Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam - phần 1 - Pdf 18

ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 1
(Các nguồn lực)
MỞ ĐẦU
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC
1. Công cuộc đổi mới - cuộc cải cách toàn diện về kinh tế - xã hội
- Bối cảnh. 30/04/1975: đất nước thống nhất, cả nước tập trung vào hàn gắn vết thương
chiến tranh, xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh.
Bối cảnh trong nước và quốc tế vào cuối những năm 70 đầu 80 của thế kỉ XX diễn biến phức
tạp Tất cả những điều này đã đưa nền kinh tế nước ta sau chiến tranh rơi vào tình trạng khủng
hoảng kéo dài, lạm phát luôn ở mức 3 con số
- Diễn biến. Công cuộc đổi mới được manh nha từ 1979, những đổi mới đầu tiên từ lĩnh
vực nông nghiệp với “khoán 100” và “khoán 10”, sau đó lan sang lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ. Đường lối Đổi mới được khẳng định từ Đại hội Đảng CSVN lần thứ VI (1986), đưa nền kinh
tế nước ta phát triển theo 3 xu thế: Dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội; Phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần; Tăng cường giao lưu và hợp tác với các nước trên thế giới
- Những thành tựu của công cuộc Đổi mới. Tính đến năm 2006, công cuộc đổi mới đã
qua chặng đường 20 năm. Thành tựu đã đạt được: (▪) Đã đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng kinh tế - xã hội kéo dài. Lạm phát được đẩy lùi chỉ còn ở mức 2 con số. (▪) Tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao: Cụ thể, vào thời kì từ 1975 – 1980 tốc độ tăng GDP chỉ đạt (0,2%), năm 1988
(0,6%), năm 1995 (9,5%); Vào cuối 1997, mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài
chính ở khu vực, nhưng năm 1999 tốc độ tăng GDP vẫn đạt 4,8%, năm 2005 tăng lên 8,4%. Nếu
tính trong 10 nước ASEAN, giai đoạn 1987 – 2004 thì GDP của Việt Nam là 6,9%, chỉ sau
Xingapo (7,0%). (▪) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa:
Cho tới đầu thập kỉ 90 (TK 20), trong cơ cấu GDP thì nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất, công
nghiệp – xây dựng chiếm tỉ trọng nhỏ, 1990: nông-lâm- ngư (38,74%), công nghiệp – xây dựng
(22,67%), Dịch vụ (38,95%), đến 2008 tỉ trọng này là 22,10%, 39,73% và 38,17%. (▪) Cơ cấu
kinh tế theo lãnh thổ cũng có chuyển biến rõ nét: Đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm;
phát triển các vùng chuyên canh qui mô lớn; các trung tâm công nghiệp và dịch vụ lớn. Ở vùng
sâu, vùng xa, vùng núi và biên giới, hải đảo cũng được ưu tiên phát triển.(▪) Về xã hội: Công tác
xoá đói giảm nghèo đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống vật chất – tinh thần của nhân

Kinh tế ngoài Nhà nước 53.52 50.45 49.03 47.84 46.45 45.61 46.11 46.97
+ Kinh tế tập thể 10.06 8.91 8.84 8.06 7.49 6.81 6.21 6.02
+ Kinh tế tư nhân 7.44 7.22 7.26 7.95 8.23 8.89 10.18 10.81
+ Kinh tế cá thể 36.02 34.32 32.93 31.84 30.73 29.91 29.72 30.14
Kinh tế có vồn ĐTNN 6.30 9.07 12.24 13.76 14.47 15.99 17.96 18.68
3. Một số định hướng
- Thực hiện chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
- Hoàn thiện và thực hiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Đẩy mạnh hội nhập kinh tế để tăng tiềm lực kinh tế quốc gia
- Có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ tài nguyên – môi trường và phát triển bền vững
- Đẩy mạnh phát phát triển giáo dục, y tế, phát triển nền văn hóa mới, chống các tệ nạn xã
hội, mặt trái của kinh tế thị trường
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Bối cảnh quốc tế có ảnh hưởng như thế nào đến công cuộc đổi mới kinh tế đất nước.
2. Tại sao đổi mới toàn bộ nền kinh tế - xã hội là một yêu cầu cấp bách? Nội dung của
công cuộc đổi mới; Thành tựu và thách thức trong công cuộc đổi mới. Định hướng để đẩy mạnh
công cuộc đổi mới.
2
Chương 1.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ.
Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẤT NƯỚC
1.1.1. Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ
a. Trên đất liền
- Vị trí: Nước ta nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông Dương; phía Bắc giáp với Trung
Quốc; phía Tây giáp với Lào và Cămpuchia; phía Đông là biển Đông thông với Thái Bình Dương
rộng lớn.
- Toạ độ địa lý trên đất liền: Điểm cực Bắc 23

