ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐỊA LÝ KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM - Pdf 12

ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM (các nguồn lực)
MỞ ĐẦU
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC
1. Công cuộc đổi mới - cuộc cải cách toàn diện về kinh tế - xã hội
- Bối cảnh. 30/04/1975: đất nước thống nhất, cả nước tập trung vào hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất
nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp là chủ
yếu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh. Bối cảnh trong nước và quốc tế vào cuối những năm 70 đầu 80 của thế kỉ XX diễn
biến phức tạp Tất cả những điều này đã đưa nền kinh tế nước ta sau chiến tranh rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài, lạm
phát luôn ở mức 3 con số
- Diễn biến. Công cuộc đổi mới được manh nha từ 1979, những đổi mới đầu tiên từ lĩnh vực nông nghiệp với “khoán
100” và “khoán 10”, sau đó lan sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Đường lối Đổi mới được khẳng định từ Đại hội Đảng
CSVN lần thứ VI (1986), đưa nền kinh tế nước ta phát triển theo 3 xu thế: Dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội; Phát triển
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; Tăng cường giao lưu và hợp tác với các nước trên thế giới
- Những thành tựu của công cuộc Đổi mới. Tính đến năm 2006, công cuộc đổi mới đã qua chặng đường 20 năm.
Thành tựu đã đạt được:
+ Đã đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Lạm phát được đẩy lùi chỉ còn ở mức 2
con số
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao: Cụ thể, vào thời kì từ 1975 – 1980 tốc độ tăng GDP chỉ đạt (0,2%), năm 1988
(0,6%), năm 1995 (9,5%); Vào cuối 1997, mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở khu vực, nhưng năm
1999 tốc độ tăng GDP vẫn đạt 4,8%, năm 2005 tăng lên 8,4%. Nếu tính trong 10 nước ASEAN, giai đoạn 1987 – 2004 thì
GDP của Việt Nam là 6,9%, chỉ sau Xingapo (7,0%)
+ Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa: Cho tới đầu thập kỉ 90 (TK 20), trong cơ
cấu GDP thì nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất, công nghiệp – xây dựng chiếm tỉ trọng nhỏ; Đến 2005 tỉ trọng trong nông –
lâm - ngư chỉ còn 21,0%, công nghiệp – xây dựng tăng lên 41,0% và dịch vụ 38,0%
+ Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cũng có chuyển biến rõ nét: Đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm; phát triển các
vùng chuyên canh qui mô lớn; các trung tâm công nghiệp và dịch vụ lớn. Ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi và biên giới, hải đảo
cũng được ưu tiên phát triển
+ Về xã hội: Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống vật chất – tinh thần của nhân
dân được cải thiện rõ nét
Bảng 1.1. Tỉ lệ nghèo của cả nước qua các cuộc điều tra mức sống dân cư từ 1993 - 2004 (%)
1993 1998 2002 2004

- Đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Đẩy mạnh hội nhập kinh tế để tăng tiềm lực kinh tế quốc gia
- Có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ tài nguyên – môi trường và phát triển bền vững
1
- Đẩy mạnh phát phát triển giáo dục, y tế, phát triển nền văn hóa mới, chống các tệ nạn xã hội, mặt trái của kinh tế thị
trường
Chương 1.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN. ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ - Ý nghĩa của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1. Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ
a. Trên đất liền.
- Vị trí: Nước ta nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông Dương; phía Bắc giáp với Trung Quốc; phía Tây giáp với Lào và
Cămpuchia; phía Đông là biển Đông thông với Thái Bình Dương rộng lớn.
- Toạ độ địa lý trên đất liền: Điểm cực Bắc 23
0
23'B (xã Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang). Điểm cực Nam 8
0
34'B
(Xóm Mũi, xã Đất Mũi, Ngọc Hiển, Cà Mau). Điểm cực Tây 102
0
10'Đ (dãy Khoan La San, xã Sìn Thầu, Mường Nhé, Điện
Biên). Điểm cực Đông 109
0
24'Đ (trên bán đảo Hòn Gốm thuộc xã Vạn Thạnh, Vạn Ninh - Khánh Hòa). Lãnh thổ nước ta hẹp
ngang, trải dài trên nhiều vĩ độ (15 vĩ độ).
- Diện tích tự nhiên 331.212,1 km
2
,

xếp thứ 56/200 quốc gia, (gấp 4 lần Bồ Đào Nha, gấp 1,5 lần nước Anh, gần bằng

Bảng 1.3. Các điểm chuẩn để tính đường cơ sở bao gồm 10 đoạn thẳng nối từ điểm A
0
-A
11
Vị trí địa lý Vĩ độ (B) K.Độ (Đ)
0 Trên ranh giới TN của vùng nước lịch sử giữa VN-CPC. 9
0
15'0 103
0
27'0’’
A
1
Hòn Nhạn thuộc quần đảo Thổ Chu – Kiên Giang 9
0
15'0 103
0
27'0’’
A
2
Hòn Đá Lẻ ở Đông Nam Hòn Khoai – Minh Hải 8
0
22'8 104
0
52'4’’
A
3
Hòn Tài Lớn, Côn Đảo – Bà Rịa – Vũng tàu 8
0
37'8 106
0

8
Mũi Đại Lãnh, Khánh Hòa 12
0
53'8 109
0
27'2’’
A
9
Hòn Ông Căn, Bình Định 13
0
54'0 109
0
12'0’’
A
10
Đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. 15
0
23'1 109
0
09'0’’
A
11
Đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị 17
0
10'0 107
0
20'0’’
(Riêng 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta chưa công bố đường cơ sở).
- Lãnh hải. Được xác định là 12 hải lý (1 hải lý = 1.858m) chạy song song cách đều đường cơ sở về phía biển và
đường phân định trên các vịnh với các nước hữu quan. Ranh giới này được coi là biên giới quốc gia trên biển.

b. Đối với phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội
- Việt Nam nằm ở ngã tư đường hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng cùng với các cảng biển (Cái Lân, Hải
Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn); Các sân bay quốc tế (Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng); Các tuyến đường bộ, đường sắt Xuyên
Á đã tạo điều kiện thuận lợi để trao đổi, giao lưu với các nước xung quanh. Việt Nam còn là cửa ngõ thông ra biển của Lào,
Thái Lan, Đông Bắc CPC và khu vực Tây Nam Trung Quốc.
- Vị trí địa lí và hình dáng lãnh thổ nước ta đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành các đặc điểm của tự nhiên; Từ đó
ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức khai thác tài nguyên; Tới sự tổ chức lãnh thổ kinh tế quốc dân (đặc biệt là việc tổ
chức các trung tâm, hạt nhân phát triển của vùng); Đồng thời cũng ảnh hưởng tới các mối liên hệ nội-ngoại vùng cũng như
mối liên hệ kinh tế quốc tế.
- Về văn hóa – xã hội, do ở vị trí liền kề cùng với nhiều nét tương đồng về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử và mối
giao lưu lâu đời với các nước trong khu vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chung sống hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng
phát triển với các nước (nhất là các nước láng giềng). Hơn nữa, vị trí địa lí cũng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành cộng đồng
các dân tộc Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc và có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hóa văn
hóa thế giới.
c. Đối với an ninh - quốc phòng (AN - QP).
- Theo quan điểm địa lý chính trị và địa lý quân sự, nước ta có vị trí đặc biệt quan trọng ở khu vực Đông Nam Á: Do
nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á (lục địa) và Đông Nam Á (hải đảo), một khu vực giàu tài nguyên, một thị trường có sức
mua đang tăng, một vùng kinh tế rất năng động. Như vậy, đây là nơi rất hấp dẫn với các thế lực đế quốc thù địch, mặt khác
đây cũng là khu vực rất nhạy cảm trước những biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới.
- Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra trên đất liền Việt Nam có đường biên giới rất dài với các nước láng giềng
(4500km): Dọc biên biên giới với Trung Quốc và Lào núi liền núi, sông liền sông, không có những trở ngại lớn về tự nhiên,
(ngược lại) có các thung lũng, đèo thấp thông với các nước láng giềng; Với Cămpuchia, không có biên giới tự nhiên, mà là
châu thổ mênh mông trải dài từ Cà Mau đến tận Biển Hồ (việc xác định mốc biên giới giữa hai nước còn là vấn đề cần đàm
phán để thống nhất).
- Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra với đường biên giới trên biển: Bờ biển nước ta dài (3260km), giáp với rất
nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Inđônêxia, Malaixia, Philipin, Brunây, Xingapo, Thái Lan, Cămpuchia. Biển Đông rất
3
giàu tài nguyên tôm, cá, Thềm lục địa rất giàu tài nguyên khoáng sản (dầu khí ), lại án ngữ đường biển quốc tế nối hai đại
dương lớn Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương. Vì vậy, biển Đông có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nước ta về mặt chiến
lược đối với kinh tế, an ninh – quốc phòng.

▪ Là giai đoạn có nhiều biến động mạnh mẽ nhất trong lịch sử phát triển tự nhiên nước ta. Trong giai đoạn này, tại
lãnh thổ nước ta có nhiều khu vực chìm ngập dưới biển trong các pha trầm tích và được nâng lên trong các pha uốn nếp của
các kì vận động tạo núi Calêđôni và Hecxini (thuộc đại Cổ sinh); các kì vận động tạo núi Inđôxini và Kimêri (thuộc đại Trung
sinh). Đất đá giai đoạn này rất cổ, bao gồm các loại trầm tích (trầm tích biển và trầm tích lục địa), macma và biến chất. Các
trầm tích biển phân bố rộng khắp trên lãnh thổ, đặc biệt là đá vôi tuổi Đêvon và Cacbon – Pecmi có nhiều ở miền Bắc. Tại một
số vùng sụt lún trên đất liền được bồi lấp bởi các trầm tích lục địa vào đại Trung sinh đã hình thành các mỏ than ở Quảng
Ninh, Quảng Nam, các đá cát kết, cuội kết màu đỏ sẫm ở khu vực Đông Bắc. Các hoạt động uốn nếp và nâng lên diễn ra ở
nhiều nơi. Trong đại Cổ sinh là các khối Thượng nguồn sông Chảy, khối nâng Việt Bắc, địa khối Kon Tum. Trong đại Trung
sinh là các dãy núi hướng tây bắc - đông nam ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; các dãy núi hướng vòng cung ở Đông Bắc và các
khối núi cao ở Nam Trung Bộ. Kèm theo các hoạt động uốn nếp tạo núi, sụt võng là các đứt gãy, động đất với các loại đá
macma xâm nhập và mac ma phun trào như granit, riolit, anđêzit cùng các khoáng sản quí (đồng, sắt, thiếc, vàng, bạc, đá
quí…)
▪ Là giai đoạn lớp vỏ cảnh quan địa lí nhiệt đới ở nước ta đã rất phát triển. Các điều kiện cổ địa lí của vùng nhiệt đới
ẩm ở nước ta vào giai đoạn này đã được hình thành và phát triển dấu vết để lại là các hoá đá san hô tuổi Cổ sinh, các hoá đá
than tuổi Trung sinh cùng nhiều sinh vật cổ khác.
Như vậy, có thể nói về cơ bản đại bộ phận lãnh thổ nước ta hiện nay đã được định hình từ khi kết thúc giai đoạn Cổ
kiến tạo
1.2.3. Giai đoạn Tân kiến tạo.
Giai đoạn Tân kiến tạo là giai đoạn cuối cùng trong lịch sử hình thành và phát triển của tự nhiên nước ta, còn kéo
dài cho đến ngày nay. Giai đoạn này ở nước ta có những đặc điểm sau:
▪ Là giai đoạn diễn ra ngắn nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của tự nhiên VN. Giai đoạn này chỉ mới bắt
đầu từ cách đây 65 triệu năm và đang tiếp diễn đến ngày nay
▪ Chịu sự tác động mạnh mẽ của kì vận động tạo núi Anpơ - Himalaya và những biến đổi khí hậu có qui mô toàn
cầu.Sau khi kết thúc giai đoạn Cổ kiến tạo, lãnh thổ nước ta trải qua một thời kì tương đối ổn định và tiếp tục được hoàn thiện
dưới chế độ lục địa, chủ yếu chịu sự tác động của các quá trình ngoại lực. Vận động tạo núi Anpơ - Himalaya có tác động đến
lãnh thổ nước ta bắt đầu từ kỉ Nêôgen (cách đây ~ 23 triệu năm) cho đến ngày nay. Do chịu tác động của vận động tạo núi
Anpơ-Himalaya, trên lãnh thổ nước ta đã xảy ra các hoạt động như nâng cao và hạ thấp địa hình, bồi lấp các bồn trũng lục địa
kèm theo các đứt gãy và phun trào macma. Cũng vào giai đoạn này (đặc biệt là trong kỉ Đệ tứ), khí hậu Trái Đất có những biến
đổi lớn với những thời kì băng hà, gây nên tình trạng dao động lớn của nước biển. Đã có lần biển tiến và biển lùi trên phần
lãnh thổ của nước ta mà dấu vết để lại là các thềm biển, cồn cát, các ngấn nước trên các vách đá ở vùng ven biển và các đảo

