ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 2
(Tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế)
CHƯƠNG 3
TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG - LÂM - NGƯ
3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG
3.1.1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp (SXNN)
- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn . Đối với
SXNN thì đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản nhất, ở đâu có đất đai thích hợp ở đó có thể phát triển
nông nghiệp. Vì vậy, trong việc phát triển và phân bố cần chú ý những vùng đất có qui mô lớn
(đồng bằng châu thổ) nên tổ chức thành những vùng CMH’ SXNN để tạo ra khối lượng hàng hoá
lớn; Những vùng đất hẹp cần phát triển nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ ở mức
độ nhất định. Phân bố nông nghiệp cần chú ý đến việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm đất.
- Sản xuất nông nghiệp gắn chặt với môi trường tự nhiên. Môi trường tự nhiên (đặc biệt
là đất đai, khí hậu, nguồn nước) tác động mạnh và thường xuyên đến phát triển và phân bố nông
nghiệp. Vì vậy muốn phân bố hợp lý nền kinh tế nông nghiệp của một nước (một vùng), cần phải
ng/cứu kỹ và hiểu rõ những điều kiện tự nhiên để phân bố các loại cây trồng-vật nuôi thích hợp;
đồng thời phải có kế hoạch phòng chống, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường tài
nguyên đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp.
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, thời gian lao động ngắn hơn thời gian sản
xuất. Thời vụ là đặc trưng của sản xuất nông nghiệp, mỗi loại cây trồng đều phát triển theo mùa
và thời gian sinh trưởng nhất định. Trong thời gian đó, cây trồng có thể tự phát triển mà không
cần tới sự tác động của con người. Vì vậy lao động trong nông nghiệp có lúc dồn dập, có lúc
nhàn rỗi, thời gian lao động bao giờ cũng ngắn hơn thời gian sản xuất. Để giảm tính thời vụ, sử
dụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn cần xác định một cơ cấu cây trồng - vật nuôi hợp lý, kết
hợp lao động với thời vụ. Để đạt hiệu quả cao trong SXNN cần thực hiện CMH’ với phát triển
tổng hợp, đa dạng hoá SXNN, kết hợp giữa trồng trọt với chăn nuôi, thực hiện các biện pháp
luân-xen-tăng-gối vụ, kết hợp tốt giữa N-L-N nhằm đa dạng hoá cơ cấu kinh tế nông thôn.
- Sản xuất nông nghiệp cần phải gắn CNCB’ và thị trường tiêu thụ (CNCB’). Gắn với
CNCB’ sẽ tạo chu trình sản xuất nông- CN hợp lý. Hình thức tổ chức này sẽ làm tăng giá trị của
sản phẩm nông nghiệp, nâng cao trình độ CMH’ sản xuất. Nước ta có nhiều vùng có thể hình
thành chu trình nông – CN về sản xuất – chế biến như cao su, chè, cà phê, mía đường.v.v.
cơ sở CNCB’, tạo thành các hình thức liên kết nông – công nghiệp đa dạng.
c. Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản. Hoạt động chăn nuôi diễn ra liên tục
không mang tính thời vụ như trồng trọt, nhưng ít nhiều cũng phụ thuộc vào tính thời vụ của trồng
trọt. Tính chất 2 mặt của ngành chăn nuôi đòi hỏi phải bố trí LLLĐ thích hợp, ổn định từ khâu
gieo trồng cây thức ăn, chế biến thức ăn đến chăn nuôi; phòng trừ dịch bệnh; tiêu thụ sản phẩm.
Ngành chăn nuôi có quan hệ chặt chẽ với ngành trồng trọt (chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón
cho trồng trọt; ngược lại, trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi). Như vậy, cần cân đối về sức
kéo - phân bón - thức ăn giữa chăn nuôi - trồng trọt. Ngành chăn nuôi có thể tạo ra nhiều sản
phẩm có giá trị khác nhau như sức kéo, phân bón, thịt, sữa, trứng, bơ, da, lông, .v.v. Tuỳ theo nhu
cầu của thị trường và tiêu dùng của xã hội mà xác định cơ cấu, qui mô vật nuôi phù hợp với
ĐKTN, kinh tế của từng vùng. Ví dụ: Những vùng thiếu sức kéo, thiếu phân bón, lại có đồng cỏ
nên phân bố loại gia súc lớn. Những vùng có đồng cỏ nhân tạo nên phát triển đàn bò sữa. Những
vùng công nghiệp tập trung và các thành phố lớn nên phân bố cơ sở chăn nuôi lợn, gia cầm, thịt
bò, bò sữa .v.v. Các sản phẩm của ngành chăn nuôi (thịt, trứng, sữa ) cần được chế biến và vận
chuyển kịp thời. Vì vậy, cần bố trí gần các cơ sở chế biến, gần vùng tiêu thụ.