b. Trên biển
Việt Nam có vùng thềm lục địa rộng khoảng 1,0 triệu km
2
cùng hệ thống các đảo - quần
đảo; các đảo ven bờ (cách bờ ~100 km) có 2.773 đảo, diện tích 1720 km
2
; các đảo xa bờ gồm 2
quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) và Trường Sa (Khánh Hòa). Vùng biển nước ta bao gồm vùng nội
thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa. Biên giới trên
3
biển còn chưa được xác định đầy đủ; Việt Nam có hai vùng nước lịch sử (vịnh Bắc Bộ và vịnh
Thái Lan) cần phải đàm phán với các nước chung biển [Năm 2001, tại vùng vịnh Bắc Bộ, Việt
Nam đàm phán với Trung Quốc thỏa thuận phân chia chủ quyền vùng biển, mốc ranh giới lấy từ
đảo Cồn Cỏ cắt thẳng ra phía đảo Hải Nam, phần thuộc lãnh thổ Việt Nam có diện tích ~ 53%].
▪ Căn cứ vào Công ước Quốc tế về luật biển và Tuyên bố của Chính phủ nước
CHXHCNVN ngày 12/11/1982, có thể khẳng định một số điểm sau:
- Đường cơ sở (để xác định vùng nội thủy; lãnh hải; tiếp giáp lãnh hải). Được xác định
dựa trên cơ sở các điểm chuẩn của các mũi đất và các đảo ven bờ. Bên trong đường cơ sở là vùng
nội thủy, mặc dù ở trên biển nhưng vẫn được coi là lãnh thổ đất liền; Như vậy, diện tích lãnh thổ
nước ta (nếu tính từ đường cơ sở) rộng trên 560.000km
2
.
- Lãnh hải. Được xác định là 12 hải lý (1 hải lý = 1.858m) chạy song song cách đều
đường cơ sở về phía biển và đường phân định trên các vịnh với các nước hữu quan. Ranh giới
này được coi là biên giới quốc gia trên biển.
- Vùng tiếp giáp lãnh hải. Được tính 12 hải lý (tính từ mép ngoài đường lãnh hải). Vùng
này hợp với lãnh hải thành vùng biển rộng 24 hải lý. Việt Nam có quyền bảo vệ an ninh; kiểm
soát thuế quan; qui định về y tế, môi trường, di cư, nhập cư.
- Vùng đặc quyền kinh tế. Được xác định rộng 200 hải lý (tính từ mép ngoài đường cơ sở).
Việt Nam có quyền lợi hoàn toàn, riêng biệt về kinh tế như thăm dò, khai thác, bảo vệ, sử dụng

A
3
Hòn Tài Lớn, Côn Đảo – Bà Rịa – Vũng tàu 8
0
37'8 106
0
37'5’’
A
4
Hòn Bông Lang, Côn Đảo 8
0
38'9 106
0
40'3’’
A
5
Hòn Bảy Cạnh, Côn Đảo 8
0
39'7 106
0
42'1’’
A
6
Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quí, Bình Thuận) 9
0
58'0 109
0
05'0’’
A
7

10'0 107
0
20'0’’
(Riêng 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta chưa công bố đường cơ sở).
4
c. Vùng trời. Là khoảng không gian (không giới hạn độ cao) trên đất liền, vùng nội thuỷ,
lãnh hải và các hải đảo thuộc chủ quyền hoàn toàn của Việt Nam.
Đường bờ biển
Đường cơ sở
Giới hạn ngoàiCủa lãnh hải
Giới hạn ngoàiVùng tiếp giáp
PHẠM VI CÁC VÙNG BIỂN THEO
LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 1982
Giới hạn vùngĐặc quyền K.Tế
Mặt nước đại dương
Nội thủy
Lãnh hải12 hải lí
Vùng tiếp giáp 12 hải lí
Vùng đặc quyền kinh tế (200 hải lí)
Vùng thềm lục địa pháp lí theo Luật biển (1982)
1.1.2. Ý nghĩa của vị trí địa lí đối với tự nhiên, kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng
a. Đối với việc hình thành lãnh thổ tự nhiên
- Vị trí địa lí đã qui định đặc điểm cơ bản của thiên nhiên nước ta mang tính chất nhiệt
đới ẩm gió mùa: Do nằm hoàn toàn trong vùng nội chí tuyến Bắc Bán Cầu nóng ẩm, ở giữa vùng
gió mùa châu Á (khu vực gió điển hình nhất trên thế giới) khí hậu nước ta có 2 mùa rõ rệt: mùa
Đông bớt nóng và khô và mùa Hạ nóng và mưa nhiều. Do ở vị trí tiếp giáp với Biển Đông, đây là
nguồn dự trữ rất dồi dào về nhiệt và ẩm, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, vì thế
thảm thực vật ở nước ta quanh năm xanh tốt, giàu sức sống khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ
(Tây Nam Á và châu Phi)
- Tài nguyên: Do nằm ở vị trí tiếp giáp giữa lục địa và đại dương trên vành đai sinh

ở khu vực Đông Nam Á: Do nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam Á (lục địa) và Đông Nam Á
(hải đảo), một khu vực giàu tài nguyên, một thị trường có sức mua đang tăng, một vùng kinh tế
rất năng động. Như vậy, đây là nơi rất hấp dẫn với các thế lực đế quốc thù địch, mặt khác đây
cũng là khu vực rất nhạy cảm trước những biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới.
- Trên đất liền: Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra trên đất liền Việt Nam có đường
biên giới rất dài với các nước láng giềng (4500km): Dọc biên biên giới với Trung Quốc và Lào
núi liền núi, sông liền sông, không có những trở ngại lớn về tự nhiên, (ngược lại) có các thung
lũng, đèo thấp thông với các nước láng giềng; Với Cămpuchia, không có biên giới tự nhiên, mà là
châu thổ mênh mông trải dài từ Cà Mau đến tận Biển Hồ (việc xác định mốc biên giới giữa hai
nước còn là vấn đề cần đàm phán để thống nhất).
- Trên vùng biển: Vấn đề an ninh – quốc phòng còn đặt ra với đường biên giới trên biển:
Bờ biển nước ta dài (3260km), giáp với rất nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Inđônêxia,
Malaixia, Philipin, Brunây, Xingapo, Thái Lan, Cămpuchia. Biển Đông rất giàu tài nguyên tôm,
cá, Thềm lục địa rất giàu tài nguyên khoáng sản (dầu khí ), lại án ngữ đường biển quốc tế nối
hai đại dương lớn Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương. Vì vậy, biển Đông có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với nước ta về mặt chiến lược đối với kinh tế, an ninh – quốc phòng.
● Như vậy, vị trí địa lý nước ta có nét khá độc đáo so với các nước trong khu vực. Đó là:
Nằm ở nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, của nhiều nền văn hoá lớn trên thế giới
6
và các luồng di cư trong lịch sử; Ở vị trí cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải
đảo. Điều đó đã làm cho thiên nhiên nước ta trở nên đa dạng và phong phú mà nhiều nơi trên thế
giới không có được; Cũng tại khu vực này trong chiến tranh (nóng - lạnh) còn là nơi tập trung
nhiều mâu thuẫn lớn, trong xây dựng lại là nơi hội tụ nhiều cơ hội phát triển.
1.2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LÃNH THỔ VIỆT NAM
Lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ nước ta có liên quan chặt chẽ với lịch sử hình
thành và phát triển Trái Đất, là một quá trình lâu dài và phức tạp. Có thế chia thành 3 giai đoạn:
1.2.1. Giai đoạn Tiền Cambri
- Theo các nghiên cứu mới nhất, Trái Đất được hình thành cách đây ~ 4,6 tỉ năm. Phần
lớn thời gian lịch sử Trái Đất thuộc 2 đại: Thái cổ (Ackêôzôi) kết thúc cách đây ~ 2,6 tỉ năm và
tiếp theo là Nguyên sinh (Prôtêrôzôi) kết thúc cách đây 540 triệu năm. Ở giai đoạn này, lớp vỏ