2
Q
1
1,7
Nêôgen
(N)
- Pliôxen
- Miôxen
N
2
N
1
23,5 21,8
Palêôgen
(Pg)
- Ôligôxen
- Êôxen
- Palêôxen
Pg
3
Pg2
Pg
1
65,0 41,5
Trung sinh
(Mêzôzôi MZ)
Krêta
(K)
- Krêta muộn (trên)
- Krêta sớm (dưới)

(Palêôzôi PZ)
Pecmi
(P)
- Pecmi muộn (trên)
- Pecmi sớm (dưới)
P
2
P
1
295 45
Cacbon
(C)
- Cacbon muộn (trên)
- Cacbon giữa
- Cacbon sớm (dưới)
C
3
C
2
C
1
355 60
Đêvon
(D)
- Đêvon muộn (trên)
- Đêvon giữa
- Đêvon sớm (dưới)
D
3
D

- Cambri giữa
- Cambri sớm (trên)

3

2

1
540 40
Nguyên sinh
(Prôtêrôzôi PR)
Khoảng 2600 Khoảng 2060
Thái cổ
(Ackêôzôi AR)
Khoảng 3600 1000
● Bảng Niên biểu địa chất:
Khi nghiên cứu địa chất hoặc lịch sử phát triển lãnh thổ tự nhiên của một quốc gia, khu vực trên thế giới rất cần thiết
phải có sự thống nhất về quan niệm và thước đo thời gian. Bảng Niên biểu địa chất là bảng xác định các đơn vị thời gian và
đơn vị địa tầng trong lịch sử phát triển của Trái Đất, được các nhà địa chất thế giới thừa nhận và thống nhất sử dụng
Bảng Niên biểu địa chất gồm các cột dọc trình bày các đơn vị thời gian (Đại, Kỉ, Thế), các đơn vị địa tầng (Giới, Hệ,
Thống), thời gian các đơn vị ấy xảy ra cách đây và số thời gian thực tế đã diễn ra. Các hàng ngang trình bày các thời kì cụ thể
của các Đại (thời gian) ứng với các Giới (địa tầng), các Kỉ ứng với các Hệ, các Thế ứng với các Thống với các tên gọi cụ thể
Đa số các Kỉ (Hệ) mang tên địa phương, nơi mà lần đầu tiên trầm tích được phát hiện và mô tả. Tên các Kỉ (Hệ)
thuộc đại Tân sinh phản ánh sự tiến hoá của thế giới hữu cơ, trong đó có thống Môlôxen với sự xuất hiện của loài người.
Riêng trong đại Tân sinh, hai kỉ Palêôgen và Nêôgen có tên chung là kỉ Đệ tam

1.3. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
1.3.1. Đặc điểm chung
5
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề vật chất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội; là điều kiện

phía đông (cánh cung sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều), núi thấp chiếm phần lớn diện tích. Theo hướng các dãy
núi là hướng vòng cung của các dòng chảy sông Cầu, Thương, Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình). Địa hình vùng
Đông Bắc cũng có hướng nghiêng chung là tây bắc-đông nam. Những đỉnh núi cao trên 2000m nằm ở thượng nguồn sông
Chảy. Giáp biên giới Việt-Trung (Hà Giang, Cao Bằng) là các khối núi đá vôi độ cao trên 1000m. Trung tâm là vùng đồi núi
thấp 500-600m.
- Vùng núi Tây Bắc: nằm giữa sông Hông và sông Cả, có địa hình cao nhất nước ta với 3 dãy núi lớn hướng tây bắc-
đông nam. Phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn: giới hạn từ biên giới Việt-Trung (thuộc tỉnh Lào Cai) tới khủyu sông Đà, có
đỉnh phanxipăng (3143m) cao nhất nước ta; phía tây là địa hình trung bình của dãy sông Mã chạy dọc biên giới Việt-Lào từ
Khoan La San đến sông Cả; ở giữa thấp hơn là các dãy núi xen kẽ các cao - sơn nguyên đá vôi từ Phong Thổ (Lai Châu) đến
Mộc Châu (Sơn La), tiếp nối là những đồi núi đá vôi ở Ninh Bình - Thanh Hóa. Kẹp giữa các dãy núi là các thung lũng sông
cùng hướng (sông Đà, sông Mã, sông Chu)
- Vùng núi Trường Sơn Bắc (thuộc Bắc Trung Bộ) giới hạn từ phía nam sông Cả tới dãy Bạch Mã, gồm các dãy núi
song song và so le theo hướng tây bắc-đông nam. Địa hình Bắc Trường Sơn thấp và hẹp ngang, chỉ nâng cao ở 2 đầu: phía bắc
là vùng núi Tây Nghệ An và phía nam là vùng núi Tây Thừa Thiên-Huế, mạch núi cuối cùng là dãy Bạch Mã - ranh giới với
vùng núi Nam Trường Sơn và cũng là bức chắn ngăn cản các khối khí lạnh tràn xuống phương Nam
- Vùng Nam Trường Sơn: gồm các khối núi và cao nguyên. Khối núi Kon Tum và khối núi cực Nam trung bộ được
nâng cao, đồ sộ. Có những đỉnh cao > 2000m nghiêng dần về phía đông, tạo nên thế chênh vênh của đường bờ biển có sườn
dốc và dải đồng bằng nhỏ hẹp ở ven biển. Tương phản với địa hình vùng núi phía đông là các bề mặt cao nguyên khá bằng
phẳng, làm thành các bề mặt cao nguyên 500 - 800 - 1000m tạo nên sự bất đối xứng rõ nét giưa 2 sườn Đông - Tây của địa
hình Nam Trường Sơn
* Địa hình bán bình nguyên và đồi trung du: Nằm chuyển tiếp giữa miền núi - đồng bằng là các bề mặt bán bình
nguyên hoặc các đồi trung du. Bán bình nguyên thể hiện rõ ở Đông Nam Bộ với bậc thềm phù sa cổ ở độ cao ~ 100m và bề
mặt phủ ba dan ở độ cao ~ 200m. Địa hình đồi trung du phần nhiều là do tác động của dòng chảy chia cắt các thềm phù sa cổ,
đồi trung du rộng lớn nhất ở rìa Đồng bằng sông Hồng và thu hẹp ở rìa đồng bằng ven biển miền Trung
*Khu vực đồng bằng
- Hai đồng bằng châu thổ lớn: Đồng bằng sông Cửu Long rộng trên 40.000 km
2
, Đồng bằng sông Hồng 15.000 km
2
.

dốc). Tiềm năng chính ở đây là lâm sản, cây công nghiệp , cây ăn quả, chăn nuôi gia súc lớn, khai thác khoáng sản và thủy
điện. Riêng với công nghiệp, có khả năng phát triển các ngành công nghiệp "thượng du" (khai thác trực tiếp từ các nguồn tài
nguyên thiên nhiên). Vùng trung du, với vị trí địa lý đặc biệt (địa hình là những vùng đồi, địa chất công trình lý tưởng), có khả
năng lớn để phát triển cây công nghiệp; công nghiệp cơ bản (năng lượng và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng). Vùng
đồng bằng, nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi; là nơi tập trung các ngành công nghiệp "hạ du" (các ngành chế biến, sản xuất
các thành phẩm cuối cùng). Nông nghiệp ở đây là thâm canh cây lương thực - thực phẩm; chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm; thủy
sản và các ngành dịch vụ.
● Những mặt hạn chế
- Vùng đồi núi: Chủ yếu là đồi núi thấp nhưng địa hình bị chia cắt mạnh, tạo nên nhiều sông suối, hẻm vực, sườn dốc
gây trở ngại cho giao thông vận tải, cho việc khai thác tài nguyên và giao lưu giữa các vùng. Do mưa nhiều, sườn dốc mạnh,
miền núi còn là nơi xảy ra nhiều thiên tai như lũ nguồn, lũ quét, xói mòn, trượt lở đất; Tại các đứt gãy sâu có nguy cơ phát
sinh động đất; Nơi khô nóng thường xảy ra nạn cháy rừng; Miền núi đá vôi và vùng đất đỏ ba dan thường thiếu nước trong
mùa khô; Vùng núi cao địa hình hiểm trở cuộc sống của người dân càng gặp nhiều khó khăn. Do vậy, việc khai thác và sử
dụng hợp lý miền đồi núi không chỉ giúp cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở các miền này, mà còn có ý nghĩa cho việc bảo vệ
môi trường sinh thái chung của cả nước.
- Vùng đồng bằng: có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình miền núi. Các sông lớn mang vật liệu phù sa từ miền đồi núi
bồi đắp mở rộng các đồng bằng châu thổ. Nhưng do tài nguyên rừng đang bị khai thác quá mức, diện tích đất trống đồi núi trọc
tăng lên kèm theo với nó là cường độ xói mòn đất vào mùa mưa diễn ra ngày càng mạnh đã gây hậu quả rất lớn, làm giảm tuổi
thọ các công trình thủy điện, thủy lợi, phù sa lắng đọng ở các vùng cửa sông ven biển cản trở cho giao thông vận tải đường
thủy. Thiên tai (bão, lụt, hạn hán) thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn về người và tài sản
b. Biển Đông
● Khái quát về Biển Đông. Biển Đông là vùng biển rộng, nguồn nước dồi dào, tương đối kín, có đặc tính nóng-ẩm và
chịu ảnh hưởng của gió mùa. Tính chất nhiệt đới của Biển Đông được thể hiện rõ qua các yếu tố như nhiệt độ, độ muối, sóng,
thủy triều và hải lưu (Nhiệt độ TB cao > 23
0
C và biến động theo mùa, rõ nhất ở vùng ven biển phía Bắc; Độ muối trung bình ~
30 - 33
0
/
00

