năm 2008-2009 26
Bảng 2.3: Kết quả tiêu thụ theo khu vực thị trường của Công ty 27
Bảng 2.4: Thị phần của Công ty trên địa bàn tỉnh 28
Bảng 2.5: Các loại sản phẩm của Công ty đang kinh doanh 30
Bảng 2.6: Mức hỗ trợ vận chuyển theo cung đường 32
Bảng 2.7: Tình hình vốn của Công ty qua các năm 2007 – 2008 – 2009 39
Bảng 2.8: Tình hình lao động của Công ty qua các năm 2007 – 2008 – 2009 41
cạnh tranh trên thị trường.
Công ty Cổ phần Thuỷ sản Diễn Châu là doanh nghiệp sản xuất, hạch toán độc
lập theo hình thức cổ phần, vốn Nhà nước chiếm 51% vốn điều lệ. Nhiệm vụ chính của
công ty là thu mua nguyên liệu của ngư dân để sản xuất và chế biến ra các mặt hàng thủy
sản với khối lượng lớn như nước mắm loại một, loại hai, các loại mắm ruốc, mắm tôm,
cá khô, mực khô, sứa và các sản phẩm hải sản khác với chất lượng tốt phục vụ nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Công ty có lịch sử phát triển lâu đời nhưng
mới được cổ phần hóa từ năm 2000 nên quy mô chưa được lớn. Để đứng vững trên thị
trường trong nước và trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì việc
nâng cao năng lực cạnh tranh là một yêu cầu cấp thiết. Xuất phát từ nhận thức như vậy
em đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Thủy sản
Diễn Châu”. Đề tài đi sâu vào phân tích tình hình thực tế tại Công ty, đưa ra những
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
đánh giá về năng lực cạnh tranh của Công ty, chỉ ra những yếu kém, hạn chế ảnh hưởng
đến năng lực cạnh tranh của Công ty. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy lợi
thế cạnh tranh, khắc phục điểm yếu để khẳng định vị thế của Công ty trên thị trường.
Kết cấu của chuyên đề gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Thủy sản Diễn
Châu
Chương 3: Một số giải pháp góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh cho Công
ty Cổ phần Thủy sản Diễn Châu
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
STT Tên viết tắt Chú thích
1 BKS Ban kiểm soát
hàng về phía mình, để đạt được lợi ích tối đa”.
(2)
Theo từ điển phân tích kinh tế, “cạnh tranh là sự ganh đua giữa nhiều người…
theo đuổi một mục đích như nhau”, hay còn là “quan hệ giữa nhiều nhà sản xuất, nhà
buôn tranh giành khách hàng”. Do đó, ý niệm cạnh tranh thường được gắn liền với ý
niệm “ganh đua” thậm chí tranh giành giữa các cá thể hay thực thể.
(3)
Từ những định nghĩa và các cách hiểu khác nhau đã trình bày ở trên ta có thể rút
ra định nghĩa chung về cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh nói chung là sự phấn đấu không
ngừng để giành lấy được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, đưa ra những sản phẩm
mới nâng cao năng suất và hiệu quả nhằm giành lấy phần hơn trong cạnh tranh”.
_________________________
(1)
Nguồn: Từ điển mã nguồn mở Wikipedia: />(2)
Nguồn: Các ngành dịch vụ Việt Nam – NLCT và hội nhập KTQT, NXB Thống Kê.
(3)
Nguồn: Từ điển phân tích kinh tế, NXB Tri Thức, 2002, trang 58.
1.1.2. Vai trò
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là quy luật tất yếu khách quan của nền
sản xuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường. Nhờ sự cạnh
tranh không ngừng mà nền kinh tế vận động theo hướng năng suất lao động xã hội được
nâng cao, đảm bảo sự phát triển thành công của mỗi quốc gia. Trong nền kinh tế, nếu
cạnh tranh không tồn tại thì động lực phát triển kinh tế không còn, xảy ra hiện tượng thất
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
thoát lãng phí trong sản xuất, độc quyền trong người bán và người cung ứng đầu vào
buộc người tiêu dùng phải chấp nhận giá dẫn đến tình trạng giá thành sản phẩm cao.