lấp bởi các trầm tích lục địa vào đại Trung sinh đã hình thành các mỏ than ở Quảng Ninh, Quảng
Nam, các đá cát kết, cuội kết màu đỏ sẫm ở khu vực Đông Bắc. Các hoạt động uốn nếp và nâng
lên diễn ra ở nhiều nơi. Trong đại Cổ sinh là các khối Thượng nguồn sông Chảy, khối nâng Việt
Bắc, địa khối Kon Tum. Trong đại Trung sinh là các dãy núi hướng tây bắc - đông nam ở Tây
Bắc và Bắc Trung Bộ; các dãy núi hướng vòng cung ở Đông Bắc và các khối núi cao ở Nam
Trung Bộ. Kèm theo các hoạt động uốn nếp tạo núi, sụt võng là các đứt gãy, động đất với các loại
đá macma xâm nhập và mac ma phun trào như granit, riolit, anđêzit cùng các khoáng sản quí
(đồng, sắt, thiếc, vàng, bạc, đá quí…)
▪ Là giai đoạn lớp vỏ cảnh quan địa lí nhiệt đới ở nước ta đã rất phát triển. Các điều kiện
cổ địa lí của vùng nhiệt đới ẩm ở nước ta vào giai đoạn này đã được hình thành và phát triển dấu
vết để lại là các hoá đá san hô tuổi Cổ sinh, các hoá đá than tuổi Trung sinh cùng nhiều sinh vật
cổ khác.
Như vậy, có thể nói về cơ bản đại bộ phận lãnh thổ nước ta hiện nay đã được định hình
từ khi kết thúc giai đoạn Cổ kiến tạo
1.2.3. Giai đoạn Tân kiến tạo
Giai đoạn Tân kiến tạo là giai đoạn cuối cùng trong lịch sử hình thành và phát triển của
tự nhiên nước ta, còn kéo dài cho đến ngày nay. Giai đoạn này ở nước ta có những đặc điểm
sau:
▪ Là giai đoạn diễn ra ngắn nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của tự nhiên VN.
Giai đoạn này chỉ mới bắt đầu từ cách đây 65 triệu năm và đang tiếp diễn đến ngày nay
▪ Chịu sự tác động mạnh mẽ của kì vận động tạo núi Anpơ - Himalaya và những biến đổi
khí hậu có qui mô toàn cầu.Sau khi kết thúc giai đoạn Cổ kiến tạo, lãnh thổ nước ta trải qua một
thời kì tương đối ổn định và tiếp tục được hoàn thiện dưới chế độ lục địa, chủ yếu chịu sự tác
động của các quá trình ngoại lực. Vận động tạo núi Anpơ - Himalaya có tác động đến lãnh thổ
nước ta bắt đầu từ kỉ Nêôgen (cách đây ~ 23 triệu năm) cho đến ngày nay. Do chịu tác động của
vận động tạo núi Anpơ-Himalaya, trên lãnh thổ nước ta đã xảy ra các hoạt động như nâng cao và
hạ thấp địa hình, bồi lấp các bồn trũng lục địa kèm theo các đứt gãy và phun trào macma. Cũng
vào giai đoạn này (đặc biệt là trong kỉ Đệ tứ), khí hậu Trái Đất có những biến đổi lớn với những
thời kì băng hà, gây nên tình trạng dao động lớn của nước biển. Đã có lần biển tiến và biển lùi
trên phần lãnh thổ của nước ta mà dấu vết để lại là các thềm biển, cồn cát, các ngấn nước trên các

3
Q
2
Q
1
1,7
Nêôgen
(N)
- Pliôxen
- Miôxen
N
2
N
1
23,5 21,8
Palêôgen
(Pg)
- Ôligôxen
- Êôxen
- Palêôxen
Pg
3
Pg2
Pg
1
65,0 41,5
Trung sinh
(Mêzôzôi MZ)
Krêta
(K)

250 47
Cổ sinh
(Palêôzôi PZ)
Pecmi
(P)
- Pecmi muộn (trên)
- Pecmi sớm (dưới)
P
2
P
1
295 45
Cacbon
(C)
- Cacbon muộn (trên)
- Cacbon giữa
- Cacbon sớm (dưới)
C
3
C
2
C
1
355 60
Đêvon
(D)
- Đêvon muộn (trên)
- Đêvon giữa
- Đêvon sớm (dưới)
D

)
- Cambri muộn (trên)
- Cambri giữa
- Cambri sớm (trên)