phòng tránh thiên tai là những vấn đề hệ trọng trong chiến lược khai thác tổng hợp, phát triển kinh tế biển của nước ta.
c. Khí hậu. Đặc điểm chung của khí hậu nước ta là nhiệt đới - ẩm - gió mùa và có sự phân hoá phức tạp cả về thời
gian và không gian.
● Tính chất nhiệt đới - ẩm - gió mùa
- Tính chất nhiệt đới của khí hậu được qui định bởi vị trí nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu. Hàng
năm nhận được lượng bức xạ mặt trời lớn do Mặt Trời luôn đứng cao trên đường chân trời và ở nơi trong năm đều có 2 lần
Mặt Trời qua thiên đỉnh. Tổng lượng bức xạ nhiệt cao (120 - 140 kcal/cm
2
/năm). Cán cân bức xạ trên 75 kcalo/cm
2
/năm. Nhiệt
độ trung bình năm dao động từ 22 - 27
0
C (tiêu chuẩn của vùng nhiệt đới 21
0
C). Tổng nhiệt độ hoạt động năm 8.000 -
10.000
0
C. Tổng số giờ nắng trên 1.400 giờ/năm.
- Tính chất ẩm thể hiện ở lượng mưa trung bình/năm 1.500 - 2.000mm (sườn đón gió của nhiều dãy núi lượng mưa
lên tới 3.500 - 4.000mm). Độ ẩm không khí luôn luôn ở mức 80% - 100% (trừ một vài vùng khô hạn như Ninh - Bình Thuận
lượng mưa thấp ~ 700 - 800mm).
- Tính chất gió mùa: do nằm trong vùng nội chí tuyến BBC nên ở nước ta Tín phong nửa cầu Bắc có thể thổi quanh
năm. Tuy nhiên, khí hậu nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các khối khí hoạt động theo mùa với 2 mùa gió chính: gió mùa
mùa đông và gió mùa mùa hạ. Gió mùa đã lấn át Tín phong, vì vậy Tín phong chỉ hoạt động mạnh vào các thời kì chuyển tiếp
giữa 2 mùa gió.
+ Gió mùa mùa Đông: Từ 16
0
B trở ra Bắc: Khối không khí cực đới (NPc) thống trị từ tháng X - IV, phạm vi ảnh
hưởng của nó vào đến vĩ độ 16

sườn Tây thuộc dãy Trường Sơn, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Khí hậu có 2 mùa khô - mưa,
càng về phía nam tính chất này càng thể hiện rõ. Miền này chia làm hai vùng khí hậu (Tây Nguyên và Đông Nam Bộ - Đồng
bằng sông Cửu Long). (3) Miền khí hậu Đông Trường Sơn, bao gồm phần Đông Trường Sơn từ vĩ độ 18
0
B (phía Nam dãy
Hoành Sơn) đến vĩ độ 12
0
B (Bình Thuận). Đây là miền khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu trên và được chia làm 3
vùng khí hậu (vùng Bình - Trị - Thiên; vùng Trung Trung Bộ và vùng Nam Trung Bộ).
- Theo Atlát khí tượng thủy văn Việt Nam - 1994, sơ đồ phân vùng khí hậu nước ta gồm 2 miền (ranh giới 16
0
B):
Miền khí hậu phía Bắc có 4 vùng khí hậu (Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ).
Miền khí hậu phía Nam có 3 vùng khí hậu (Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ).
Bảng 1.5. Một số đặc trưng của các miền và các vùng khí hậu.
Miền khí hậu Miền khí hậu P.Bắc Miền khí hậu P.Nam
- Biên độ năm của nhiệt độ không khí (
0
C)

9
<9
- Bức xạ tổng cộng TB năm (kcal/cm
2
)

140
> 140
8
- Số giờ nắng TB năm (giờ)

(mm)
18,6
26,2
43,8
90,1
188,5
230,9
288,2
318,0
265,4
130,7
43,4
23,4
1676
Huế (16
0
24'B - 107
0
41'Đ, độ cao 17m/biển)
Nhiệt độ (
0
C)
19,7
20,9
23,2
26,0
28,0
29,2
29,4
28,8

27,9
28,9
28,3
27,5
27,1
27,1
26,8
26,7
26,4
25,7
27,1
Lượng mưa
(mm)
13,8
4,1
10,5
50,4
218,4
311,7
293,7
269,8
327,1
266,7
116,5
48,3
1931
● Thuận lợi:
▪ Đối với sản xuất nông nghiệp: Do nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng - ẩm, nhiệt độ TB/năm cao,
độ ẩm TB lớn cùng với sự phân hóa đa dạng cả về thời gian và không gian là một thuận lợi lớn cho phát triển một nền nông
nghiệp nhiệt đới với nhiều loại nông sản phong phú (cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu ; chăn nuôi đại gia

đồng bằng lên miền núi.
▪ Đối với hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng, tham quan,.v.v. Tính chất gió mùa cũng ảnh hưởng khá sâu sắc, hiệu quả
khai thác giảm hẳn mà rõ nhất là ở miền Bắc.
d. Tài nguyên nước
9
Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về nước cho sản xuất và sinh hoạt ngày càng tăng. Nhưng sự phân bố
nước lại không đều giữa các vùng đã dẫn tới sự mất cân đối giữa cung-cầu về nước sạch. Như vậy, loại tài nguyên này tưởng
như là vô tận lại trở thành có hạn.
● Nước trên mặt.
Với địa hình 3/4 diện tích là đồi núi, lại bị chia cắt dữ dội, điều kiện khí hậu nhiệt đới-ẩm-gió mùa, sông ngòi nước ta
khá dày đặc. Mật độ sông ~ 0,5 - 1,2 km/km
2
. Cả nước có 2360 con sông có chiều dài

10 km, bao gồm 124 hệ thống sông
với tổng diện tích lưu vực 292.470km
2
. Có 10 lưu vực sông chính (Bằng Giang-Kỳ Cùng; Hồng-Thái Bình; Mã; Cả; Thu Bồn;
Đà Rằng; Đồng Nai; Cửu Long; Xêsan; Xrêpốc); diện tích lưu vực > 10.000km
2
;

10 lưu vực này chiếm 80% diện tích; 70%
nguồn nước và trên 80% dân số cả nước.
- Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa: Tổng lượng dòng chảy của tất cả các sông ~ 880km
3
/năm (lượng dòng chảy
sinh ra trong nước 325 km
3
, chiếm 37% tổng lượng dòng chảy năm). tổng lượng cát bùn hàng năm do sông vận chuyển ra Biển

+ Hệ thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ. Diện tích lưu vực 42.655 km
2
, thuộc phần lãnh thổ Việt Nam 36.261 km
2
. Hệ
thống sông Đồng Nai-Vàm Cỏ bao trùm gần như toàn bộ lãnh thổ vùng Đông Nam Bộ, một phần phía Nam Tây Nguyên và
Duyên hải miền Trung. Lũ vào mùa Hạ, lớn nhất là tháng VII-IV; mùa kiệt từ tháng III-V. Đây là lưu vực sông của vùng kinh
tế phát triển năng động nhất cả nước, vì vậy sử dụng hợp lý nguồn nước sông có ý nghĩa rất quan trọng.
+ Hệ thống sông ở Tây Nguyên có những sông nhánh của tả ngạn sông Mê Công (lớn hơn cả là sông Xrêpốc và
Xêsan), những sông này tuy nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất lớn về nước tưới và thủy điện. Trên sông Xêsan đã xây dựng thủy điện
Yaly, sông Srêpốc đã xây dựng thủy điện Đrây Hlinh, hiện nay đang tiếp tục xây dựng một vài công trình thủy điện khác.
+ Hệ thống sông Mã, sông Chu. Diện tích lưu vực 28.400 km
2
, chảy qua một phần vùng Tây Bắc qua Lào vào Thanh
Hóa. Hai sông này cung cấp phù sa cho đồng bằng Thanh Hóa (rộng nhất trong các đồng bằng Duyên hải miền Trung). Lũ vào
tháng VI - XI (cao nhất tháng IX).
+ Hệ thống sông Cả. Diện tích lưu vực 27.200 km
2
. Bắt nguồn từ Lào chảy vào Nghệ An, tạo nên đồng bằng Nghệ
An nối liền với đồng bằng Thanh Hóa. Do lưu vực sông mở rộng về phía Tây, vì vậy đồng bằng cũng mở rộng sâu vào trong
đất liền. Lũ vào tháng VI - X (cao nhất tháng IX), kiệt vào tháng XI - V (kiệt nhất tháng III). Ở hạ lưu của hệ thống sông này
có các thành phố lớn như thành phố Vinh, trung tâm kinh tế lớn nhất của Bắc Trung Bộ.
+ Các sông ở miền Trung (Đông Trường Sơn) từ Hà Tĩnh - Bình Thuận có đặc điểm chung là đều ngắn, dốc, lưu
lượng nước nhỏ (nhiều sông chảy theo hướng Tây - Đông), lượng dòng chảy nhỏ chủ yếu trong địa phận nước ta. Mùa lũ lệch
vào mùa Thu Đông, lũ lớn nhất vào tháng X, XI, lũ tiểu mãn vào tháng V, VI; tháng kiệt nhất vào IV hoặc VII, VIII. Các sông
này tạo nên các đồng bằng nhỏ hẹp, lại bị chia cắt bởi các nhánh núi lan ra sát biển. Ở hạ lưu các sông thường có các thị xã, thị
trấn. Những sông lớn ở đây khi chảy qua các vùng lãnh thổ nào thường mang tên các thị xã, thị trấn mà nó chảy qua (ví dụ
Tam Kỳ, Vĩnh Điện, Sông Cầu .v.v.).
Do sông ngắn và dốc, ở hạ lưu lại không có đê nên lũ lên rất nhanh và rút cũng nhanh. Lũ ở miền Trung rất nguy
hiểm (đặc biệt là ở thượng nguồn) hiện tượng lũ quét thường đe dọa các điểm dân cư, các công trình xây dựng, đường sá ,

7,2
4,8
2,2
2,2
3. Bắc Trung Bộ
- Lưu vực sông Mã.
- Lưu vực sông Cả
- Lưu vực sông vùng Bình - Trị -Thiên
67,0
18,5
24,7
23,8
8,0
2,3
2,9
2,8
58,3
14,7
19,8
23,8
17,9
4,5
6,3
7,3
4. Duyên hải Nam Trung Bộ
- Khu vực Đà Nẵng và Quảng Nam
- Khu vực Quảng Ngãi – Bình Định.
- Khu vực Phú Khánh
48,7
21,6

Nguồn: Viện qui hoạch thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
● Nước ngầm.
Tài nguyên nước ngầm của Việt Nam hiện nay vẫn chưa được thăm dò, đánh giá đầy đủ. Theo kết quả nghiên cứu
bước đầu cho thấy phần lớn nước ngầm chứa trong các thành tạo ở độ sâu từ 10-100 m. Các phức hệ có khả năng khai thác đó
là phức hệ trầm tích rời bở tập trung ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và một vài nơi ven biển miền Trung,
phức hệ trầm tích cácbonat phân bố chủ yếu ở Đông Bắc, Tây Bắc, vùng Bắc và Bắc Trung Bộ, phức hệ đá phun trào (Tây
Nguyên và Đông Nam Bộ).
Tổng trữ lượng động thiên nhiên của cả nước 1.513 tỉ m
3
/s (lưu lượng dòng ngầm ở một cắt nào đó của tầng chứa
nước). Trữ lượng khai thác thăm dò khoảng 3,3 tỉ m
3
. Nước ngầm phân bố không đều trong cả nước, tập trung nhiều nhất ở
các vùng đồng bằng (nhưng thường bị nhiễm mặn, hàm lượng sắt và độ axit cao), rất hạn chế trong các vùng núi đá vôi và
trong tầng ba dan. Khai thác nước ngầm chủ yếu cung cấp nước cho đô thị, sản xuất công nghiệp, nước sạch cho các vùng
nông thôn, đối với các vùng chuyên canh cây công nghiệp (cà phê Tây Nguyên) lại càng quan trọng.
● Ý nghĩa kinh tế của hệ thống sông ngòi nước ta
- Tạo nên các đồng bằng rộng lớn (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long Duyên hải miền Trung); thuận
lợi cho nền nông nghiệp lúa nước, định canh. Tạo điều kiện tập trung dân cư và phát triển các ngành kinh tế khác. Chính vì
thế, ở ven sông thường tập trung các đô thị lớn, các trung tâm công nghiệp, dịch vụ; Các vùng ven sông và các cửa sông còn
hình thành các cảng rất lớn (Cần Thơ); Nhiều cửa sông rộng (hình phễu) rất thuận lợi cho tàu bè ra vào; Các sông ngòi nếu
được nạo vét thường xuyên sẽ là hệ thống giao thông vận tải lý tưởng.
- Về thủy điện, sông ngòi nước ta có giá trị về thủy điện rất lớn. Tổng trữ năng (lý thuyết) 28-30 triệu kw. Sản lượng
điện ~ 250 tỉ kw/h/năm (khả năng cho khai thác 60 tỉ kw/h/năm), hiện nay chúng ta mới khai thác trên 50%. Như vậy khai thác
thủy điện có ý nghía rất lớn cho phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng tổng hợp nguồn tài nguyên nước.
▪ Những hạn chế của nguồn tài nguyên nước.
- Tính chất bất thường của thủy chế (lũ và kiệt). Lũ lụt năm nào cũng xảy ra gây thiệt hại rất lớn cả về người và của
của nhân dân. Mùa kiệt, lượng dòng chảy nhỏ, nước mặn vào khá sâu trong đất liền, riêng ở hai đồng bằng lớn trong phạm vi
30 - 50 km từ cửa sông vào là chịu ảnh hưởng của triều biển sông Hồng (20km), sông Thái Bình (40km), sông Tiền (50km),
sông Hậu (40km).