Người sản xuất không còn muốn tìm cách tiết kiệm chi phí, giảm giá thành hay nâng cao
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên
tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội
như giữ được chữ tín trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng cũng có
ảnh hưởng quan trọng…”
(4)
“Năng lực cạnh tranh là khả năng nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu
quả chấp nhận được. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng hãng đã bán
được hàng nhanh, nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụ thể về một
loại hàng cụ thể”.
(5)
Từ các khái niệm năng lực cạnh tranh trên ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản
phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất
nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững; là các đặc điểm hay các yếu tố của sản phẩm
hoặc nhãn hiệu mà doanh nghiệp tạo ra có tính ưu việt hơn so với các nhà cạnh tranh
trực tiếp.
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu khách quan. Các doanh nghiệp
khi tham gia vào thị trường thì phải chấp nhận cạnh tranh, tuân theo các quy luật của nó.
Các điều kiện cạnh tranh ngày càng khó khăn đòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng
phấn đấu giảm chi phí để hạ giá thành, giá bán sản phẩm, thực hiện giá trị sử dụng sản
phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ để tồn tại và phát triển.
_________________________
(4)
Nguồn: Từ điển Bách Khoa Việt Nam 3, trang 41
(5)
Nguồn: Các ngành dịch vụ Việt Nam – NLCT và hội nhập KTQT, NXB Thống Kê
Trong điều kiện kinh tế bao cấp trước đây, cạnh tranh trên thị trường không xảy
ra, các doanh nghiệp không phải lo lắng đầu vào cũng như đầu ra, do đó rất thụ động, chỉ
(6)
Doanh nghiệp mà có thị phần lớn hơn các doanh nghiệp khác tức là có năng lực
cạnh tranh lớn hơn. Tuy nhiên trong trường hợp thị phần doanh nghiệp quá bé hay các
doanh nghiệp xuất khẩu khó tính được thị phần trên thị trường nước ngoài thì chỉ tiêu
này không còn phù hợp nữa. Do vậy còn có thêm một chỉ tiêu đi kèm đó là tốc độ tăng
trưởng doanh thu so với các đối thủ.
Tốc độ tăng
doanh thu
=
Doanh thu tiêu thụ của DN trong kỳ hiện tại
Doanh thu tiêu thụ của DN kỳ trước
x 100%
(7)
Chỉ tiêu này có thể so sánh được mức độ biến đổi yếu tố đầu ra giữa các doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này có ý nghĩa và thuận lợi hơn trong trường hợp thị trường quá rộng
lớn, không phải tính đến tổng mức tiêu thụ của toàn bộ thị trường.
1.2.3.2. Chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
a/ Tỷ số hoàn vốn (ROA) : tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản
ROA =
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
Tổng tài sản
(8)
Nó đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty
b/ Tỷ số hoàn vốn từ vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE =
Lãi ròng sau thuế
Hiện nay khi mức sống của người dân tăng lên, họ sẵn sàng chi trả một khoản
tiền lớn để mua những hàng hóa có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Do vậy
cuộc sống càng hiện đại thì chất lượng sản phẩm trở thành vấn đề sống còn của doanh
nghiệp. Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp bao gồm các chỉ tiêu kinh tế (chi
phí sản xuất, chi phí môi trường, chi phí đảm bảo chất lượng); chỉ tiêu kỹ thuật (an toàn-
vệ sinh, thẩm mỹ, tiện dụng…)
Để doanh nghiệp chiếm giữ và tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm cần thường xuyên
cải tiến mẫu mã, tạo nét độc đáo cho sản phẩm.