3.2. CÁC NGÀNH SẢN XUẤT
2
A. NÔNG NGHIỆP
1. VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN (KTQD)
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất sớm nhất của xã hội loài người. Trên thế giới,
cách đây khoảng 1 vạn năm con người đã biết thuần dưỡng động vật, trồng các loại cây dại và
dần dần biến chúng thành vật nuôi - cây trồng. Ở Việt Nam, nông nghiệp ra đời trong văn hóa
khảo cổ học Hòa Bình cách đây > 1 vạn năm. Bên cạnh việc trồng các cây có củ, con người đã
biết đến lúa (là lúa hoang, lúa trời). Sau này, trong quá trình phát triển tiếp theo, VH Phùng
Nguyên có vị trí quan trọng đối với việc hình thành nền "Văn minh lúa nước sông Hồng". Cách
đây trên 4.000 năm, ở lưu vực S.Hồng và các phụ lưu, các bộ tộc Phùng Nguyên với kĩ thuật
luyện kim và trồng lúa nước đã tạo nên những tiền đề vật chất và tinh thần đầu tiên cho thời đại
các Vua Hùng. Tổ tiên ta từ Văn hóa Phùng Nguyên đã sớm chọn cây lúa nước làm nguồn SX
chính, đặt nền móng cho nông nghiệp của nước ta phát triển như ngày nay (Lê Quốc Sử, 1998).
nuôi sống con người là không thể thay thế được. Trong công cuộc CNH’ và HĐH’ đất nước, thì
nông nghiệp được coi là đối tượng chủ yếu. Vì vậy, nông nghiệp sẽ được trang bị lại từ công cụ
cho đến các phương tiện SX; Bằng việc mở mang các ngành nghề mới, hướng vào SX các nông
phẩm hàng hóa. Bản thân nông nghiệp đang tự mình cải tạo và chuyển hướng SX, sử dụng lao
động cho phù hợp với cơ chế thị trường, tạo ra bộ mặt mới cho từng vùng nông thôn của cả nước.
2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (ĐKTN - TNTN)
a. Đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong nông nghiệp; cây trồng - vật nuôi là đối
tượng lao động trong sản xuất nông nghiệp. Chính vì thế, nhân tố quan trọng hàng đầu đối với
sản xuất nông nghiệp là đất đai rồi mới đến khí hậu và nguồn nước. Đất đai ảnh hưởng quyết
định đến qui mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp (đặc biệt là với ngành trồng trọt).
Nước ta có 2 nhóm đất chính (feralit và đất phù sa). Tuỳ theo các nhân tố, điều kiện hình
thành và sự tác động của con người mà các loại đất trên có sự phân hoá khác nhau.
▪ Đất miền núi, chủ yếu là đất feralit. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới-ẩm-gió mùa, phần
lớn vùng đồi núi của nước ta là đất feralit, lượng khoáng nguyên thấp, hàm lượng mùn không
cao, đất chua và có màu đỏ, hoặc đỏ-vàng của ôxyt sắt thích hợp với cây công nghiệp. Ngoài ra,
còn có một số loại đất khác: Đất xám phù sa cổ (rìa ĐB sông Hồng và nhiều nhất ở Đông Nam
Bộ). Đất này thích hợp với cây CN và cây ăn quả. Đất đen (macgalit) phát triển trên đá ba zơ (đá
ba dan, đá vôi), thường gặp ở thung lũng đá vôi (nhiều nhất ở miền Bắc), diện tích tuy không lớn
nhưng rất thích hợp với các cây CN có giá trị (quế, chè, thuốc lá, ). Tốt nhất trong các loại đất
đồi núi nước ta là đất ba dan (
≈
2,0 triệu ha), tập trung ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam Bộ
và có một vệt từ Phủ Quì (Nghệ An) kéo dài đến Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị), loại
đất này rất thuận lợi cho cây CN (cao su, cà phê ) qui mô lớn.
▪ Đất ở đồng bằng, quan trọng nhất là đất phù sa 3,40 triệu ha (9,5% diện tích cả nước),
đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rất thích hợp cho trồng lúa.