2
SO
4
làm cho đất chua và nước trong đất chua (nếu trong đất và nước: độ pH <
4,5 cá không sống được, độ pH < 3,0 thì tất cả các loài thủy sinh và cây cối không sống được, kể cả cây ngập mặn). Muốn sử
dụng loại đất này phải tiến hành thau chua - rửa phèn, cần rất nhiều nước ngọt.
▪ Đất mặn. Khoảng 1,0 triệu ha. Tập trung ở các vùng cửa sông ven biển, nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long
diện tích lên tới 744 000 ha (Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau), ở Đồng bằng sông
Hồng (Thái Bình, Nam Định). Đất nhiễm mặn do 2 nguyên nhân (do ngập nước triều mặn và nước ngầm mặn gây ra). Tùy
theo hàm lượng (CL
-
) trong đất mà phân ra mặn nhiều hay ít. Để khai thác đất mặn, nhân dân ta thường quai đê lấn biển, rửa
mặn bằng nước mưa, trồng cói trước - lúa sau. Hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều vùng nhân dân đã trồng một vụ
lúa nhờ vào nước trời và một vụ tôm cho năng suất khá cao.
▪ Đất cát ven biển. ~ 50,0 vạn ha. Phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở Trung Bộ. Có các loại cồn cát sau:
Các cồn cát hiện đại (cồn cát vàng), nhiều nhất ở Quảng Bình. Các cồn cát cũ (cồn cát trắng) kéo dài từ Quảng Trị
đến Thừa Thiên Huế. Các cồn cát cổ (cát đỏ) có nhiều ở Bình Thuận. Ngoài ra còn có các bãi cát biển khá bằng phẳng.
Đất cát nghèo mùn và N, P, K, có phản ứng chua. Thường thiếu nước cho sinh hoạt và cây trồng gặp rất nhiều khó
khăn. Các cồn cát hiện đại và cồn cát cũ lại thường hay di động, lấn vào làng mạc, ruộng đồng nên việc trồng rừng chắn gió,
chắn cát ở các tỉnh miền Trung là rất quan trọng. Các cồn cát cổ đã ổn định, không di động, có thể tận dụng trồng hoa màu,
cây công nghiệp hay trồng rừng.
● Các loại đất ở vùng trung du - miền núi và cao nguyên.
* Đặc điểm chung.
Ở miền đồi núi, quá trình hình thành đất feralit là chủ yếu, đây là quá trình hình thành đất đặc trưng cho vùng nhiệt
đới ẩm trong điều kiện nhiệt-ẩm cao, quá trình phong hóa diễn ra rất mạnh, các chất bazơ Ca
+
, Mg
+
, K
+

nghèo mùn, thành phần cơ giới nhe từ cát pha đến cát thô. Thảm thực vật là rừng khộp hay cỏ tranh.
- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ. ~ 1,2 triệu ha (Đông Nam Bộ 90,0 vạn ha), ngoài ra còn có ở rìa Đồng bằng sông
Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ và dải đất cao ở Long An, Đồng Tháp. Địa hình cao 15 - 20 m, đất bị rửa trôi lâu ngày nên
nghèo phì liệu nhưng tơi xốp, thoát nước tốt. Đất này nếu được cải tạo, có thể trồng được cây lương thực - thực phẩm, cây ăn
quả và cây công nghiệp
▪ Đất mùn đỏ - vàng trên núi. ~ 3,0 triệu ha. Phân bố ở độ cao từ 500 - 600m đến 1.600 - 1.700m. Đây là đai rừng cận
nhiệt đới trên núi, nhiệt độ giảm nhưng lượng mưa tăng làm cho quá trình Feralit yếu đi, quá trình tích lũy mùn tăng lên. Địa
hình dốc, đất có tầng mỏng, thích hợp cho lâm nghiệp. Một số nơi như Sa Pa có thể trồng các loại rau ôn đới.
12
▪ Đất mùn thô trên núi cao (đất alit trên núi cao). Trên 28,0 vạn ha, phân bố ở độ cao 1.600 - 1.700 m, đây là đai rừng
cận nhiệt đới mưa mù trên núi, quanh năm mây mù lạnh ẩm, quá trình Feralit chấm dứt hoàn toàn. Đất chứa nhiều mùn thô,
tầng thảm mục dày, tầng đất mỏng, lại là khu vực đầu nguồn nên cần bảo vệ nghiêm ngặt, phải trồng rừng phòng hộ.
▪ Ngoài ra, ở vùng đồi núi còn có: Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ khoảng 33,0 vạn ha, thích hợp cho việc làm
ruộng bậc thang (lúa nước thâm canh), trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Đất xói mòn trơ sỏi đá. (50,5 vạn ha). Đất
bị thoái hóa nghiêm trọng, không trồng trọt được. Việc cải tạo, phủ xanh diện tích này rất khó khăn. Đất lầy và than bùn > 7,0
vạn ha, tập trung ở các thung lũng miền núi và ở vùng đồng bằng; Đất than bùn nhiều nhất ở U Minh (Kiên Giang) và Cà Mau.
● Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên đất
- Đất đai là tài nguyên vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được của ngành nông - lâm. Là
mặt bằng để bố trí các điểm dân cư (nông thôn, đô thị), các cơ sở công nghiệp, các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản
xuất, sinh hoạt và các công trình quốc phòng. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đất đai trở thành một loại hàng hóa đặc
biệt, việc thay đổi mục đích sử dụng có thể làm thay đổi mạnh mẽ giá trị của đất đai. Chính vì vậy, sử dụng hợp lý, có hiệu quả
về kinh tế và sinh thái sẽ đảm bảo cho sự phát triển lâu bền trong tương lai.
Bảng 1.8. Hiện trạng sử dụng đất phân theo vùng tại thời điểm 01/01/2006 (đơn vị:1000 ha).
Các vùng Diện tích
Chia ra
Đất NN Đất LN Đất CD Đất TC Chưa SD
CẢ NƯỚC 33121,2 9412,2 14437,3 1401,0 602,7 7268,0
Đồng bằng sông Hồng 1486,2 760,3 123,3 230,5 116,5 255,6
Đông Bắc 6402,4 978,8 3551,0 202,7 79,9 1590,0
Tây Bắc 3753,4 499,5 1773,6 42,3 32,7 1405,3

1,3
30,5
9.383,4
16.165,7
1.712,0
1.086,5
4.576,4
28,6
49,0
5,2
3,3
13,9
(*) Đất lâm nghiệp bao gồm rừng tự nhiên, rừng trồng & đất mới chưa thành rừng
- Vấn đề sử dụng:
+ Đối với các vùng đồi núi: do địa hình dốc, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới - ẩm - mưa mùa, sự luân phiên giữa
mùa khô - mưa, quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh nên đất dễ bị rửa trôi, nghèo mùn, chua; công tác thủy lợi rất khó khăn,
khó áp dụng biện pháp thâm canh. Đây là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người, sản xuất còn mang tính tự túc tự cấp, nạn phá
rừng còn tăng, diện tích đất trống đồi núi trọc còn rất lớn. Vì vậy, để sử dụng hợp lý cần phải xác định rõ ranh giới đất lâm
nghiệp với đất nông nghiệp; áp dụng các biện pháp nông - lâm kết hợp; kĩ thuật canh tác trên đất dốc, tích cực bón phân hữu
cơ; giữ độ che phủ cho đất để tránh xói mòn và giữ ẩm. Đối với các vùng chuyên canh cây công nghiệp (Tây Nguyên) cần giữ
giới hạn mở rộng diện tích cây công nghiệp lâu năm, hạn chế làm mất rừng và cân bằng nước.
+ Đối với các vùng đồng bằng: Phải có biện pháp nghiêm ngặt khi chuyển đất nông nghiệp sang đất chuyên dùng và
thổ cư; Thủy lợi phải được đặt lên hàng đầu để nâng cao hệ số sử dụng đất (tháo úng, chống hạn, thau chua, rửa mặn, tăng vụ
trong mùa khô, cải tạo đất). Ngoài ra, sử dụng đất đồng bằng còn tính đến việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khí hậu
(nhiệt- ẩm) & tài nguyên nước. Vì vậy, việc thay đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc sử
dụng hợp lý tài nguyên đất. Riêng đối với đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long, việc sử dụng đất gặp nhiều khó khăn, cần
nhiều nước ngọt khi cải tạo, trong khi đó vào mùa khô rất thiếu nước ngọt; biện pháp tốt nhất có thể là lên liếp (luống) cao để
trồng các loại cây trồng cạn (mía, rứa, rau), cây ăn quả.
f. Tài nguyên sinh vật
• Về thành phần loài. Giới sinh vật nước ta rất phong phú, mặt khác do nằm ở nơi gặp gỡ của các luồng di cư thực-

+ Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá. Phát triển trong điều kiện có mùa đông lạnh (< 18
0
C), phổ biến ở
miền Bắc & các vùng có mùa khô rõ rệt như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Rừng có nhiều tầng tán (ngoài các cây thường xanh,
có 25% số cá thể rụng lá như sến cát, dầu lông, xoan, săng lẻ. Trữ lượng gỗ ~ 120 - 150 m
3
/ha.
+ Kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá. Phát triển trong điều kiện lượng mưa ít (1.000-1.500 mm/năm), mùa khô
kéo dài 4- 5 tháng. Phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Rừng có kết cấu đơn giản (1 - 2 tầng cây gỗ);
về mùa khô khoảng trên 75% số cây rụng lá, trơ cành. Các loại cây thường gặp là loài cây họ dầu (dầu lông, dầu trà ben,dầu
chai, sến cát), các cây họ đậu có (săng lẻ, lim sẹt, sau sau). Trữ lượng gỗ thấp khoảng 60 - 70 m
3
/ha.
- Nhóm hệ sinh thái rừng thưa nhiệt đới và xavan với các kiểu rừng:
+ Kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá rộng. Chỉ gặp ở những vùng khô, lượng mưa ít (Ninh Thuận, Bình Thuận và
Mường Xén - Nghệ An). Rừng chỉ có một tầng, chủ yếu là cây họ dầu (dầu lông, dầu trà ben).
+ Kiểu rừng nhiệt đới khô lá kim, chủ yếu là rừng thông phát triển trên đất trơ sỏi đá (Quảng Ninh, Lâm Đồng).
+ Kiểu xavan nhiệt đới khô (trảng cỏ). Phát triển trên các vùng khô cằn ở cực Nam Trung Bộ. Thảm thực vật chủ yếu
là cỏ, cây bụi mọc rải rác.
+ Kiểu truông nhiệt đới khô ở vùng khô cằn Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Trị (truông Nhà Hồ).
- Nhóm hệ sinh thái trên các loại thổ nhưỡng đặc biệt với các kiểu rừng:
+ Kiểu rừng nhiệt đới gió mùa lá rộng xanh quanh năm trên đá vôi, phân bố chủ yếu ở miền Bắc (cây rừng chủ yếu
là trai, nghiến ), kết cấu đơn giản, cây sinh trưởng chậm, khai thác khó khăn, khi đã bị tàn phá rất khó phục hồi lại. Nhiều nơi
hiện nay đã được qui hoạch thành khu dự trữ thiên nhiên hoặc vườn quốc gia
+ Kiểu rừng nhiệt đới gió mùa trên đất mặn (rừng ngập mặn). Phân bố ở các cửa sông ven biển. Nước ta có 4 khu
vực (Đông Bắc Quảng Ninh; Đồng bằng sông Hồng; Duyên hải miền Trung; và Nam Bộ (từ Nam Vũng Tàu trở vào). Ở phía
bắc chủ yếu là sú, vẹt, phát triển chậm do có mùa đông lạnh, lớp bùn mỏng. Ở phía nam chủ yếu là đước, đâng, chà là, giá;
Vùng nước lợ có bần, dừa nước mọc xen ô rô, do điều kiện khí hậu thuận lợi nên rừng phát triển rất mạnh.
+ Kiểu rừng nhiệt đới gió mùa trên đất phèn. Phát triển chủ yếu trên đất phèn và đất than bùn tập trung ở U Minh,
cây tràm là tiêu biểu nhất. Đây cũng là nơi cho các loài chim di trú, tạo thành những sân chim nổi tiếng, còn gọi là hệ sinh thái