b/ Sự đa dạng hóa của sản phẩm và dịch vụ
Nhu cầu tiêu dùng của khách hàng ngày càng đa dạng và phong phú. Doanh
nghiệp cần nắm bắt để đáp ứng nhu cầu của khách hàng bằng cách đa dạng hóa loại hình
sản phẩm. Tuy nhiên cần chú ý đến yếu tố nguồn lực của mình, tránh dàn trải, sử dụng
kém hiệu quả
c/ Thời gian đáp ứng nhu cầu khách hàng
Thời gian cung cấp nhanh là yếu tố thu hút khách hàng khi đã có chất lượng tốt
và giá cả hợp lý. Thu hút được các đơn đặt hàng, nhờ đó doanh thu của doanh nghiệp
tăng lên. Để cung cấp hàng nhanh cần phải kiểm soát, phòng ngừa và bảo dưỡng tốt, sử
dụng công nghệ hiện đại, có các bước lập kế hoạch sản xuất cụ thể, hợp lý. Việc tổ chức
tốt mạng lưới phân phối cũng rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.4.1. Nhóm các yếu tố bên ngoài
a/ Môi trường vĩ mô
Các nhân tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến các công ty, có tính quyết định đến
hoạt động kinh doanh của một tổ chức. Các nhân tố kinh tế bao gồm: trạng thái phát
triển của nền kinh tế; tỷ giá hối đoái; tỷ lệ lạm phát-mức độ thất nghiệp; tỷ lệ lãi suất-
chất lượng hoạt động của ngành ngân hàng.
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
thuế, Luật lao động; những lĩnh vực trong đó các chính sách quản lý Nhà nước có thể tác
động đến hoạt động và khả năng sinh lời của ngành hay doanh nghiệp.
Các nhân tố Kỹ thuật – Công nghệ
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của mọi
lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ đều tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Do sự phát triển của công nghệ có xu hướng làm ngắn lại chu kỳ sống của
sản phẩm, đòi hỏi các công ty phải lường trước được những thay đổi do công nghệ mới
mang lại. Kỹ thuật – công nghệ mới thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
phát triển theo hướng tăng nhanh tốc độ, đảm bảo sự ổn định bền vững trong hoạt động
sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường sinh thái.
Sự phát triển công nghệ hiện nay gắn liền với công nghệ thông tin. Việc ứng dụng
có chất lượng và hiệu quả của công nghệ thông tin hiện đại vào lĩnh vực thu thập, xử lý,
lưu trữ và truyền đạt thông tin kinh tế - xã hội sẽ nâng cao nhanh chóng khả năng tiếp
cận và cập nhật thông tin thị trường quốc tế. Đây là một trong các điều kiện không thể
thiếu giúp các nhà quản trị ra quyết định đúng đắn trong kinh doanh.
Các nhân tố Văn hóa – Xã hội, dân số: Các yếu tố văn hóa – xã hội có ảnh hưởng
một cách chậm chạp, song cũng rất sâu sắc đến các hoạt động quản trị và kinh
doanh của doanh nghiệp. Do vậy, mọi doanh nghiệp đều phải phân tích các yếu tố
xã hội để nhận biết các cơ hội, nguy cơ có thể xảy ra. Các vấn đề như phong tục
tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tôn giáo, tín ngưỡng, sở thích… có ảnh hưởng
sâu sắc đến cơ cấu của cầu thị trường. Bên cạnh đó, văn hóa – xã hôi còn ảnh
hưởng đến việc hình thành môi trường văn hóa doanh nghiệp, yếu tố quan trọng
giúp tạo lợi thế cạnh tranh.
Phát triển kinh tế thế giới và hội nhập quốc tế của đất nước
Xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới có tác động hai mặt đến hoạt
động sản xuất của mọi doanh nghiệp. Một mặt giúp các doanh nghiệp mở rộng thị
trường, xóa bỏ được các rào cản kinh tế, tiếp thu nhanh chóng tiến bộ khoa học công
nghệ, mặt khác nó cũng tạo ra không ít nguy cơ từ áp lực cạnh tranh mạnh mẽ giữa các
đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành hay các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập vào thị
Quyền lực
thương lượng
của nhà
cung ứng
SẢN PHẨM
THAY THẾ
Nguy cơ đe dọa từ các
sản phẩm - dịch vụ thay thế
NHÀ
CUNG
ỨNG
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
lại. Việc phân tích cụ thể các yếu tố sẽ này giúp cho các nhà chiến lược phán đoán được
các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành (hoặc trong một thị trường cụ thể) để xác
định các cơ hội và sự đe dọa đối với doanh nghiệp của họ.
Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ tiềm ẩn
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên trong
ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít,
áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ suất
sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành.
+ Những rào cản gia nhập ngành : là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào
một ngành khó khăn và tốn kém hơn .
Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp
Số lượng và quy mô nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực
đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp. Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà
cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của ngành.
Do vậy, với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây các áp lực nhất định nếu họ
yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó khăn
Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu
cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành. Áp lực cạnh tranh chủ yếu của
sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu so với các sản phẩm trong ngành, thêm
vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng , các yếu tố khác của môi trường như văn hóa,
chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe dọa của sản phẩm thay thế. Tính bất
ngờ, khó dự đoán của sản phẩm thay thế: ngay cả trong nội bộ ngành với sự phát triển
của công nghệ cũng có thể tạo ra sản phẩm thay thế cho ngành mình.
1.2.4.2. Nhóm các yếu tố bên trong
Năng lực tài chính
Đây là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực mạnh yếu của doanh nghiêp như
thế nào. Mọi hoạt động như đầu tư, mua sắm, dự trữ, lưu kho, cũng như khả năng thanh
toán tại mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của nó. Năng lực tài chính
được đánh giá dựa trên các yếu tố định tính và định lượng. Các yếu tố định tính thể hiện
khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính. Các yếu tố định lượng bao
gồm: quy mô vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời… Vốn là
một yếu tố sản xuất cơ bản và là yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn có
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
hiệu quả, quay vòng vốn nhanh có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm chi phí vốn, giảm giá
thành phẩm. Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu vật tư, nguyên liệu, thuê
nhân công, mua sắm thiết bị, công nghệ… Như vậy để phản ánh sức mạnh kinh tế của
doanh nghiệp thì năng lực tài chính là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn thành
công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
Năng lực nguồn nhân lực
Đây là yếu tố cơ bản, là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp và có ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh dẫn đến ảnh hưởng tới năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Toàn bộ lực lượng lao động của doanh nghiệp bao gồm cả lao
hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng lực công nghệ còn được
hiểu là khả năng tìm kiếm, mua bán thiết bị công nghệ, khả năng vận hành, đổi mới và
sáng tạo công nghệ. Các tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ đó là: tính hiện đại biểu
hiện qua các thông số như năm sản xuất, hãng sản xuất, công suất; tính đồng bộ đảm bảo
sự phù hợp giữa các thiết bị, công nghệ với phương pháp sản xuất; tính hiệu quả thể hiện
ở tác dụng của việc sử dụng máy móc thiết bị đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp; và tính đổi mới thể hiện ở sự đáp ứng nhu cầu của hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Năng lực hoạt động marketing
Năng lực marketing của doanh nghiệp được hiểu là khả năng nắm bắt nhu cầu thị
trường, khả năng thực hiện chiến lược 4P trong hoạt động marketing (sản phẩm, giá cả,
phân phối, xúc tiến bán hàng), trình độ nguồn nhân lực marketing. Khả năng marketing
tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm
tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp. Đây
được xem là nhóm nhân tố quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN THỦY SẢN DIỄN CHÂU
2.1. Một số đặc điểm về tổ chức và kinh doanh của Công ty Cổ phần Thủy sản
Diễn Châu
2.1.1. Tổng quan về công ty
2.1.1.1. Giới thiệu doanh nghiệp
Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Thuỷ sản Diễn Châu
Tên doanh nghiệp tiếng Anh: Dienchau seafood jointstock Company
Địa chỉ: Xã Diễn Ngọc-Huyện Diễn Châu-Tỉnh Nghệ An
Giấy phép đăng ký kinh doanh: 2703000003
Điện thoại: 0383628393
Châu, tỉnh Nghệ An, nằm cách đường quốc lộ 1A về phía Đông khoảng 1km, nằm sát
cửa Lạch Vạn. Do vị trí nắm sát cửa Lạch vạn thông ra biển Đông, dễ thu mua nguyên
vật liệu. Diễn Ngọc là một xã vùng biển có nghề truyền thống đánh bắt hải sản, tại đây
có bến cho các tàu thuyền đánh cá neo đậu, vì vậy công ty có khá nhiều thuận lợi về việc
thu mua nguyên liệu là thuỷ hải sản phục vụ sản xuất cũng như tuyển dụng lao động có
tay nghề theo yêu cầu mùa vụ.