Ngoài ra, ở các vùng đồng bằng còn có các loại đất khác như đất chua mặn, đất mặn, ven biển,
đất cát, đất glây hoá trong các vùng trũng, đất lầy thụt than bùn, loại đất này ít có giá trị đối với
- Trước hết là việc cung cấp lượng bức xạ lớn, nguồn ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt
phong phú cho cây trồng phát triển quanh năm và cho năng suất cao. Độ ẩm không khí cao,
lượng mưa dồi dào cho phép cây trồng có sức tái sinh mạnh mẽ, thúc đẩy nở hoa, kết trái. Cũng
trong điều kiện nóng - ẩm còn giúp cho cây ngắn ngày tăng thêm từ 1 đến 2 vụ/năm; đối với cây
dài ngày có thể khai thác được nhiều đợt, nhiều lứa/năm. Do các đặc trưng của khí hậu nước ta,
đã tạo điều kiện để bố trí một tập đoàn cây trồng - vật nuôi đa dạng bao gồm cả nhiệt đới, cận
nhiệt và ôn đới với hệ sinh thái phát triển bền vững (ở vùng núi cao
≥
1.500m, khí hậu mát mẻ
cho phép phát triển tập đoàn cây trồng-vật nuôi cận nhiệt và ôn đới; ở miền Bắc có mùa Đông
lạnh là tiền đề để phát triển cây vụ đông).
- Ở mỗi vùng khí hậu lại có sự tác động khác nhau đến sản xuất nông nghiệp: Lãnh thổ
trải dài 15 vĩ độ trong vùng nội chí tuyến BBC, hẹp ngang, lượng phân bố bức xạ và nhiệt - ẩm sẽ
5
khác nhau (cả về thời gian và không gian giữa các vùng lãnh thổ), mối quan hệ giữa các khối khí
cũng vậy. Vì vậy: Ở phía bắc đèo Hải Vân , tính chất chí tuyến được tăng cường thêm bởi các
khối khí lạnh-khô vào mùa Đông (mỗi năm ~20 đợt). Biên độ nhiệt TB chênh lệch tới 11
0
C, còn
giữa cực trị nhiệt (tối thiểu và tối cao) lên tới 40
0
C. Sự nhiễu loạn về thời tiết đã tạo cho nửa phần
phía Bắc nước ta một hệ sinh thái cực đoan giữa 2 mùa nóng-lạnh. Ở đây thích hợp hơn cả là các
cây ngắn ngày và cây ngày ngắn; đối với cây dài ngày và cây lâu năm, nên chọn cây có biên độ
sinh thái rộng của vùng cận nhiệt (chè, hồi ) thì mới cho năng suất cao. Ở phía nam đèo Hải
Vân: nền sinh thái ổn định hơn về thời tiết, về nhịp điệu mùa cũng như nền nhiệt-ẩm, điều này
cho phép nền nông nghiệp có tính chất ổn định hơn. Sự phân hoá cây trồng ở đây chỉ đơn thuần là
phân theo loại đất từ cây hàng năm đến cây lâu năm. Tuy nhiên, còn có sự khác biệt về thời tiết ở
sườn Tây (giữa Tây Bắc – phía Bắc, giữa Tây Nguyên – phía Nam) trên diện tích 26% lãnh thổ
lại có ý nghĩa đáng kể trong việc điều khiển thời vụ đối với cây ngắn ngày và lựa chọn cây dài
phục vụ cho tưới tiêu và sinh hoạt.