Tổng diện tích rừng
(1000 ha)
Độ che phủ
(%)
1943 14.000,0 14.000,0 43,00
1976 11.077,0 92,0 11.169,0 33,80
1980 10.486,0 422,0 10.608,0 32,10
1985 9.038,0 584,0 9.892,0 30,00
14
1990 8.430,0 745,0 9.175,0 27,80
1995 8.252,0 1.050,0 9.302,0 28,20
1999 9.400,0 1.500,0 10.900,0 33,20
2000 9.774,5 1.800,5 11.575,0 35,10
2003 10.000,0 2.100,0 12.100,0 36,10
2005 9.529,4 2.889,1 12.418,5 37,65
- Trữ lượng gỗ năm 1999 chỉ còn 751,5 triệu m
3
. Trong đó: Tây Nguyên 298,8 triệu m
3
(39,8%), Đông Bắc 99,39
triệu m
3
(13,2%), Duyên hải Nam Trung Bộ 95,68 triệu m
3
(12,7%), Đông Nam Bộ 54,51triệu m
3
(7,2%), Tây Bắc 41,75triệu
m
3
(5,5%), Đồng bằng sông Hồng 21,33 triệu m

(100) (62) (29)
* Nguyên nhân làm suy thoái rừng. Do mở rộng diện tích đất canh tác; ở miền Bắc để trồng lương thực tự túc tự cấp
cùng tình trạng du canh du cư của đồng bào dân tộc; ở miền Nam (Tây Nguyên) phá rừng để trồng cây công nghiệp Do khai
thác gỗ cho nhu cầu công nghiệp, dân dụng, xuất khẩu (khai thác quá mức, khai thác lậu ở các khu rừng cấm). Do chặt phá
rừng lấy củi (hàng năm đã khai thác ~ 30 triệu ste củi). Do du canh, du cư, đốt nương làm rẫy của đồng bào dân tộc. Do cháy
rừng (nếu đốt rẫy mà không có biện pháp ngăn lửa thì diện tích rừng bị cháy sẽ lớn gấp 10 - 20 lần diện tích cần khai hoang).
Ví dụ năm 1995, diện tích rừng bị cháy 7.457 ha (Tây Nguyên 2.344 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ 1.748 ha, Đồng bằng sông
Cửu Long 2.072 ha). Riêng ở Tây Nguyên cháy rừng còn liên quan đến việc di dân tự do phá rừng lấy đất trồng cây công
nghiệp. Ngoài ra, còn có các nguyên nhân khác.
▪ Vấn đề đặt ra trong việc bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật
- Bảo vệ tài nguyên rừng: Dựa trên Luật bảo vệ và phát triển vốn rừng đã được Hội đồng Nhà nước công bố ngày
19/08/1991 và Ngày 22/12/2003, Chính phủ công bố Luật bảo vệ và phát triển vốn rừng (sửa đổi) - Quốc hội khóa X thông
qua. Nội dung Luật qui định các điều luật về quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng;
chức năng, nhiệm vụ của kiểm lâm, giải quyết tranh chấp và vi phạm về rừng.
- Trong quản lý, bảo vệ, phát triển và khai thác rừng tập trung vào 3 loại rừng: Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch,
biện pháp bảo vệ nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng trên vùng đất trống, đồi núi trọc. Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh
quan, đa dạng sinh học của các vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên về rừng và khu bảo tồn các loài. Đối với rừng sản xuất:
đảm bảo duy trì phát triển diện tích và chất lượng rừng. Nhiệm vụ đến 2010, trồng được 5,0 triệu ha rừng.
- Biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học: Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.
Bảo vệ nguồn gien động-thực vật quí hiếm khỏi nguy cơ tuyệt. Qui định về khai thác: cấm khai thác gỗ quí, khai thác trong
rừng cấm, rừng non, gây cháy rừng, cấm săn bắn động vật trái phép, cấm dùng chất nổ đánh bắt cá và các dụng cụ bắt cá con,
cá bột, cấm gây hại cho môi trường nước.
g. Tài nguyên khoáng sản
● Đặc điểm.
Nước ta có lịch sử hình thành lãnh thổ lâu dài và phức tạp cùng các chu kỳ vận động tạo sơn lớn diễn ra trong lịch sử
địa chất. Các chu kỳ vận động tạo sơn lớn diễn ra trong đại Cổ sinh (Calêđôni, Hecxini), đại Trung sinh (Inđôxini, Kimêri) với
các pha trầm tích, phun trào mácma. Những vận động uốn nếp, vò nhàu, các đứt gãy sâu tạo nên các mỏ nội sinh; còn quá trình
phong hóa lâu dài, sự phân hủy khoáng từ các mỏ thân quặng và trầm tích đã tạo nên các mỏ ngoại sinh. Các mỏ khoáng sản
nước ta gắn với các thời kỳ tạo khoáng trong đại Cổ sinh và Trung sinh. Nhưng đến đại Tân sinh, vận động Tân kiến tạo lại
làm cho địa hình nước ta trẻ lại, các bán bình nguyên cổ được nâng lên mạnh và bị cắt xẻ dữ dội. Vì vậy, phần lớn các mỏ của

Thiếc Ngàn tấn 201,0 533,0
Apatit Triệu tấn 908,0 2.100,0
Pyrit Triệu tấn 908,0 2.100,0
● Khoáng sản nhiên liệu – năng lượng
▪ Dầu khí thiên nhiên.
- Trữ lượng dự báo địa chất ~10 tỉ tấn (cho khai thác ~ 4 – 5 tỉ tấn dầu qui đổi); trữ lượng khí đồng hành ~ 180 – 300
tỉ m
3
. Đang khai thác các mỏ Tiền Hải (khí đốt), Bạch Hổ (dầu và khí), Rồng (dầu); Đại Hùng (dầu), Rạng Đông (Dầu), Hồng
Ngọc (dầu), Lan Đỏ và Lan Tây (khí đốt) Nam Hồng Ngọc (dầu mỏ) và một số mỏ khí ở bể trầm tích Thổ Chu – Mã Lai
- Dầu khí của nước ta tập trung trong các bể trầm tích sau: bể trầm tích sông Hồng có diện tích khá lớn, đã phát hiện
và khai thác khí đốt ở Tiền Hải (~ 1 tỉ m
3
); dự báo, trữ lượng 1,5 tỉ tấn dầu mỏ (giới hạn cho khai thác 800 triệu tấn). Bể trầm
tích Cửu Long có dạng bầu dục, ~ 2,5 tỉ tấn (khả năng ~500 triệu tấn dầu qui đổi). Bể trầm tích Nam Côn Sơn là bể rộng nhất,
tiềm năng lớn nhất, ~ 3- 4 tỉ tấn, nhưng đây là vùng nước sâu, nên việc thăm dò chưa được bao nhiêu. Bể trầm tích Trung Bộ
(gồm các bể phía đông Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Phú-Khánh), diện tích nhỏ, tiềm năng hạn chế ~ 1 tỉ tấn dầu qui đổi. Bể
trầm tíchThổ Chu - Mã Lai, tiềm năng không lớn, vài trăm triệu tấn dầu.
▪ Than.
- Than đá: trữ lượng địa chất ~ 6,6 tỉ tấn, đứng đầu trong khu vực Đông Nam Á. Vùng than đá lớn nhất nước ta là bể
than Đông Bắc (chiếm 90% trữ lượng than cả nước), than antraxit và nửa antraxit tuổi Trias. Hiện nay đang khai thác các vỉa
lộ thiên (nhưng còn ít), tương lai chủ yếu là khai thác hầm lò nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn và năng suất thấp hơn. Ngoài ra,
nước ta còn có than antraxit ở Quảng Nam.
- Than mỡ dùng để luyện cốc cho công nghiệp luyện kim, chỉ có ở Phấn Mễ, Làng Cẩm, Chợ Đồn (Đông Bắc), Điện
Biên, Khe Bố (Nghệ An). Trữ lượng thăm dò ~ 8,6 triệu tấn.
- Than nâu hình thành trong kỷ Neogen, do than biến chất yếu nên hàm lượng lưu huỳnh cao, chứa nhiều chất độc
(còn gọi là than lửa dài). Các mỏ có trữ lượng công nghiệp là vùng trũng đệ tam Na Dương (Lạng Sơn) ~ 120,0 triệu tấn đã
được khai thác cho công nghiệp sản xuất xi măng; Vùng Đồng bằng sông Hồng trữ lượng hàng chục tỉ tấn nhưng ở độ sâu
1.000-2.000m; Vùng dọc sông Cả ~ 1,0 triệu tấn.
- Than bùn hình thành trong kỷ Đệ tứ; phân bố ở các vùng trũng của Trung du – miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông

Nai.
- Vàng có trên khắp đất nước, đã phát hiện 284 điểm quặng, đánh giá được 45 điểm quặng và đã khai thác 30 điểm
mỏ. Trữ lượng vàng dự báo 280 tấn, ở cấp tin cậy 49 tấn, chắc chắn 18 tấn, riêng mỏ Bồng Miêu - Quảng Nam là 10 tấn, đã
khai thác từ lâu. Nói chung các mỏ loại này đều nhỏ, khai thác thiếu sự kiểm soát gây ô nhiễm môi trường
Ngoài ra, còn có các mỏ khác như bạc, platin (thường có trong quặng đồng – niken), antimon, đất hiếm, kim loại
phóng xạ.
● Khoáng sản không kim loại. Nhóm này được phân thành các nhóm: Nguyên liệu cho công nghiệp hóa chất, phân
bón; Nguyên liệu kỹ thuật và mỹ nghệ; nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa, gốm sứ , vật liệu xây dựng.
- Apatit (mỏ ngoại sinh), phân bố ở Cam Đường (Lào Cai). Trữ lượng dự báo 2,0 tỉ tấn. Đã thăm dò 908,0 triệu tấn.
Sản xuất phân lân.
- Photphorit: ít, chỉ có ở Hữu Lũng (Lạng Sơn), có giá trị công nghiệp.
- Pyrit: là nguyên liệu để SX H
2
SO
4
. ~ 10,0 triệu tấn, có ở rải rác nhiều nơi, đang khai thác ở Thanh Sơn (Phú Thọ)
để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy hóa chất Lâm Thao.
- Đá quý, tập trung ở đới sông Hồng kéo dài từ Lào Cai – Sơn Tây, đang khai thác các mỏ ở Tần Hương, Lục Yên
(Yên Bái); ở Quỳ Hợp (Nghệ An) chủ yếu là đá quý, saphia.
- Cát thủy tinh, chủ yếu ở Duyên hải miền Trung (~ 1,1 tỉ tấn). Các mỏ lớn như Vân Hải (Quảng Ninh), Cửa Tùng
(Quảng Trị), Quảng Ngãi, Phú Yên, Nha Trang, Ninh Thuận và Bình Thuận, (cát Cam Ranh và Vân Hải nổi tiếng chất lượng
tốt)
- Sét xi măng, trữ lượng ~ 300 triệu tấn, tập trung nhiều nhất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương và
Bắc Trung Bộ.
- Cao lanh sản xuất gốm sứ cao cấp và sứ mỹ nghệ, trữ lượng 50,0 triệu tấn, ở nhiều nơi.
- Đá vôi, rất phong phú (từ phía Bắc đến Quảng Bình), ngoài ra còn có ở Đà Nẵng, Hà Tiên. Đây là chất trợ dung cho
luyện gang, sản xuất xi măng, làm đá ốp lát. Cảnh vùng núi đá vôi có giá trị lớn về du lịch. Ngoài ra, còn có sét làm gạch chịu
lửa ở Đông Bắc, Đông Nam Bộ.
● Nước khoáng.
Cả nước có trên 350 nguồn nước khoáng, nước nóng lộ ra ngoài mặt đất (trong đó 62 nguồn có nhiệt độ trên 50