3

2

1
540 40
Nguyên sinh
(Prôtêrôzôi
Khoảng
2600
Khoảng
2060
9
PR)
Thái cổ
(Ackêôzôi
AR)
Khoảng
3600
1000
● Bảng Niên biểu địa chất
Khi nghiên cứu địa chất hoặc lịch sử phát triển lãnh thổ tự nhiên của một quốc gia, khu
vực trên thế giới rất cần thiết phải có sự thống nhất về quan niệm và thước đo thời gian. Bảng
Niên biểu địa chất là bảng xác định các đơn vị thời gian và đơn vị địa tầng trong lịch sử phát
triển của Trái Đất, được các nhà địa chất thế giới thừa nhận và thống nhất sử dụng

phát triển bền vững trong tương lai. Việc đánh giá thực trạng về tài nguyên thiên nhiên nước ta
còn là một vấn đề mà cho đến nay chúng ta cũng chưa thể khẳng định được cụ thể. Có thể phân
chia tài nguyên thiên nhiên dựa vào đặc điểm, tính chất tự nhiên và mục đích sử dụng (theo sơ
đồ). Việc phân loại như trên là nhằm khai thác, sử dụng các tài nguyên thiên nhiên một cách hợp
lý, có tính đến việc bảo vệ, khôi phục tài nguyên thiên nhiên.
Các dạng tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên có
thể bị hao kiệt
Tài nguyên thiên nhiên
không bị hao kiệt
Tài nguyên thiên nhiên
không khôi phục được
Tài nguyên thiên
nhiên khôi phục được
(Các đường đứt gãy trong hình biểu diễn đặc điểm biện chứng trong quá trình sử dụng tài
nguyên; một số nguyên tố có thể chuyển từ nhóm này sang nhóm khác)
1.3.2. Địa hình
a. Đặc điểm chung:
Địa hình đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất đai, làm cho thiên nhiên VN có đặc điểm chung
là thiên nhiên của đất nước nhiều đồi núi. Đồi núi thấp chiếm ưu thế với > 60% diện tích cả nước,
núi cao > 2000m chỉ chiếm 1,0%. Đồng bằng chiếm 1/4 diện tích, tạo thành một dải hẹp ở Trung
Bộ và mở rộng ở Bắc Bộ và Nam Bộ.
Hướng tây bắc-đông nam là hướng nghiêng chung của địa hình, đồng thời là hướng chính
của các dãy núi vùng Tây Bắc, Bắc Trường Sơn và các hệ thống sông lớn. Hướng vòng cung là
hướng của các dãy núi, các sông ở vùng Đông Bắc và hướng của địa hình Nam Trường Sơn
11
b. Tính đa dạng của địa hình
* Khu vực đồi núi. Địa hình núi chia thành 4 vùng:
- Vùng núi Đông Bắc: nằm ở tả ngạn sông Hồng với 4 cánh cung lớn, đầu chụm ở Tam

- Hai đồng bằng châu thổ lớn: ĐB sông Cửu Long rộng trên 40.000 km
2
, ĐB sông Hồng
15.000 km
2
. Hai đồng bằng này hình thành trên các vùng sụt lún ở hạ lưu sông, có bờ biển
phẳng, vịnh biển nông, thêm lục địa rộng. ĐB sông Cửu Long thấp, phẳng, không có đê, mạng
lưới kênh rạch chằng chịt, mùa lũ nước ngập sâu ở các vùng trũng, mùa khô nước triều lấn mạnh
làm cho 2/3 diện tích đồng bằng bị nhiễm mặn. ĐB sông Hồng cao và chia cắt hơn, do có hệ
thống đê ven sông ngăn lũ nên vùng trong đê không được bồi đắp phù sa hàng năm, tạo thành
12
các bậc ruộng cao bạc màu và các ô trũng ngập nước, vùng ngoài đê thường xuyên được phù sa
bồi đắp. Do địa hình khá bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, hai đồng bằng này đã trở thành vùng
trọng điểm LT-TP lớn của cả nước. Ngoài ra, ở ven biển có các bãi triều, vũng vịnh, đầm phá có
tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản.
- Các đồng bằng ven biển miền Trung, diện tích ~ 15.000 km
2
, hẹp ngang và bị chia cắt
thành nhiều đồng bằng nhỏ. Chỉ có một vài đồng bằng được mở rộng ở cửa sông lớn như đồng
bằng Thanh Hóa (cửa sông Mã), Nghệ An (cửa sông Cả), Quảng Nam (cửa sông Thu Bồn) và
Phú Yên (cửa sông Ba). Ở nhiều đồng bằng có sự phân chia thành 3 dải (giáp biển là cồn cát,
đầm phá; giữa là vùng thấp trũng; trong cùng đã được bồi tụ thành đồng bằng). Trong sự hình
thành đồng bằng, thì biển đóng vai trò chủ yếu. Đất có đặc tính là nghèo, ít phù sa. Các nhánh
núi lan ra sát biển khiến cho nhiều đoạn địa hình bờ biển khúc khủyu, lắm mũi đất, nhiều đèo.
c. Ảnh hưởng của địa hình đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
* Ở vùng núi: Khoáng sản: khu vực đồi núi tập trung nhiều loại khoáng sản có nguồn gốc
nội sinh (đồng, chì, thiếc, sắt, pyrit, niken, crôm, vàng, vonfram, antimoan ) và các khoáng sản
ngoại sinh (bôxit, apatit, đá vôi, than đá); đó là nguyên liệu, nhiên liệu cho nhiều ngành công
nghiệp. Rừng và đất trồng: tạo cơ sở cho phát triển nông - lâm nhiệt đới; Rừng giàu có về thành
phần loài động - thực vật (trong đó có nhiều loài quí hiếm tiêu biểu cho sinh vật rừng nhiệt đới).