+ Hạn chế: Tài nguyên nước phong phú, nhưng phân bố không đều cả về thời gian và
không gian. Vào mùa lũ, lượng nước chiếm tới 70 - 80%, mùa kiệt chỉ 20 - 30% tổng lượng
nước. Đây là một khó khăn rất lớn đối với nền nông nghiệp, để hạn chế việc thiếu và dư thừa
6
nước phải xây dựng các công trình thuỷ lợi để chủ động tưới - tiêu nước. Ngoài ra, chất lượng
nước ở một số sông, hồ nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng. Ở các khu vực ven biển, nước mặn có
chiều hướng lấn sâu vào đất liền (ở S.Hồng lấn sâu tới 20 km; S.Thái Bình 40 km; S.Tiền 50 km;
S.Hậu 40 km). Điều này lại càng khó khăn hơn đối với ĐB sông Cửu Long vào mùa khô.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (KT - XH)
a. Nguồn lao động
Trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển, LLLĐ nước ta vẫn tập trung nhiều trong
khu vực nông nghiệp và mức độ tập trung sẽ còn cao hơn nữa khi các ngành kinh tế khác chỉ thu
hút lao động trong các đô thị và lao động có trình độ chuyên môn – kĩ thuật. Trong nông nghiệp,
tình trạng phân công lao động diễn ra chậm chạp, mặc dù trong những năm gần đây lao động
trong nông nghiệp có chiều hướng giảm về tỉ trọng, nhưng vẫn còn cao. Số dân nước ta đông, gia
tăng còn lớn. Vì vậy, nguồn lao động rất dồi dào và thường xuyên được bổ sung (3%/năm), chất
lượng cũng đã được nâng hơn. Tuy chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới, song nó vẫn được
coi là nhân tố quan trọng để phát triển nông nghiệp cả theo chiều rộng (khai hoang mở rộng diện
tích) và theo chiều sâu (thâm canh). Nguồn lao động đông cũng là một khó khăn cho nông
nghiệp, số lao động hàng năm tăng với nhịp độ nhanh, phần lớn lại là lao động phổ thông, kĩ
thuật thấp đã làm nóng thêm tình hình việc làm ở khu vực này. Mặt khác, nguồn lao động sử
dụng chưa hợp lý; phân bố cũng không đều giữa các ngành và các vùng (tập trung quá đông ở 2
đồng bằng) và chủ yếu lại ở trong ngành trồng trọt.
Từ sau đổi mới (đặc biệt từ đầu thập kỷ 90), trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn có
nhiều thay đổi, bắt nguồn từ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Cụ thể là sự ra đời của
các hoạt động kinh doanh mới như nuôi gia cầm gia súc theo hướng chuyên môn hóa; nuôi trồng
đặc sản gắn với nhu cầu thị trường; trồng cây ăn quả, cây thực phẩm, cây cảnh; Sự hình thành các
dịch vụ nông nghiệp và nông thôn như cung ứng phân bón, giống cây - con, bảo vệ cây trồng, vật
nuôi, vận tải nông sản và nhiều dịch vụ khác. Sự khôi phục các ngành nghề thủ công truyền thống
đường ô tô
Xã có trạm
y tế
Xã có trường
tiểu học
Xã có trường
THCS
Cả nước 62,2 86,4 916 97,7 76,2
TDMN phía Bắc 37,0 82,6 82,9 94,9 64,7
ĐB sông Hồng 98,1 99,4 99,6 98,5 97,5
Bắc Trung Bộ 61,8 90,0 79,3 99,8 86,8
Nam Trung Bộ 54,7 82,5 85,9 97,3 66,1
Tây Nguyên 31,7 96,2 84,3 99,9 50,3
Đông Nam Bộ 71,8 97,9 98,2 100,0 75,4
ĐBS Cửu Long 67,0 65,7 96,7 98,4 74,9
c. Đường lối chính sách
Là một nước nông nghiệp, vì thế từ lâu nông nghiệp được Đảng và Nhà nước coi là mặt
trận hàng đầu. Từ ĐH VI (12/1986) với đường lối đổi mới toàn diện đã khắc phục những sai lầm
của công cuộc cải tạo XHCN trong nông nghiệp trước đó và đưa ngành này lên một bước phát
triển mới (khoán 10). Hộ nông dân được coi là đơn vị kinh tế tự chủ; được giao quyền sử dụng
đất lâu dài; được tự do trao đổi hàng hoá, mua bán vật tư, sản phẩm theo cơ chế thị trường. Kết
quả là sức sản xuất được giải phóng, đã khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng sẵn có. Trong cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần, ở nông thôn lại có thêm kinh tế hộ nông dân; nhiều hình thức hợp tác
mới tự nguyện, sinh động đã tạo nên nền kinh tế đa dạng về sở hữu, đan xen liên kết với nhau,
đồng thời cạnh tranh lẫn nhau để cùng phát triển theo qui luật khách quan của kinh tế thị trường.