B trở vào; Cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu là
đới rừng cận xích đạo gió mùa với thành phần thực - động vậạophanf lớn thuộc vùng xích đạo và nhiệt đới từ phương Nam
(Mã lai – Inđônêxia) lên, hoặc từ phía tây (Ấn Độ - Mianma) di cư sang. Trong rừng xuất hiện nhiều cây chịu hạn, rụng lá vào
mùa khô (như các cây họ dầu); có nơi hình thành loại rừng thưa nhiệt đới khô (nhiều nhất ở Tây Nguyên). Động vật tiêu biểu
là các loài thú lớn vùng nhiệt đới và xích đạo (voi, hổ, báo, bò rừng,…). Vùng đầm lầy có trăn, rắn, cá sấu…
b. Thiên nhiên phân hoá theo Đông – Tây (phân hoá thành 3 dải rõ rệt )
17
- Vùng biển và thềm lục địa: Vùng biển nước ta rộng gấp gần 3 lần diện tích đất liền, có ~ 3000 đảo lớn nhỏ. Độ nông
– sâu, rộng - hẹp của vùng biển và thềm lục địa có quan hệ chặt chẽ với vùng đồng bằng, vùng đồi núi kề bên và thay đổi theo
từng đoạn bờ biển; Khí hậu Biển Đông của nước ta mang đặc điểm khí hậu của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với lượng nhiệt, ẩm
dồi dào. Các dòng hải lưu thay đổi theo hướng gió mùa
- Vùng đồng bằng ven biển: Thiên nhiên vùng đồng bằng nước ta thay đổi tuỳ nơi và thể hiện mối quan hệ chặt chẽ
với dải đồi núi phía tây và vùng biển phía đông; Ở nơi mà đồi núi lùi xa vào đất liền thì đồng bằng mở rộng với các bãi triều
thấp phẳng, thềm lục địa rộng, nông (như đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ). Nơi đồi núi lấn sát ra biển thì đồng bằng hẹp ngang
và bị chia cắt thành những đồng bằng nhỏ, đường bờ biển khúc khuỷ với thềm lục địa hẹp, tiếp giáp vùng biển nước sâu (dải
đồng bằng Nam Trung Bộ). Các dạng địa hình bồi tụ, mài mòn xen kẽ nhau, các cồn cát, đầm phá khá phổ biến là hệ quả của
tác động kết hợp chặt chẽ giữa biển và vùng đồi núi phía tây ở dải đồng bằng ven biển này
- Vùng đồi núi: Sự phân hoá thiên nhiên theo hướng Đông - Tây ở vùng đồi núi rất phức tạp, chủ yếu do tác động của
gió mùa với hướng của các dãy núi; Biểu hiện của sự khác biệt đó là mùa đông lạnh đến sớm ở vùng núi thấp Đông Bắc; còn ở
vùng núi thấp Tây Bắc, mùa đông bớt lạnh nhưng khô hơn, mùa hạ đến sớm hơn, đôi khi có gió Tây, lượng mưa giảm. Khí
hậu vùng Tây Bắc lạnh chủ yếu do địa hình núi cao; Khi sườn Đông Trường Sơn đón nhận các luồng gió từ biển vào tạo nên
một mùa mưa vào thu đông, thì vùng Tây Nguyên lại là mùa khô, nhiều nơi khô hạn gay gắt, xuất hiện cảnh quan rừng thưa;
Vào mùa mưa ở Tây Nguyên thì bên sườn Đông lại chịu tác động của gió Tây khô nóng
c. Thiên nhiên phân hoá theo độ cao. Theo độ cao, ở nước ta có 3 đai:
- Đai nhiệt đới gió mùa chân núi (độ cao TB < 600 - 700m): Khí hậu nhiệt đới biểu hiện rõ rệt ở nền nhiệt cao, mùa
hạ nóng (nhiệt độ TB > 25
0
C). Độ ẩm thay đổi tùy nơi: từ khô, hơi khô, hơi ẩm đến ẩm; Đất: trong đai này có 2 nhóm đất
(nhóm đất đồng bằng chiếm gần 24%, nhóm đất feralit vùng đồi núi thấp chiếm > 60% diện tích đất tự nhiên): Nhóm đất đồng
bằng bao gồm: Đất phù sa (3,4 triệu ha), tốt nhất là loại đất phù sa ngọt. Đất phèn (2,0 triệu ha). Đất mặn (0,74 triệu ha), đất

trưng nhất trong cấu trúc sơn văn của vùng). Địa hình đá vôi khá phổ biến. Hướng nghiêng chung là tây bắc - đông nam với
các bề mặt địa hình thấp dần ra biển và sự hợp lưu của các dòng chảy sông lớn khiến cho đồng bằng mở rộng ra. Địa hình bờ
biển đa dạng: nơi thấp phẳng, nơi nhiều vịnh, đảo, quần đảo. Vùng biển đáy nông, lặng gió (vẫn có vịnh nước sâu) thuận lợi
cho phát triển kinh tế biển. Tài nguyên khoáng sản (giàu than, vật liệu xây dựng, sắt, thiếc, vonfram, chì, kẽm ) Vùng thềm
vịnh Bắc Bộ có bể dầu khí S.Hồng. Sự xâm nhập mạnh của gió mùa Đông Bắc tạo nên mùa đông lạnh; Đặc điểm này được thể
hiện ở sự hạ thấp đai cao cận nhiệt đới (với nhiều loài cây phương Bắc) và sự thay đổi cảnh quan thiên nhiên theo mùa. Sự bất
thường của nhịp điệu mùa khí hậu, của dòng chảy sông ngòi và tính bất ổn định cao của thời tiết là những trở ngại lớn trong
quá trình sử dụng tự nhiên của miền
b. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Phạm vi: Từ hữu ngạn sông Hồng đến dãy Bạch Mã. Đặc điểm chung cơ bản của
miền có mối quan hệ với Vân Nam (Trung Quốc) về cấu trúc địa chất - kiến tạo và sự suy yếu, giảm sút ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc; Đặc điểm này được thể hiện ở hướng tây bắc - đông nam của các hệ thống núi và dòng chảy; ở địa hình núi
cao, trung bình chiếm ưu thế và ở tính chất nhiệt đới tăng dần với sự có mặt của thành phần thực vật phương Nam. Đây là
miền duy nhất ở nước ta có địa hình núi cao với đầy đủ 3 đai cao. Địa hình núi chiếm ưu thế, trong vùng có nhiều bề mặt sơn
nguyên, cao nguyên, nhiều lòng chảo và thung lũng rộng, thuận lợi cho chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp, phát
triển nông - lâm kết hợp. Các dãy núi ăn lan ra biển và hình thế đổ nghiêng của dải Trường Sơn đã thu hẹp dần diện tích đồng
bằng. Đoạn từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân, ven biển có nhiều cồn cát, nhiều bãi tắm đẹp, nhiều cửa sông thuận lợi cho phát
triển các ngành kinh tế biển. Vai trò bức chắn dãy Trường Sơn với 2 mùa gió nghịch hướng đông bắc và tây nam đã làm cho
mùa mưa chậm dần sang thu đông và hình thành thời tiết gió Tây khô nóng ở đồng bằng B.Trung Bộ vào mùa hạ. Rừng còn
18
tương đối nhiều ở Nghệ An, Hà Tĩnh (sau Tây Nguyên). Khoáng sản có sắt, thiếc, crôm, titan, vật liệu xây dựng Bão, lũ,
trượt lở đất, hạn hán là những thiên tai thường xuyên xảy ra trong miền.
c. Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Phạm vi từ dãy núi Bạch Mã trở vào. Miền này có cấu trúc địa chất - địa hình
khá phức tạp, gồm các khối núi cổ, các bề mặt sơn nguyên bóc mòn và bề mặt cao nguyên đất đỏ ba dan, đồng bằng châu thổ
rộng lớn ở Nam Bộ và các đồng bằng nhỏ hẹp ven biển. Sự tương phản về địa hình, khí hậu, thủy văn giữa 2 sườn Đông - Tây
của vùng biểu hiện rõ rệt. Bờ biển khúc khủy, nhiều vịnh được che chắn bởi các đảo ven bờ. Khí hậu của miền có đặc điểm
chung là khí hậu cận xích đạo gió mùa; Điều này được thể hiện ở nền nhiệt cao, biên độ nhiệt trong năm nhỏ và khí hậu có 2
mùa mưa - khô rõ rệt. Khí hậu thuận lợi cho sự phát triển rừng cây họ dầu với các loài thú lớn như voi, hổ, bò rừng, trâu rừng
(trước đây có cả tê giác và bò tót ở Tây Nguyên). Ven biển phát triển rừng ngập mặn với các loài trăn, rắn, cá sấu đầm lầy, các
loài chim tiêu biểu của vùng ven biển nhiệt đới, xích đạo. Dưới nước giàu cá, tôm. Vùng thềm lục địa có trữ lượng dầu khí
lớn. Tây Nguyên giàu quặng bôxit. Xói mòn, rửa trôi ở vùng đồi núi, lũ lụt trên diện rộng ở đồng bằng Nam Bộ và ở hạ lưu

10,0 triệu ha, đến 2005 chỉ còn 5,35 triệu ha). Tuy nhiên, diện tích đất đai bị suy thoái vẫn còn lớn (cả nước còn 9,3 triệu ha
đất bị đe dọa sa mạc hóa - 28% diện tích)
- Các biện pháp bảo vệ đất:
+ Đối với vùng đồi núi: Để chống xói mòn trên đất dốc phải áp dụng tổng thể các biện pháp thủy lợi-canh tác như
làm ruộng bậc thang, đào hồ vẩy cá, trồng cây theo băng. Cải tạo đất hoang, đồi trọc bằng các biện pháp nông-lâm kết hợp.
Bảo vệ đất gắn với bảo vệ rừng, giữ nguồn nước. Thực hiện nghiêm ngặt các qui định về bảo vệ rừng, tổ chức định canh cho
dân miền núi.
+ Đối với vùng đồng bằng: Do đất nông nghiệp ít, cần có biện pháp quản lí chặt và có kế hoạch mở rộng diện tích.
Đẩy mạnh thâm canh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cần canh tác hợp lí; Chống bạc màu, glây, nhiễm phèn, nhiễm mặn; Bón
phân cải tạo đất thích hợp; Chống ô nhiễm làm thoái hóa đất (do hóa chất, thuốc trừ sâu, nước thải công nghiệp chứa chất độc
hại, chất bẩn chứa nhiều vi khuẩn độc hại cho cây trồng)
● Sử dụng và bảo vệ các tài nguyên khác
- Tài nguyên nước.
+ Tình hình sử dụng: tình trạng dư thừa nước gây lũ lụt vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô là 2 vấn đề quan
trọng nhất trong việc sử dụng nguồn tài nguyên này. Do vậy, cần sử dụng có hiệu quả, đảm bảo cân bằng nước, chống gây ô
nhiễm nguồn nước.
+ Các biện pháp bảo vệ: Ngoài các biện pháp xây dựng các công trình chứa nước, xây cống thoát lũ, cấp nước, cần
trồng cây tăng độ che phủ, canh tác đúng kĩ thuật trên đất dốc để giữ nước vào mùa mưa, tăng lượng thấm vào mùa khô. Xử lí
hành chính với các cơ sở sản xuất, dịch vụ, dân cư không thực hiện đúng qui định về nước thải nhằm ngăn chặn nguồn gây ô
nhiễm. Tuyên truyền người dân không xả nước bẩn, rác thải vào sông, hồ
- Tài nguyên khoáng sản. Nước ta có ~ 3500 mỏ khoáng sản, nhưng phần lớn là mỏ nhỏ, phân tán nên khó khăn trong
quản lí khai thác. Hiện nay ở nhiều nơi khai thác khoáng sản bừa bãi, không phép, gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi
19
trường. Các biện pháp bảo vệ: Quản lí chặt việc khai thác. Tránh lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường từ khâu khai
thác - vận chuyển - chế biến. Xử lí những trường hợp vi phạm luật
- Tài nguyên du lịch. Tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra ở nhiều điểm du lịch khiến cho cảnh quan du lịch bị suy
thoái. Cần bảo tồn, tôn tạo giá trị tài nguyên du lịch và bảo vệ môi trường du lịch khỏi bị ô nhiễm, phát triển du lịch sinh thái
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác: như khí hậu (nhiệt, nắng, gió, không khí), tài nguyên biển cũng cần được
khai thác, sử dụng hợp lí và bảo vệ để phát triển bền vững
b. Bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trường gắn với sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên - đạt hiệu quả kinh tế cao -