- Vùng đồng bằng: có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình miền núi. Các sông lớn mang vật
liệu phù sa từ miền đồi núi bồi đắp mở rộng các đồng bằng châu thổ. Nhưng do tài nguyên rừng
đang bị khai thác quá mức, diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên kèm theo với nó là cường độ
xói mòn đất vào mùa mưa diễn ra ngày càng mạnh đã gây hậu quả rất lớn, làm giảm tuổi thọ các
công trình thủy điện, thủy lợi, phù sa lắng đọng ở các vùng cửa sông ven biển cản trở cho giao
thông vận tải đường thủy. Thiên tai (bão, lụt, hạn hán) thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn về
người và tài sản
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Đặc điểm của địa hình Việt Nam. Những điểm khác nhau về địa hình vùng núi Đông Bắc
với Tây Bắc; vùng núi Trường Sơn Bắc với vùng núi Trường Sơn Nam.
2. Ảnh hưởng của địa hình đối với cảnh quan tự nhiên và đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
3. Những sự phân hóa thiên nhiên theo Đông – Tây ở nước ta. Giải thích sự khác nhau về
thiên nhiên giữa vùng núi Đông Bắc với vùng núi Tây Bắc và giữa Trường Sơn Bắc với Trường
Sơn Nam.
4. So sánh sự giống nhau và khác nhau về đặc điểm tự nhiên giữa đồng bằng sông Hồng
với đồng bằng sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển miền Trung. Những thuận lợi và khó
khăn của mỗi đồng bằng đối với phát triển kinh tế - xã hội và biện pháp khắc phục.
5. Vẽ lược đồ địa hình Việt Nam.
14
1.3.3. BIỂN ĐÔNG
a. Khái quát về Biển Đông
Biển Đông là vùng biển rộng, nguồn nước dồi dào, tương đối kín, có đặc tính nóng-ẩm và
chịu ảnh hưởng của gió mùa. Tính chất nhiệt đới của Biển Đông được thể hiện rõ qua các yếu tố
như nhiệt độ, độ muối, sóng, thủy triều và hải lưu (Nhiệt độ TB cao > 23
0
C và biến động theo
mùa, rõ nhất ở vùng ven biển phía Bắc; Độ muối trung bình ~ 30 - 33
0
/

chục loài mực, hàng nghìn loài sinh vật phù du và sinh vật đáy. Ven các đảo (nhất là quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa) có nguồn nguyên liệu quí là các rạn san hô cùng các loài sinh vật khác.
Với nguồn tài nguyên thiên nhiên và những điều kiện tự nhiên thuận lợi, Biển Đông thực sự
đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
- Thiên tai: Bão, mỗi năm trung bình có 3 - 4 cơn bão qua Biển Đông trực tiếp đổ bộ vào
nước ta. Bão lớn kèm theo với sóng lừng, nước dâng cao gây nên lũ lụt là loại thiên tai bất
thường, khó phòng tránh, thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn về người và tài sản (nhất là với
dân cư ven biển). Sạt lở bờ biển: hiện tượng này đang đe dọa nhiều đoạn bờ biển nước ta (Trung
Bộ). Nạn cát bay, cát lấn chiếm ruộng vườn, làng mạc và làm hoang hóa đất đai (miền Trung).
Như vậy, sử dụng hợp lí nguồn lợi thiên nhiên biển, phòng tránh ô nhiễm môi trường
biển, thực hiện các biện pháp phòng tránh thiên tai là những vấn đề hệ trọng trong chiến lược
khai thác tổng hợp, phát triển kinh tế biển của nước ta.
1.3.4. ĐẶC ĐIỂM VỀ KHÍ HẬU
ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
a. Đặc điểm chung: Đặc điểm chung của khí hậu nước ta là nhiệt đới - ẩm - gió mùa và
có sự phân hoá phức tạp cả về thời gian và không gian
● Tính chất nhiệt đới - ẩm - gió mùa
- Tính chất nhiệt đới của khí hậu được qui định bởi vị trí nước ta nằm trong vùng nội chí
tuyến Bắc Bán Cầu. Hàng năm nhận được lượng bức xạ mặt trời lớn do Mặt Trời luôn đứng cao
trên đường chân trời và ở nơi trong năm đều có 2 lần Mặt Trời qua thiên đỉnh. Tổng lượng bức xạ
nhiệt cao (120 - 140 kcal/cm
2
/năm). Cán cân bức xạ trên 75 kcalo/cm
2
/năm. Nhiệt độ trung bình
năm dao động từ 22 - 27
0
C (tiêu chuẩn của vùng nhiệt đới 21
0
C). Tổng nhiệt độ hoạt động năm