Vấn đề việc làm cũng đã được cải thiện, đó là do thắng lợi của công cuộc đổi mới, SXNN tăng
lên rõ rệt; tình trạng thiếu đói cơ bản đã được xoá bỏ, đã tạo thêm việc làm cho người lao động
(thời kỳ 1991-1995 đã tạo việc làm cho 4,6 triệu người). Chương trình 327 và 773 của Nhà nước
sử dụng 1.700 tỉ đồng và thu hút 48 vạn LĐ nông nghiệp, khoảng 80% việc làm mới được tạo ra
từ N-L-N, điều đó có ý nghĩa to lớn trong việc cải thiện đời sống cư dân nông thôn.
thúc đẩy SX phát triển. Tác động của các chủ trương chính sách đã được ban hành (luật đất đai,
khoán 10, xoá đói, giảm nghèo, mở rộng tự do kinh doanh, xây dựng các mô hình sản xuất ).
- Tuy nhiên, tốc độ phát triển của nông nghiệp chưa cao. Bởi vì, những năm đầu chuyển
đổi từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, nông nghiệp chưa khẳng định rõ được
hướng phát triển, thị trường chưa được khai thác, còn mới mẻ đối với nông dân. Tính chất CMH’
trong SX hàng hoá còn yếu. Trồng trọt và chăn nuôi phát triển chưa đều ở nhiều vùng, chăn nuôi
chưa trở thành ngành SX chính, kinh doanh độc lập, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.
Để phát triển bền vững, trong những năm tới cần tiếp tục đổi mới trong nông nghiệp; giải phóng
mọi lực lượng sản xuất; phát triển kinh tế nhiều thành phần; hình thành một số vùng động lực và
ngành kinh tế mũi nhọn nhằm phát triển hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội với bảo vệ môi
trường sinh thái. Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP của nông nghiệp hàng năm phải đạt 4,0- 4,5%
gắn với công nghiệp chế biến (tăng 10 - 12%). Đảm bảo an toàn về lương thực và đến 2010 phải
đạt 38,0 - 40,0 triệu tấn (lúa 32,0- 33,0 triệu tấn trên diện tích 4,2 - 4,3 triệu ha).
9
b. Nông nghiệp nước ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu theo hướng nền kinh
tế hàng hóa
- Đối với một nước mà nông nghiệp vẫn giữ địa vị trọng yếu như nước ta, thì việc chuyển
đổi cơ cấu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp thiết. Vì thế, việc tổ chức lại nền nông nghiệp
tạo ra cơ cấu hợp lý trở thành vấn đề cấp thiết.
+ Trong phạm vi toàn ngành: cơ cấu nông nghiệp và cơ cấu nông thôn đã chuyển dịch
đúng hướng và có hiệu quả rõ rệt. Hướng sản xuất hàng hoá, mở mang ngành nghề, dịch vụ
đang được coi trọng. Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt quan tâm tới việc đa dạng hóa cơ cấu
cây trồng - vật nuôi gắn với công nghiệp chế biến; phát triển mạnh các ngành nghề, nhất là các
nghề truyền thống; mở rộng các loại hình dịch vu nhằm thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
toàn diện, tạo tiền đề cho quá trình CNH’ và HĐH’ nông thôn.
+ Về cơ cấu ngành: đang có xu thế chuyển dịch giảm tỉ trọng của ngành trồng trọt, tăng
dần tỉ trọng của ngành chăn nuôi (hiện nay, trồng trọt vẫn chiếm 3/4 giá trị sản xuất). Như vậy,
cần đẩy mạnh chăn nuôi để có thể đạt tỉ trọng trên 30% vào sau những năm 2000.
+ Trong nội bộ từng phân ngành:
Ngành trồng trọt: giảm dần tỉ trọng của ngành trồng cây lương thực, tăng dần tỉ trọng của
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hoá là một quá
trình đầy gian khổ. Kết quả là cơ cấu lãnh thổ nông nghiệp có sự chuyển dịch rõ rệt; Thay cho
việc sản xuất manh mún, phân tán trước đây là những vùng sản xuất CMH’ tập trung, qui mô lớn,
tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá tiêu dùng trong nước, phục vụ cho công nghiệp chế biến & xuất
khẩu. Căn cứ vào tiềm năng về tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường (trong - ngoài
nước), các vùng CMH’ chính của nước ta đã được hình thành:
- Về LT-TP: đã hình thành 2 vùng trọng điểm LT-TP: ĐB sông Cửu Long là vùng trọng
điểm số 1 (chiếm trên 50,0% diện tích và sản lượng lúa cả nước), dẫn đầu cả nước về sản xuất
cây đậu tương, mía, cây ăn quả, về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ - hải sản. ĐB sông Hồng là vùng
trọng điểm số 2 về LT-TP (14,2% diện tích và 18.4% sản lượng lúa), thế mạnh của vùng, ngoài
lúa là rau quả, lợn, gia cầm.