lược bảo vệ toàn cầu (WSC) do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN) đề xuất. Chiến lược đảm bảo sự bảo vệ đi đôi
với sự phát triển bền vững.
Các nhiệm vụ chiến lược là: Duy trì các quá trình sinh thái chủ yếu và các hệ thống sống có ý nghĩa quyết định đến
đời sống con người. Đảm bảo sự giàu có của đất nước về vốn gen, các loài nuôi trồng cũng như các loài hoang dại, có liên
quan đến lợi ích lâu dài của nhân dân Việt Nam và cả nhân loại. Đảm bảo việc sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, điều khiển và sử dụng trong giới hạn có thể phục hồi được. Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với yêu cầu về đời
sống con người. Phấn đấu đạt trạng thái ổn định về dân số ở mức cân bằng với khả năng sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
- Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, ngày 10/01/1994 Nhà nước ban hành Luật Bảo vệ môi trường (1993) và Luật
Bảo vệ môi trường (sửa đổi 01/07/2006): Luật nêu rõ mục tiêu nhằm phòng chống, khắc phục sự suy thoái môi trường, ô
nhiễm môi trường, sự cố môi trường để đảm bảo một môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất
nước, góp phần bảo vệ môi trường của khu vực và toàn cầu. Luật qui định rõ sự thống nhất quản lí của Nhà nước về bảo vệ
môi trường, trách nhiệm thi hành của tổ chức, cá nhân, qui định khen thưởng và xử lí vi phạm đối với tổ chức, cá nhân
e. Một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống
● Bão.
Hoạt động của bão ở Việt Nam: Trên toàn quốc, mùa bão từ tháng 6 - 11, đôi khi có bão sớm từ tháng 5 và muộn
sang tháng 12 (nhưng cường độ yếu), bão dịch dần từ Bắc vào Nam, tập trung nhiều nhất vào 3 tháng (8, 9 và 10); 3 tháng này
chiếm 70% số cơn bão toàn mùa – nhiều nhất là vào tháng 9. Vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là dải đồng bằng ven biển
miền Trung. Trung bình mỗi năm có 3 – 4 cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển nước ta (có năm 8 – 10 cơn bão). Nếu tính số cơn
bão có ảnh hưởng đến thời tiết nước ta thì còn nhiều hơn; trung bình trong 45 năm trở lại đây, mỗi năm có gần 8,8 cơn bão.
Hậu quả của bão: Ở vùng tâm bão có gió mạnh kèm theo mưa lớn (lượng mưa do 1 trận bão gây ra ~ 300 – 400mm,
có khi đến > 500 – 600mm). Bão đổ bộ vào bbồng bằng Bắc Bộ có diện mưa bão rộng nhất. Vùng ven biển miền Trung có
diện mưa hẹp hơn, nhưng lượng mưa bão rất lớn (chiếm 1/3 lượng mưa cả năm của vùng). Trên biển, bão gây ra sóng to dâng
cao 9 – 10m có thể lật úp tàu thuyền. Gió bão làm mực nước biển dâng cao (1,5 – 2,0m) gây ngập mặn vùng đồng bằng ven
biển. Nước dâng tràn đê kết hợp nước lũ do mưa lớn trên nguồn dồn về làm ngập trên diện rộng. Bão lớn, gió giật mạnh đổi
chiều tàn phá cả những công trình vững chắc như nhà cửa, công sở, cầu cống, cột điện cao thế… bão là một thiên tai gây tác
hại rất lớn cho sản xuất và đời sống nhân dân (nhất là vùng ven biển).
Phòng chống: Ngày nay, nhờ vào các thiết bị vệ tinh khí tượng, chúng ta đã dự báo được khá chính xác về quá trình
hình thành và hướng di chuyển của bão. Việc phòng tránh là hết sức quan trọng. Để tránh thiệt hại do bão gây ra, khi đi trên
biển các tàu thuyền phải gấp rút tránh xa vùng trung tâm bão, trở về đất liền. Vùng ven biển cần củng cố công trình đê biển.
Nếu có báo cần khẩn trương sơ tán dân. Chống bão phải luôn kết hợp với chống lụt, úng ở đồng bằng và chống lũ, chống xói

Năm 1959, trong cuốn "Các dân tộc Việt Nam" của tác giả Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mai Văn Trí, Ngọc Anh,
Mạc Như Đường, thì nước ta có 64 dân tộc (trong đó, 63 dân tộc thuộc 3 ngữ hệ: Hán-Tạng, Môn-Khơme và Malayô-
Pôlinêđiêng.
Năm 1974, một danh mục khác tương đối hoàn chỉnh về thành phần dân tộc Việt Nam, gồm 59 dân tộc thuộc ba hệ
ngôn ngữ: Nam Á, Hán-Tạng và Malayô-Pôlinêđiêng (ở đây hệ Môn-Khơme được thay bằng hệ Nam Á).
Năm 1979, để chuẩn bị cho tổng điều tra dân số, Tổng cục Thống kê, dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà khoa
học đã đưa ra danh mục thành phần DT VN gồm 54 dân tộc. Đến nay chưa có bản danh mục mới.
Theo các nhà Dân tộc học thì thành phần các tộc người không phải là bất biến. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự thay
đổi về thành phần dân tộc, nhưng ở đây cần chú ý đặc biệt đến các quá trình tộc người (cố kết, đồng hóa, hoặc phân ly).
Ở Việt Nam, vào ~ 30 năm trước đây, người ta hay nói đến quá trình kết hợp, cố kết tộc người hay sự xích lại gần
nhau giữa các dân tộc, thì hiện nay đang có xu hướng các nhóm địa phương của một số dân tộc muốn tách thành những tộc
riêng.
2.1.2. Các tộc người của Việt Nam xếp theo dòng ngôn ngữ
▪ Dòng Nam Á. Có 5 nhóm ngôn ngữ khác nhau, đó là:
- Ngôn ngữ Việt- Mường: Việt (kinh), Mường, Thổ, Chứt.
- Ngôn ngữ Môn-Khơ Me: Khơ Me, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, M’nông, Xtriêng, Bru-Vân Kiều, Cơ Tu, Giẻtriêng,
Mạ, Khơ Mú, Co, Tà Ôi, Chơ Ro, Kháng, Xinh Mun, Mảng, Brâu, Ơ Đu, Rơ Măm.
- Ngôn ngữ Tày-Thái: Tày, Thái, Nùng, Sán Chay (Cao Lan-Sán Chỉ),
Giáy, Lào, Lự, Bố Y.
- Ngôn ngữ Mèo-Dao: Mông (Mèo), Dao, Pa Thẻn.
- Ngôn ngữ Ka Đai: La Chỉ, La Ha, Cơ lao, Pu Péo.
▪ Dòng Nam-Đảo. Có 1 nhóm ngôn ngữ : Ngôn ngữ Malayô-Pôlinêđiêng (Gia Rai, Ê Đê, Chăm, Raglai, Chu Ru).
▪ Dòng Hán-Tạng. Có 2 nhóm ngôn ngữ chính: Ngôn ngữ Hán (Hoa (Hán), Ngái, Sán Dìu). Ngôn ngữ Tạng-Miến:
(Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Lô Lô, Cống, Si la).
Bảng 2.1. Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam năm 1999.

số
Tên dân tộc Các tên gọi khác
S.Lg
1000ng

Xuồng, Giàng, Nùng An, Phàn Sinh, Nùng
Cháo, Nùng Lòi, Quí Rim, Khèn Lài
706,6
C.Bằng, L.Sơn, B.Thái, Hà Tuyên, Hà
Bắc, H.liên sơn, Q.Ninh, TP HCM,
L.Đồng.
08
HMông
(Mèo)
Mẹo, Hoa, Mèo Xanh, Mèo Ðỏ, Mèo Ðen, Ná
mẻo, Mán trắng.
560,0
Hà Tuyên, Hoàng LiênSơn, Lai Châu,
Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Nghệ
Tĩnh.
09 Dao
Mán, Ðộng, Trại, Xá, Dìu, Miên, Kiềm,
Miền, Quần Trắng, Dao Ðỏ, Quần Chẹt, Lô
Giang, Dao Tiền, Thanh Y, Lan Tẻn, Ðại
Bản, Tiểu Bản,Cóc Ngáng, Cóc Mùn, Sơn
Ðầu.
480,0
Hà Tuyên, H.Liên Sơn, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Bắc Thái, Lai Châu, Sơn La,
Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Hà Bắc,
Thanh Hoá, Quảng Ninh.
10 Gia- Rai
Giơ-Rai, Tơ-buăn, Chơ Rai, Hơ-bau, Hđrung,
Chor
245,0 Gia Lai, Kôn Tum.

Bình, Phú Khánh.
16 Xơ - Ðăng
Xơteng, Hđang, Tơ-đra, Mơ Nâm, Ha Lăng,
Ca dong, Con Lan, Bri La, Tang.
98,0
Gia Lai, Kôn Tum, Quảng Nam, Ðà
Nẵng
17 Sán Dìu Sán dẻo, Trại, Trại Ðất, Mán, Quần Cộc 95,0
Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Quảng
Ninh, Hà Tuyên.
18 Hrê Chăm Rê, Chom, Kre Luỹ. 95,0 Nghĩa Bình
19 Ra- glai Ra clây, rai, Noang, La Oang 72,0 Thuận Hải, Phú Khánh
20 Mnông
Pnông, Nông, Pré, Bu đâng, Ðỉpi, Biat, Gar,
Rơ-Lam, Chil(3)
68,0 Ðắc Lắc, Lâm Ðồng, Sông Bé
21 Thổ (4)
Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Ðan Lai, Ly Hà, Tày
Pọng, Con Kha, Xá Lá, Vàng (5)
51,0 Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá
22 Xtiêng Xa Ðiêng 50,0 Sông Bé, Tây Ninh
23 Khơ-Mú
Xaá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thêng, Tềnh, Tày
Hay.
43,0
Nghệ Tĩnh, Sơn La, Lai Châu, Hoàng
Liên Sơn
24 Bru-VânKiều Bru, Vân Kiều, Măng Coong, Tri Khùa. 40,0 Bình Trị Thiên
25 Giáy
Nhắng, Dẩng, Pầu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu (6),