Nửa đầu mùa Hạ, dòng khí từ vịnh Bengan (TBg) thổi vào nước ta theo hướng tây nam,
mang nhiều hơi nước gây mưa lớn cho Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ, sau đó vượt qua dãy
Trường Sơn, khối khí trở nên khô nóng tràn xuống vùng đồng bằng ven biển miền Trung và phần
phía nam của khu vực Tây Bắc; đôi khi áp thấp Bắc Bộ sụt sâu tạo nên sức hút mạnh làm xuất
hiện gió Tây tại đồng bằng Bắc Bộ, thời kỳ này nhiệt độ lên tới 37
0
C, độ ẩm xuống < 50%.
Nửa giữa và cuối mùa Hạ, gió mùa Tây Nam (Em) xuất phát từ áp cao cận chí tuyến nửa
cầu Nam hoạt động, hình thành gió mùa mùa Hạ chính thức ở Việt Nam. Khối khi này khi vượt
qua vùng biển Xích Đạo đổi hướng tây nam vào lãnh thổ nước ta lại theo hướng các hướng khác
nhau: hướng tây nam (Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ), hướng nam (miền Trung), hướng
đông nam (Bắc Bộ). [Nguyên nhân làm cho khối không khí (Em) thổi vào lãnh thổ nước ta theo
các hướng khác nhau là do ở miền Bắc lúc này hình thành một hạ áp (xoáy tụ) hút gió làm đổi
hướng]. Khối không khí này gây mưa cho cả hai miền nước ta (riêng ở miền Trung mưa vào
tháng IX). Đặc biệt, khi gặp các nhiễu động khí quyển như bão, hội tụ nhiệt đới sẽ gây mưa lớn
kéo dài, đây cũng là mùa mưa bão của nước ta.
● Sự phân hóa của khí hậu nước ta
- Theo tác giả Phạm Ngọc Toàn - Phan Tất Đắc (1978, 1993): phần đất liền nước ta thành
3 miền khí hậu:
Miền khí hậu phía Bắc (từ vĩ độ 18
0
B-dãy Hoành Sơn trở ra Bắc), đây là miền khí hậu đặc
biệt: “Nhiệt đới-gió mùa, có một mùa đông lạnh”; miền này lại được chia làm 5 vùng khí hậu
(vùng núi Đông Bắc; vùng núi Việt Bắc-Hoàng Liên Sơn; vùng đồng bằng Bắc Bộ; vùng núi Tây
Bắc; vùng Bắc Trung Bộ).
Miền khí hậu phía Nam, bao gồm lãnh thổ Trung Bộ ở sườn tây dãy Trường Sơn, Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐB sông Cửu Long, khí hậu có 2 mùa khô - mưa, càng về phía nam
tính chất này càng thể hiện rõ; miền này chia làm hai vùng khí hậu: Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ - ĐB sông Cửu Long.
17

Vùng khí hậu
Tây
Bắc
Đông
Bắc
ĐBS
Hồng
Bắc
T.Bộ
Nam
T.Bộ
Tây
Nguyên
Nam
Bộ
Mùa mưa 4 - 9 4 - 10 5 - 10 8 - 12 8 - 12 5 - 10 5 - 10
Ba tháng mưa lớn nhất 6 - 8I 6 - 8I 7 - 9 8 - 10 9 - 11 7 - 9 8 - 10
Bảng 1.5. Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại 3 địa điểm Hà Nội, Huế và TP Hồ Chí Minh
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB/n
Hà Nội (21
0
01'B - 105
0
48'Đ, độ cao 5m/biển)
Nhiệt độ (
0
C)
16,4
17,0
20,2

Nhiệt độ (
0
C)
19,7
20,9
23,2
26,0
28,0
29,2
29,4
28,8
27,0
25,1
23,2
20,8
25,1
Lượng mưa
(mm)
161,3
62,6
47,1
51,6
82,1
116,7
95,3
104,0
473,4
795,6
580,6
297,4

293,7
269,8
327,1
266,7
116,5
48,3
1931
b. Ảnh hưởng của khí hậu đến sự phát triển kinh tế - xã hội
● Thuận lợi
18
▪ Đối với sản xuất nông nghiệp: Do nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng -
ẩm, nhiệt độ TB/năm cao, độ ẩm TB lớn cùng với sự phân hóa đa dạng cả về thời gian và không
gian là một thuận lợi lớn cho phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều loại nông sản
phong phú (cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau đậu ; chăn nuôi đại gia súc, gia
súc, gia cầm, thủy sản). Cho phép trồng các loại cây có nguồn gốc nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới.
Cho phép tăng vụ, xen canh, gối vụ (nếu điều kiện ẩm được thỏa mãn).
▪ Đối với các ngành công nghiệp chế biến lâm sản, rừng nhiệt đới với nhiều loại lâm sản
khác nhau là nguồn nguyên liệu có giá trị đối với các ngành công nghiệp chế biến gỗ, giấy, dược
liệu, thủ công mĩ nghệ Ngoài ra, lượng mưa trung bình hàng năm cao, nguồn nước ngầm phong
phú cùng hệ thống sông ngòi dày đặc đủ để cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt của dân cư.
● Hạn chế
▪ Đối với sản xuất nông nghiệp: Sự phân phối ẩm không đều trong năm gây hạn chế cho
việc khai thác nhiệt. Chính vì vậy, dù cho điều kiện kĩ thuật có tiến bộ đến đâu, thì ở nước ta thủy
lợi vẫn là vấn đề hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp, đặt ra cho hầu hết các vùng nhất là trong
mùa khô (đặc biệt là các tỉnh phía nam) yêu cầu là phải tiết kiệm nước, phải tính đến việc thay
đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp (ví dụ, trong mùa khô có thể hạn chế diện tích trồng lúa nước,
hoặc những loại cây có nhu cầu về nước lớn). Trong điều kiện thời tiết nóng - ẩm, sâu bệnh dễ
phát sinh và lây lan trên diện rộng gây hại cho cả cây trồng lẫn vật nuôi. Các hiện tượng thời tiết
cực đoan, nhiễu động thời tiết thường xảy ra vào thời gian chuyển mùa làm cho sản xuất nông –

a. Nước trên mặt
Với địa hình 3/4 diện tích là đồi núi, lại bị chia cắt dữ dội, điều kiện khí hậu nhiệt đới-ẩm-
gió mùa, sông ngòi nước ta khá dày đặc. Mật độ sông ~ 0,5 - 1,2 km/km
2
. Cả nước có 2360 con
sông có chiều dài

10 km, bao gồm 124 hệ thống sông với tổng diện tích lưu vực 292.470km
2
.
Có 10 lưu vực sông chính (Bằng Giang-Kỳ Cùng; Hồng-Thái Bình; Mã; Cả; Thu Bồn; Đà Rằng;
Đồng Nai; Cửu Long; Xêsan; Xrêpốc); diện tích lưu vực > 10.000km
2
;