- Về cây công nghiệp: đã hình thành 3 vùng CC cây CN lớn: Đông Nam Bộ là vùng số 1
(cả cây lâu năm và hàng năm); vùng có thế mạnh về tự nhiên, kinh tế, đất đai phần lớn là đất xám
bằng phẳng; nguồn lao động dồi dào; có trình độ phát triển mạnh cùng với nhiều cơ sở chế biến
tại chỗ. Tây Nguyên là vùng số 2 về qui mô; các sản phẩm chính là cà phê, cao su, hồ tiêu, chè,
dâu tằm, tiềm năng của vùng còn rất lớn, nhưng khó khăn lớn nhất là thiếu nước tưới trong mùa
khô. MN-TDPB’ là vùng số 3, đây là vùng chè nổi tiếng được trồng ở hầu hết các khu vực đồi
trung du và một số cao nguyên (Hà Giang; Nghĩa Lộ; Sơn La ); vùng còn thế mạnh để phát triển
các cây trồng khác như lạc, thuốc lá (Lạng Sơn, Bắc Giang); Hồi (Lạng Sơn, Cao Bằng).
- Ngoài ra, còn có các vùng chăn nuôi đại gia súc (TD-MN’PB’), gia cầm ở các đồng
bằng, vùng nông nghiệp - thực phẩm (vành đai xanh) ven TP lớn; các vùng nuôi trồng thuỷ sản
đang phát triển mạnh ở 2 đồng bằng châu thổ lớn và các tỉnh duyên hải miền Trung
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Theo anh (chị) nhân tố nào
có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc đảm bảo an ninh về lương thực. Tại sao?
3. Khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp của cả nước cũng như
từng vùng lãnh thổ nước ta. Để khai thác tốt nguồn tài nguyên này, việc bố trí cây trồng nhu thế
nào được coi là hợp lí ?
4. Bằng kiến thức đã có, hãy trình bày những vấn đề đã và đang đặt ra đối với việc sử
Bộ có Thanh Hóa (1,40 triệu tấn), ĐB sông Hồng có Hà Nội (1,17) và Thái Bình (1,01 triệu tấn)
- Về phân bố
+ ĐB sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất. Năm 2008, diện tích trồng lúa 3.85 triệu ha; sản
lượng 20,68 triệu tấn (52,0% diện tích và 53,41% sản lượng cả nước), năng suất 53,6 tạ/ha, mỗi
năm xuất khẩu trên 3,0 triệu tấn/năm. Địa hình đồng bằng thấp, ngập nước, độ cao TB chỉ 2 - 4
m/biển, phù sa mới có nguồn gốc hỗn hợp sông-biển. Chiều dày của lớp phù sa mới càng ra biển
càng lớn, ở phía Nam châu thổ, phù sa dày hơn phía bắc (Long An 20m, Mĩ Tho 70m, Bạc Liêu
110m, Cà Mau 200m, Năm Căn 260m). Đồng bằng được khai thác cách đây 400 năm.
+ ĐB sông Hồng là sản phẩm bồi tụ của hệ thống S.Hồng và Thái Bình, đất đai màu mỡ.
Diện tích đất tự nhiên 1,5 triệu ha. Vùng có lịch sử khai thác lâu đời cách đây hàng vạn năm. Với
những thế mạnh về tự nhiên (tuy thua kém hơn so với ĐB sông Cửu Long), nhưng bù lại, đây là
vùng có trình độ thâm canh cao nhất cả nước, ngành trồng lúa rất phát triển. Năm 2008, diện tích
1,15 triệu ha, sản lượng 6,77 triệu tấn (15,56% và 17,50% cả nước), năng suất 58,8 tạ/ha.