2.1.1.3. Chức năng nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh.
Chức năng, nhiệm vụ
Tạo mô hình sản xuất hợp lý trên cơ sở sản xuất đa dạng sản phẩm. Chủ động mở
rộng sản xuất kinh doanh để nâng cao sức mạnh tổng hợp tạo khả năng cạnh tranh lớn
trên thị trường.
Công ty Cổ phần Thuỷ sản Diễn Châu là doanh nghiệp sản xuất, hạch toán độc
lập theo hình thức cổ phần, vốn Nhà nước chiếm 51% vốn điều lệ. Công ty có đủ tư cách
pháp nhân theo quy định pháp luật Việt nam , tự chủ sản xuất kinh doanh theo quy định
của Nhà nước, hoạt động và quản lý công theo điều lệ công ty cổ phần và luật doanh
nghiệp do Nhà nước ban hành. Mục đích của công ty là huy động nguồn vốn, nguồn
nguyên liệu tại chỗ, quản lý lao động, quản lý tài chính của các cổ đông, đổi mới công
nghệ, tăng sức cạnh tranh trong thị trường
Nhiệm vụ chính của công ty là thu mua nguyên liệu của ngư dân để sản xuất và
chế biến ra các mặt hàng thủy sản với khối lượng lớn như nước mắm loại một, loại hai,
các loại mắm ruốc, mắm tôm, cá khô, mực khô, sứa và các sản phẩm hải sản khác với
chất lượng tốt phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh và trong nước. Sản
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
phẩm của Công ty từ lâu đã có uy tín trên thị trường, được chấp nhận và ngày càng mở
rộng.
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận: Việc tổ chức bộ máy quản lý của công ty
theo chế độ tập thể lãnh đạo của hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị quản lý toàn bộ
vốn tài sản của các cổ đông đóng góp và vốn vay phục vụ cho kế hoạch sản xuất kinh
Do tính chất của sản phẩm là những mặt hàng thiết yếu khó bảo quản, do vậy, sản
xuất đến đâu phải tiêu thụ ngay đến đấy. Phải nắm chắc các thông tin kịp thời, xác đáng
điều chỉnh sản xuất phù hợp thực tế và nhu cầu thị trường.
Công ty Cổ phần Thủy sản Diễn Châu là đơn vị kinh tế độc lập có quy mô toàn
huyện. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty luôn quan tâm đến mục
tiêu tạo ra sản phẩm vừa đảm bảo chất lượng và giá cả phù hợp với nhu cầu thị hiếu
người tiêu dùng, đồng thời kinh doanh có lãi. Do đặc thù kinh doanh của công ty là tự do
sản xuất kinh doanh các mặt hàng thủy sản nên sản phẩm của công ty là nước mắm đã
trở thành mặt hàng truyền thống được khách hàng trong và ngoài tỉnh ưa chuộng. Công
ty ngày càng lớn mạnh và phát triển , đời sống người dân lao động ổn định đem lại lòng
tin, tạo động lực làm việc, mang lại hiệu quả cao trong lao động. Cùng với sự đi lên của
nền kinh tế, công ty cũng đã khẳng định mình qua kết quả đạt được. Lợi nhuận thu được
của công ty năm sau cao hơn năm trước. Hiện tại công ty đang xem xét kinh doanh thêm
các mặt hàng hải sản: tôm, cua, sứa… và mở rộng thị trường kinh doanh.