10 lưu vực này chiếm
80% diện tích; 70% nguồn nước và trên 80% dân số cả nước.
- Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa: Tổng lượng dòng chảy của tất cả các sông ~
880km
3
/năm (lượng dòng chảy sinh ra trong nước 325 km
3
, chiếm 37% tổng lượng dòng chảy
năm). tổng lượng cát bùn hàng năm do sông vận chuyển ra Biển Đông ~ 200 triệu tấn (sông Hồng
120 triệu tấn, sông Cửu long 70 triệu tấn)
- Những dòng chảy lớn:
Sông Mê Công, diện tích lưu vực 795.000 km
2
, thuộc phần lãnh thổ Việt Nam 72.000 km
2

từng phần bằng cách đắp đê bao, các tuyến đường vượt lũ.
+ Hệ thống sông Đồng Nai - Vàm Cỏ. Diện tích lưu vực 42.655 km
2
, thuộc phần lãnh thổ
Việt Nam 36.261 km
2
. Hệ thống sông Đồng Nai-Vàm Cỏ bao trùm gần như toàn bộ lãnh thổ
vùng Đông Nam Bộ, một phần phía Nam Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Lũ vào mùa Hạ,
lớn nhất là tháng VII-IV; mùa kiệt từ tháng III-V. Đây là lưu vực sông của vùng kinh tế phát triển
năng động nhất cả nước, vì vậy sử dụng hợp lý nguồn nước sông có ý nghĩa rất quan trọng.
+ Hệ thống sông ở Tây Nguyên có những sông nhánh của tả ngạn sông Mê Công (lớn hơn
cả là sông Xrêpốc và Xêsan), những sông này tuy nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất lớn về nước tưới và
thủy điện. Trên sông Xêsan đã xây dựng thủy điện Yaly, sông Srêpốc đã xây dựng thủy điện
Đrây Hlinh, hiện nay đang tiếp tục xây dựng một vài công trình thủy điện khác.
+ Hệ thống sông Mã, sông Chu. Diện tích lưu vực 28.400 km
2
, chảy qua một phần vùng
Tây Bắc qua Lào vào Thanh Hóa. Hai sông này cung cấp phù sa cho đồng bằng Thanh Hóa (rộng
nhất trong các đồng bằng Duyên hải miền Trung). Lũ vào tháng VI - XI (cao nhất tháng IX).
+ Hệ thống sông Cả. Diện tích lưu vực 27.200 km
2
. Bắt nguồn từ Lào chảy vào Nghệ An,
tạo nên đồng bằng Nghệ An nối liền với đồng bằng Thanh Hóa. Do lưu vực sông mở rộng về
phía Tây, vì vậy đồng bằng cũng mở rộng sâu vào trong đất liền. Lũ vào tháng VI - X (cao nhất
tháng IX), kiệt vào tháng XI - V (kiệt nhất tháng III). Ở hạ lưu của hệ thống sông này có các
thành phố lớn như thành phố Vinh, trung tâm kinh tế lớn nhất của Bắc Trung Bộ.
+ Các sông ở miền Trung (Đông Trường Sơn) từ Hà Tĩnh - Bình Thuận có đặc điểm
chung là đều ngắn, dốc, lưu lượng nước nhỏ (nhiều sông chảy theo hướng Tây - Đông), lượng
21
dòng chảy nhỏ chủ yếu trong địa phận nước ta. Mùa lũ lệch vào mùa Thu Đông, lũ lớn nhất vào

8,9
2,0
1,0
1,0
15,7
7,2
7,2
4,8
2,2
2,2
3. Bắc Trung Bộ
- Lưu vực sông Mã.
- Lưu vực sông Cả
- Lưu vực sông vùng Bình - Trị -Thiên
67,0
18,5
24,7
23,8
8,0
2,3
2,9
2,8
58,3
14,7
19,8
23,8
17,9
4,5
6,3
7,3

34,9
8,4
10,6
2,6
7. Đồng bằng sông Cửu Long
- Lưu vực sông Cửu Long 505,0 60,1 50,0 15,2
Nguồn: Viện qui hoạch thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
b. Nước ngầm
Tài nguyên nước ngầm của Việt Nam hiện nay vẫn chưa được thăm dò, đánh giá đầy đủ.
Theo kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy phần lớn nước ngầm chứa trong các thành tạo ở độ
sâu từ 10-100 m. Các phức hệ có khả năng khai thác đó là phức hệ trầm tích rời bở tập trung ở
Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và một vài nơi ven biển miền Trung, phức hệ
trầm tích cácbonat phân bố chủ yếu ở Đông Bắc, Tây Bắc, vùng Bắc và Bắc Trung Bộ, phức hệ
đá phun trào (Tây Nguyên và Đông Nam Bộ). Tổng trữ lượng động thiên nhiên của cả nước
22
1.513 tỉ m
3
/s (lưu lượng dòng ngầm ở một cắt nào đó của tầng chứa nước). Trữ lượng khai thác
thăm dò khoảng 3,3 tỉ m
3
. Nước ngầm phân bố không đều trong cả nước, tập trung nhiều nhất ở
các vùng đồng bằng (nhưng thường bị nhiễm mặn, hàm lượng sắt và độ axit cao), rất hạn chế
trong các vùng núi đá vôi và trong tầng ba dan. Khai thác nước ngầm chủ yếu cung cấp nước cho
đô thị, sản xuất công nghiệp, nước sạch cho các vùng nông thôn, đối với các vùng chuyên canh
cây công nghiệp (cà phê Tây Nguyên) lại càng quan trọng.
c. Ý nghĩa kinh tế của hệ thống sông ngòi nước ta
- Tạo nên các đồng bằng rộng lớn (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long
Duyên hải miền Trung); thuận lợi cho nền nông nghiệp lúa nước, định canh. Tạo điều kiện tập
trung dân cư và phát triển các ngành kinh tế khác. Chính vì thế, ở ven sông thường tập trung các
đô thị lớn, các trung tâm công nghiệp, dịch vụ; Các vùng ven sông và các cửa sông còn hình