+ Các ĐB nhỏ hẹp ở DHMT kéo dài ~10
0
vĩ tuyến (1000 km) dọc ven biển, qui mô nhỏ
với các ĐB Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bình - Trị - Thiên, Nam - Ngãi - Định, Phú Yên - Khánh Hòa,
12
Ninh - Bình Thuận. Diện tích 14.560 km
2
(
≈
diện tích ĐB S.Hồng), các đồng bằng này đều là địa
bàn trồng lúa và các loại cây trồng khác với qui mô và ý nghĩa khác nhau: ĐB Thanh Hoá (diện
tích lớn nhất 2.900 km
2
), là ĐB chuyển tiếp từ châu thổ S.Hồng sang ĐB Nghệ Tĩnh, được phù sa
S.Mã và S.Chu bồi đắp, đất đai khá màu mỡ, có khả năng phát triển nông nghiệp; có thể coi là
vựa lúa lớn của vùng B.Trung Bộ. Ở DH Nam Trung Bộ, đồng bằng khá màu mỡ là Phú Yên,
Bình Định và Quảng Nam, riêng ĐB Ninh - Bình Thuận, kém màu mỡ, khô hạn, ít có điều kiện
suất rất cao (
≥
72 tạ/ha), chủ yếu làm thức ăn cho chăn nuôi. Diện tích trồng khoai lang có xu
hướng giảm, thay vào đó là những cây trồng khác có giá trị cao hơn. Sản lượng cả nước (2008) là
1,32 triệu tấn, cao nhất là Bắc Trung Bộ (23,7%), ĐB sông Hồng (20,1%), Đông Bắc (19,4%)
13
- Cây sắn, diện tích cũng giảm. Hạn chế chính của cây sắn là chiếm diện tích đất quanh
năm, thường trồng trên các vùng đồi thoải đã bạc màu. Cây sinh trưởng tốt, nhưng không có khả
năng bảo vệ đất khi mưa nhiều với cường độ cao, đất dễ bị xói mòn rửa trôi.
Bảng 3.5: Diện tích và sản lượng cây màu lương thực thời kỳ 1985 – 2008
Năm
Diện tích (1000 ha) Sản lượng (1000 tấn)
Ngô Khoai Sắn Ngô Khoai Sắn
1985 397,3 320,0 335,0 587,1 1777,7 2939,8
1990 431,8 321,1 256,8 671,0 1929,0 2275,8
1995 556,8 304,6 277,4 1177,2 1685,8 2211,5
2000 730,2 254,3 237,6 2005,9 1611,3 1986,3
2005 1052,6 185,3 425,5 3787,1 1443,1 6716,2
2008 1125,9 162,2 557,7 4531,2 1323,9 9395,8
c. Tập đoàn cây thực phẩm.
Hiện nay, chúng ta đã nhập nội, lai tạo từ nhiều giống cây nhiệt đới, cận nhiệt
và ôn đới, nên tập đoàn cây này tăng cả về số và chất lượng. Giá trị sản xuất cây thực
phẩm tăng khá nhanh, năm 1990 là 3.477,0 tỉ đồng, năm 1999 là 6.179,6 tỉ đồng và
năm 2008 là 10.560,4 tỉ đồng. Vùng rau lớn nhất là ĐB sông Hồng với đủ loại từ nhiệt
đới - cận nhiệt - ôn đới. Ở Sa Pa, Đà Lạt là các loại rau cận nhiệt và ôn đới.
3.1.2. Ngành trồng cây công nghiệp (cây CN)
a. Khái quát chung
Cây công nghiệp còn gọi là cây kĩ thuật để chỉ mục đích và tính chất của việc gieo trồng
nhằm cung cấp nguyên liệu cho CNCB’ nông sản. Là loại cây có ý nghĩa quan trọng đối với sự
phát triển KT-XH. Các SP của nó là nguồn nguyên liệu cung cấp cho CNCB’, là nguồn xuất khẩu
Long An (15,4 ngàn),…
- Cây lạc có 2 loại (3 tháng, 6 tháng). Cây lạc có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ở Bắc
Áchentina và Nam Bôlivia, đòi hỏi nhiệt độ TB ~ cao, ổn định và đủ ẩm. Năm 2008, diện tích lạc
cả nước là 256,0 ngàn ha, sản lượng 529,2 ngàn tấn. Các vùng trồng nhiều nhất B.Trung Bộ
(28,8% diện tích & 27,70% sản lượng cả nước), Đông Bắc (17,4% % & 14,7% ), DH Nam Trung
Bộ (13,1% & 10,9%), ĐB sông Hồng (12,3% & 14,70%), Đông Nam Bộ (11,6% & 16,0%). Các
tỉnh có diện tích và sản lượng cao nhất là: Tây Ninh (73,9 ngàn tấn), Nghệ An (52,1), Hà Tĩnh
(44,6), Thanh Hoá (28,8), Bắc Giang (25,8), Nam Định (25,7)
- Cây đậu tương: là cây cho hạt làm thực phẩm, ép lấy dầu, còn khô dầu dùng cho chăn
nuôi, hạt có chất đạm cao nhất trong các loại đậu. Đây là cây điển hình của vùng châu Á gió mùa.