2.1.1.4. Mô tả dòng sản phẩm
Sản phẩm được chế biến từ các loại cá cơm, cá nục tươi và muối sạch theo
phương pháp cổ truyền, để chín tự nhiên, không qua nấu và không dùng hóa chất bảo
quản. Thời gian chế biến từ một năm trở lên, theo phương pháp “để chuối chín cây”. Sản
phẩm nước mắm nhỉ Vạn phần cao đạm được chế biến, đóng gói bằng các loại chai thủy
tinh đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, mẫu mã đẹp, đảm bảo sức khỏe người tiêu
dùng. Đảm bảo tiêu chuẩn Việt nam 5107/2003 của Nhà nước ban hành. Gồm các loại 2
có độ đạm tối thiểu 10 độ, loại 1 có độ đạm tối thiểu 15 độ, loại thượng hạng có độ đạm
tối thiểu 25 độ và loại đặc biệt có độ đạm hữu cơ trên 30 độ. Đơn vị đang thực hiện áp
dụng hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 22000:2005, thực
hiện sản xuất sạch hơn. Sản phẩm nước mắm Vạn phần đã được Liên hiệp các hội Khoa
học Kỹ thuật Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam tặng Giải cầu
vàng Hàng Việt nam chất lượng cao phù hợp tiêu chuẩn năm 2007. Hội nghề cá Việt
nam đã tặng Cúp vàng chất lượng thủy sản Việt nam lần thứ nhất năm 2009
2.1.1.5. Cơ cấu tổ chức
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
dịch vụ
Phòng kế hoạch
kỹ thuật
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thị Lệ Thúy
Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Hội đồng quản trị bầu ra giám đốc, phó giám đốc
điều hành và các thành viên. Hội đồng quản trị ban hành nội quy, quy chế, quy định
chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân, bộ phận trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ
hoạt động sản xuất và kinh doanh theo Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Vì vậy,
doanh nghiệp muốn kinh doanh hiệu quả, có khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị
trường cần phải xây dựng cho mình một cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với hoạt động
kinh doanh của mình. Mối quan hệ công tác giữa các bộ phận: tất cả các phòng ban đều
hoạt động dưới sự lãnh đạo của hội đồng quản trị và ban giám đốc. Mỗi phòng ban đều
có nhiệm vụ riêng của mình đồng thời có trách nhiệm hỗ trợ nhau để hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
Chủ tịch hội đồng quản trị(HĐQT) kiêm giám đốc (GĐ)
HĐQT là tổ chức lãnh đạo cao nhất của công ty, đứng đầu là chủ tịch HĐQT.
Chủ tịch HĐQT điều hành mọi hoạt động của công ty thông qua ban giám đốc, hoạch
đinh chiến lược kinh doanh. Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động theo điều lệ công ty và
chấp hành pháp luật Nhà nước. Chủ tịch HĐQT kiêm GĐ là người quản lý cao nhất điều
hành các phòng, ban, tham mưu thông qua các trưởng phòng và các vấn đề liên quan. Là
người đại diện duy nhất có tư cách pháp nhân ký kết các hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao
động. Là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước về số tài sản Nhà nước giao với mục
đích bảo toàn và phát triển số vốn đó với hiệu quả cao nhất. Để có thời gian tập trung
vào những vấn đề lớn có tính chiến lược giám đốc nên giao quyền “chỉ huy sản xuất và
kỹ thuật cho một phó giám đốc.
Ban kiểm soát(BKS):
BKS do hội đồng cổ đông bầu ra, thay mặt các cổ đông kiểm tra, giám sát mọi
hoạt động theo điều lệ của công ty, chịu sự lãnh đạo của HĐQT. Nhiệm vụ của ban kiểm
soát là kiểm tra việc thực hiện chỉ tiêu nội bộ, là bộ phận kiểm toán của công ty.
Phó chủ tịch HĐQT kiêm Phó giám đốc kỹ thuật:
mạnh tiêu thụ sản phẩm. Thông qua hoạt động của hệ thống quày hàng, sản phẩm của
công ty được tiêu thụ, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra còn giữ vững,
củng cố và mở rộng thị trường cho công ty. Từ việc thu hồi giá trị, kết thúc chu kỳ kinh
doanh, các cửa hàng, quày hàng giúp cho công ty trang trải được chi phí và thu lợi nhuận
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong những năm qua, thực tế cho thấy cơ cấu tổ chức quan hệ trực tuyến và quan
hệ chức năng được sử dụng ở công ty đã phát huy tác dụng trong công tác quản lý.
2.1.2. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2007 – 2009
SVTH: Đinh Thị Nguyên Bình Lớp Kinh tế và Quản lý công 48
23