42 Lô Lô Mun Di 3,0 C.Bằng, Lạng Sơn, Hà Tuyên.
43 Chứt
Sách, Máy, Rục, Mã Liêng, A rem, Tu Vang,
Pa Leng, Xơ Lang, Tơ hung, Chà củi, U Mo,
Xá Lá Vàng
2,4 Bình Trị Thiên
44 Mảng Mảng Ư , Xá Lá vàng 2,2 Lai Châu
45 Cơ Lao 1,5 Hà Tuyên
46 Bố Y Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Di, Tu Din 1,5 Hoàng Liên Sơn , Hà Tuyên
47 La Ha Xá Khao, Khlá Phlạo 1,4 Lai Châu, Sơn La
48 Cống Xắm Khống, Mấng Nhé, Xá Xeng 1,3 Lai Châu
49 Ngái Xín, Lê, Ðản, Khánh Gia. 1,2 Q.Ninh,Cao Bằng, Lạng Sơn.
50 Si La Cuù Dề Xừ, Khả pẻ 0,6 Lai Châu
51 Pu Péo Ka pèo, Pen Ti Lô Lô 0,4 Hà Tuyên
52 Rơ măm 0,23 Gia Lai, Kôn Tum.
53 Brâu Brao 0,2 Gia Lai, Kôn Tum.
54 Ơ Ðu Tày Hạt 0,2 Nghệ Tĩnh
55 Người nước ngoài
Chú Thích
(1) Là tên người Thái chỉ người Mường
(2) Mđhur là một nhóm trung gian giữa người Ê-đê và Gia-rai. Có một số làng Mđhur nằm trong địa phận của tỉnh
Gia Lai, Kon Tum và Cheo Reo, tiếp cận với người Gia-rai, nay đã tự báo là người Gia-rai.
(3) Chil là một nhóm địa phương của dân tộc Mnông. Một bộ phận lớn người Chil di cư xuống phía Nam, cu trú lẫn
với người Cơ-Ho, nay đã tự báo là Cơ-Ho. Còn bộ phận ở lại quê hương cũ, gắn với người Mnông, vẫn tự báo là người
Mnông.
(4) Thổ đây là tên tự gọi, khác với tên Thổ trước kia dùng để chỉ nhóm Tày ở Việt Bắc, nhóm Thái ở Ðà Bắc và nhóm
Khơ-Me ở đồng bằng sông Cửu Long.
(5) Xá Lá Vàng: Tên chỉ nhiều dân tộc sống du cư ở vùng biên giới.
(6) Cùi chu ( Quý Châu) có bộ phận ở Bảo Lạc ( Cao bằng) sống xen kẽ với người nùng, được xếp vào người nùng.
(7) Ca Tang: Tên gọi chung nhiều nhóm người ở miền núi Quảng Nam- Ðà nẵng, trong vùng tiếp giáp với Lào. Cần

nổi tiếng. Người Việt có kinh nghiệm thâm canh lúa nước, có các nghề thủ công rất tinh xảo, có truyền thống làm nghề sông,
khai thác các nguồn lợi trên các đảo xa ở Biển Đông. Người Việt có khả năng tiếp thu nhanh những tiến bộ của khoa học – kĩ
thuật mới. Trong lịch sử, từ Đồng bằng sông Hồng người Việt đã tiến ra các vùng xung quanh lên miền núi – trung du phía
23
Bắc, dọc theo dải đồng bằng duyên hải mà tiến về phía Nam (kể cả Trường Sơn-Tây Nguyên). Khi di chuyển, họ "gánh" cả tên
làng cùng phong tục tập quán lên các vùng đất mới. Người Việt có mặt trong hầu hết 64 tỉnh, Tp cả nước. Chỉ có 8 tỉnh, tỉ lệ
người Việt dưới 50% là Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, Lào Cai và Kon Tum.
c. Các dân tộc ít người ở miền núi phía Bắc
● Thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường:
- Người Mường: ~ 914.500 người (1,4% cả nước). Địa bàn cư trú ở giữa vùng người Kinh (phía đông) và người Thái
(phía tây) của các tỉnh ở Tây Bắc, Yên Bái đến bắc tỉnh Nghệ An, đông nhất ở Hòa Bình. Hiện nay người Mường còn có mặt ở
Đắc Lắc và Đồng Nai. Người Mường và người Kinh đều là con cháu của người Việt cổ. Văn hoá Mường có những nét cơ bản
giống người Việt cổ, nhưng cũng có nét giống người Thái. Người Mường có nền văn hóa nổi tiếng "Văn hóa Hòa Bình" với
nghề trồng lúa cách đây trên 7.000 năm. Người Mường sống định canh, làm ruộng, chăn nuôi, và có nghề thủ công rất tinh xảo
(rèn, dệt, chế tạo công cụ), săn bắn và đánh cá.
- Người Thổ: ~ 51.000 người. Cư trú chủ yếu ở Nghệ An và Thanh Hóa. Xét về nguồn gốc và các đặc điểm trong sinh
hoạt VH có thể cho rằng, người Thổ là kết quả của sự tiếp xúc hỗn hợp giữa người Kinh và Mường (nhưng trên thực tế họ đã
hình thành một cộng đồng riêng).
- Người Chứt ~ 2.400 người. Sống chủ yếu ở Tây Bắc tỉnh Quảng Bình và Nam Hà Tĩnh.
● Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.
- Người Tày. ~ 1,2 triệu người (1,85%), là một dân tộc có mặt lâu đời trên đất nước ta, có mặt trong khắp các tỉnh, TP
cả nước, nhưng đông nhất là ở Cao - Bắc - Lạng – Hà – Tuyên - Thái đến Yên Bái, Lào Cai, (hiện nay cũng có khoảng vài
chục ngàn người ở Tây Nguyên và ĐNBộ). Người Tày ở nhà sàn, tập trung thành bản ở chân núi, hay vùng đất ven sông, suối,
trên các cánh đồng, có kinh nghiệm trồng lúa nước, trồng màu (ngô, đậu, lạc), cây công nghiệp (chè, quế, hồi, trẩu, sở); Có
kinh nghiệm làm nghề rừng và các nghề thủ công (đan lát, dệt thổ cẩm, dệt vải )
- Người Thái. ~ 1.040.000 người (1,6%), vào Việt Nam ~ thế kỷ IX (sau công nguyên). Địa bàn cư trú từ hữu ngạn
sông Hồng đến thượng du Nghệ An, đông nhất ở các tỉnh Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hòa
Bình. Ở Tây Nguyên hiện nay có vài ngàn người. Người Thái lại chia ra Thái trắng (chủ yếu ở Lai Châu và các huyện Mộc
Châu, Phù Yên (Sơn La) và Thái đen (chủ yếu ở Lào Cai, Sơn La và một phần tỉnh Lai Châu). Người Thái ở nhà sàn, sống
thành bản (vài chục nóc nhà) ở các thung lũng màu mỡ ven sông suối (nhất là ở các cánh đồng rộng giữa núi như Mường

nhiều nhóm địa phương cư trú xen kẽ với các cư dân khác.
- Thuộc nhóm này ở các tỉnh P.Bắc có: người Khơ Mú (4,3 vạn người), Xinh Mun (1,10 vạn người), Kháng (4.000
người), La Ha và Mảng (1.400 và 2.200 người). Ở Lào, người Khơ Mú chiếm 1/3 số dân, sang Việt Nam vào khoảng 200 năm
gần đây, đông nhất ở 2 huyện Kỳ Sơn và Tương Dương (Nghệ An), một ít sống ở vùng Tây Bắc, họ còn sống du canh, du cư.
- Một số cộng đồng thuộc dòng Nam Á (Môn - Khơ Me) khác là La Chí (8.000 người), Pu Péo (400 người), Cơ Lao
(1.500 người) số lượng rất ít.
● Các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tạng - Miến. Cư dân này cư trú ở Tây Bắc Trung Quốc, đến khoảng thiên niên kỷ II
(sau công nguyên) họ di dần xuống vùng Vân Nam (Trung Quốc) và sang Việt Nam cách đây ~ 300-400 năm. Thuộc nhóm
24
này có các tộc người Hà Nhì, Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống, Si la. Họ cư trú thành các bản riêng dọc biên giới Việt - Trung và
Việt - Lào. Hiện nay vẫn tiếp tục di sang Việt Nam thành từng nhóm, từng đợt (có trường hợp lại trở về Trung Quốc, nó phụ
thuộc vào tình hình an ninh, vào việc kiếm sống). Do tình trạng du canh, du cư lại ở vùng ba biên giới nên họ có quan hệ họ
hàng thân tộc rất gần gũi với nhau ở trong vùng.
● Các dân tộc thuộc ngôn ngữ Hán. Dân số ~ 1,0 triệu người.
- Người Hoa. Đa phần từ P.Nam Trung Quốc sang Việt Nam và có mặt ở hầu hết các tỉnh, TP nước ta; sau cuộc di cư
lớn cuối thập kỷ 70 đầu 80 địa bàn cư trú có thu hẹp lại. Hiện nay đông nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Sóc Trăng,
Kiên Giang.
- Người Sán Dìu và người Ngái. (~ 95.000 & 1.200 người), đến Việt Nam cách đây ~ 300 năm, sống ở vùng bán sơn
địa nơi chuyển tiếp từ trung du lên miền núi, tập trung ở tả ngạn sông Hồng về phía đông. Người Ngái sống phân tán ở Bắc
Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh.
d. Các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Nam
● Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me.
- Người Khơme ~ 1,0 triệu người (1.4%). Cư trú đông nhất ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, sống bằng
nghề nông, theo đạo Phật (tiểu thừa), có nền văn hóa rất phong phú.
- Nhóm cư dân quan trọng nhất thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ me là ngành Ba Na; ngành này lại chia thành 2 phân
ngành: phân ngành Ba Na Bắc (Giétriêng, Xơ Đăng, Ba Na, Co, Hrê, Brâu, Rơ Măm); phân ngành Ba Na Nam (Cơ Ho, Mạ,
M’nông, Xtriêng, Chơ Ro).
+ Người Ba Na khoảng 14,0 vạn người, đông thứ 3 trong các dân tộc ít người ở Tây Nguyên (sau Gia Rai, Ê Đê). Cư
dân này có nhiều nhóm địa phương, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum và một ít ở Bình Định, Phú Yên.
+ Người Xơ Đăng: 9,8 vạn người. Cư trú chủ yếu ở Kon Tum và tây nam tỉnh Quảng Nam, miền tây Quảng Ngãi. Ở

tế; bởi tính chất của việc phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ. Dân cư là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất
trong xã hội, đồng thời lại tiêu thụ ngay chính sản phẩm mà họ làm ra. Như vậy, về phương diện kinh tế, dân cư vừa là người
sản xuất vừa là người tiêu thụ.
b. Số dân và sự gia tăng dân số.
Diện tích đất tự nhiên của nước ta xếp thứ 56/200 quốc gia trên thế giới, nhưng dân số lại đứng thứ 14 (2003), đến
năm 2005 xếp thứ 13 (đứng trên CHLB Đức).
Dân số nước ta tăng khá nhanh. Năm 1921 dân số Việt Nam 15,6 triệu người, đến 1960 (40 năm sau) dân số tăng gấp
đôi (30,0 triệu người), từ 1960-1985 (25 năm) lại tăng gấp đôi (60,0 triệu người). Năm 2008, dân số của Việt Nam tăng lên
trên 86,0 triệu người.
Bùng nổ dân số ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 50, đạt cực đại vào cuối thập kỷ 70 đầu 80, sau đó giảm dần và đi
vào ổn định sẽ từ năm 2000 - 2005 trở đi. Việt Nam đang ở giai đoạn giữa của quá trình quá độ dân số (tỉ suất sinh đang giảm
nhưng còn ở mức cao, tỉ suất tử giảm nhanh ở mức thấp, do vậy gia tăng dân số tự nhiên vẫn còn cao).
Bảng 2.2. Dân số một số quốc gia trên thế giới năm 2003, 2005 và dự kiến đến 2015.
TT Tên nước Dân số (Triệu người) Tỉ suất GTDS Tổng TSS/1 phụ nữ
25

Trích đoạn Kết cấu dân số theo tuổi. Về Giáo dục Bảng 2.33 Tỉ lệ dân thành thị của các vùng lãnh thổ từ 1995 – 2005 (%) 199519971999 2001 2003 Khái niệm về đô thị hóa và quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status