ngòi ở nước ta.
6. Ảnh hưởng của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa đến sản xuất và đời sống.
7. Giải thích tại sao khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới - ẩm – gió mùa ? Những biển
hiện của tính chất này và ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp
8. Trình bày hoạt động của gió mùa ở nước ta và hệ quả của nó đối với sự phân chia mùa
giữa các khu vực.
9. Trình bày sự phân hóa của khí hậu và thủy văn nước ta.
1.3.6. TÀI NGUYÊN ĐẤT – VẤN ĐỀ SỬ DỤNG HỢP LÝ
a. Các loại đất chính ở Việt Nam
● Các loại đất chính ở đồng bằng. Đất đồng bằng chủ yếu là đất phù sa; tùy theo từng
lưu vực mà thành phần cơ giới, đặc tính lý-hóa và độ phì của đất khác nhau. Đất phù sa đã được
cải tạo qua nhiều thế kỷ, được san bằng, đắp bờ giữ nước, cấy lúa, cho nên thành phần cơ giới, lý
- hóa đã bị biến đổi nhiều và trở thành loại đất đặc biệt ”Đất trồng lúa nước”. Các loại đất chính:
▪ Đất phù sa mới. ~ 3,40 triệu ha (Đồng bằng sông Hồng 0,6 triệu ha; Đồng bằng sông
Cửu Long 1,2 triệu ha).
- Đất phù sa ở Đồng bằng sông Hồng: Thành phần cơ giới chủ yếu từ cát pha đến thịt
trung bình (vùng trũng là thịt nặng). Độ pH 5,5-7,0, giàu N, P, K, Ca, Mg và chất hữu cơ. Do có
hệ thống đê điều khá vững chắc nên phù sa không được trải đều trong năm. Đất đã được sử dụng
với cường độ cao nhiều nơi đã bị bạc màu. Trong đồng bằng có nhiều ô trũng (Hà-Nam-Ninh) đất
bị hóa lầy, hiện tượng glây mạnh, đất giàu mùn, đạm, nghèo lân, trong đất chứa nhiều chất độc
hại cho cây trồng và thủy sản.
- Đất phù sa ở Đồng bằng sông Cửu Long: Thành phần cơ giới nặng hơn so với đất ở ĐB
sông Hồng (từ thịt đến sét), lượng mùn và đạm trung bình, nghèo lân, nhưng cũng khá phì nhiêu.
Do chỉ mới có một số hệ thống đê bao, nên phù sa vẫn được trải đều. Riêng dải phù sa ngọt ven
sông Tiền và sông Hậu đã được thâm canh khá cao cả cây lương thực - thực phẩm và cây ăn quả.
- Đất phù sa ở các đồng bằng DH miền Trung: Do tác động rõ rệt của biển trong quá trình
hình thành đồng bằng, đất có thành phần từ cát pha đến thịt nhẹ, chua, nghèo mùn, kèm màu mỡ
▪ Đất phèn. 2,0 triệu ha, ĐB sông Cửu Long gần 1,9 triệu ha tập trung nhiều ở tứ giác
Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, vùng trũng bán đảo Cà Mau; ĐB sông Hồng (ven biển Hải
Phòng và Thái Bình). Đất phèn được hình thành trên các vùng biển cũ, nơi có nhiều xác thực vật

phong hóa diễn ra rất mạnh, các chất bazơ Ca
+
, Mg
+
, K
+
dễ hòa tan, rửa trôi làm cho đất bị chua;
đồng thời ôxit sắt fe
3+
và nhôm AL
3+
được tích tụ làm cho đất có màu đỏ vàng, đất nói chung
nghèo mùn. Quá trình feralit diễn ra điển hình trên đá mẹ axit, cũng diễn ra cả trên đất bazơ và
các thềm phù sa cổ.
* Các loại đất chính
▪ Đất feralit (có tên Việt Nam là đất đỏ - vàng) ~ 16,0 triệu ha. Có thể chia ra 7 loại:
- Đất feralit nâu - đỏ trên đá bazơ, chủ yếu là badan ~ 2,0 triệu ha, nhiều nhất ở Tây
Nguyên và Đông Nam Bộ; ngoài ra còn có ở rải rác phần phía tây tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An,
Quảng Bình, Quảng Trị và Phú Yên. Đất giàu cation Ca, Mg, Fe, Al, đạm và lân, nhưng nghèo
kali và lân dễ tiêu. Tầng đất dày, khá phì nhiêu thích hợp cho cây công nghiệp lâu năm như cà
phê, cao su, chè.
- Đất nâu - vàng trên đá bazơ. ~ 0,4 triệu ha (tập trung trên cao nguyên, ở độ cao 800-
900m). Bên cạnh cây công nghiệp lâu năm, còn trồng được cây lương thực cạn (do lượng ẩm
trong đất khá).
- Đất feralit đỏ - nâu trên đá vôi. ~0,3 triệu ha (tập trung ở vùng núi đá vôi và cao nguyên
đá vôi miền núi phía Bắc). Đất giàu mùn, đạm, tơi xốp, thuận lợi cho trồng ngô, đậu tương.
- Đất feralit đỏ - vàng trên đá biến chất và đá sét. Trên 6,0 triệu ha (tập trung chủ yếu ở
Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu). Đất có thành phần cơ
giới nặng, kém tơi xốp, tầng đất dày từ 1,5-2,0 m. Do địa hình dốc nên đất dễ bị xói mòn, chủ yếu
dành cho lâm nghiệp và nông-lâm kết hợp.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status