Đậu tương cũng có nhiều loại thích nghi với nhiều vùng khí hậu khác nhau từ ôn đới đến nhiệt
đới, cây ưa ẩm nhưng không đòi hỏi nhiều nhiệt. Ở nước ta, đậu tương được trên phạm vi rộng
suốt từ Bắc vào Nam. Năm 2008, diện tích của cả nước là 191,5 ngàn ha, sản lượng 268,6 ngàn
tấn. Tỉnh có diện tích và sản lượng cao nhất là Hà Nội (34,8 ngàn ha và 43,9 ngàn tấn)), Hà
Giang (19,9 ngàn ha và 20,9 ngàn tấn), Đắc Nông ( 15,7 ngàn ha và 32,6 ngàn tấn).
- Cây thuốc lá: là cây thích hợp với loại đất giàu N, P, K, Ca, nhiều mùn với nhiệt độ 18
0
- 27
0
C. Ở nước ta, các khu vực MN’ và TD thuộc một số vùng có nhiều thuận lợi để trồng thuốc
lá. Diện tích trồng thuốc lá không ổn định. Năm 1985 diện tích 42,6 ngàn ha và sản lượng 38,4
ngàn tấn, thì đến năm 2008 giảm xuống còn 16,4 ngàn ha và 28,7 ngàn tấn. Vùng trồng nhiều
nhất Đông Nam Bộ (57,4% diện tích và 52,7% sản lượng cả nước), Đông Bắc (21,2% , 22,7%),
DH Nam Trung Bộ (8,0%, 8,5%). Tỉnh trồng nhiều nhất Tây Ninh, Đồng Nai, Lạng Sơn.
- Cây bông: là nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp kéo sợi, dệt vải. Cây bông ưa khí
hậu nóng, nhiệt độ thích hợp nhất là 25
0
-30
0
C; ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ dưới 17
hợp lý từ khâu gieo trồng - thu hoạch - bảo quản - vận chuyển nối liền với công nghiệp chế biến
để đảm bảo chất lượng của nguyên liệu.
Với điều kiện sinh thái khác nhau cho từng loại cây cùng với sự phân hóa khí hậu đã tạo
nên những tiền đề để có thể trồng được từ giống cây có nguồn gốc nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới.
Mỗi cây trồng đòi hỏi điều kiện sinh thái nhất định (nếu một số loại cây có sự tương đối đồng
nhất về điều kiện sinh thái; thì đất với tính chất lý - hóa khác nhau lại có ý nghĩa to lớn trong việc
phân hóa cây trồng). Ví dụ, cây chè và cao su đòi hỏi độ pH là 4,0-4,5; cây cao su lại sống được
trên đất kiềm, còn cây chè lại kỵ canxi.
Điều kiện sinh thái của một số loại cây công nghiệp lâu năm.
Loại
cây
Các điều kiện sinh thái
Đánh giá chung
Khí hậu Đất đai
Chè
Nhiệt độ 15-30
0C
, độ ẩm
~80%, mưa đều quanh năm
Chua, pH: 4,0 - 4,5, tơi, xốp,
đất cao, nước ngầm 1,2m
Cần nhiệt của cận nhiệt.
Cần ẩm của nhiệt đới.
Hồi
Nhiệt độ (giống như chè), 2
mùa khô, mưa rõ rệt
Hơi chua đến kiềm, pH 5,0 -
6,5, nước ngầm sâu, tơi xốp
Nếu mưa ít thì hoa ít
tinh dầu.
nhiệt đới và vùng rừng Đông Nam Á). Cây này được biết đến vào cuối thế kỷ XIX, khi CN ô tô
ra đời và đòi hỏi nhiều săm lốp, thì cao su mới được phát triển. Ở nước ta, cao su được trồng từ
cuối TK 19 ở Thủ Dầu Một và Khánh Hoà; các đồn điền được hình thành ở Đ.Nam Bộ và Tây
Nguyên. Năm 1920: diện tích 7,2 ngàn ha; năm 1963 tăng lên 14,0 ngàn ha. Trong chiến tranh,
một số rừng cao su già cỗi, một số khác bị tàn phá (năm 1975 chỉ còn 8.000 ha). Từ năm 1980 trở
lại đây diện tích & sản lượng tăng nhanh, năm 1990 (211,7 ngàn ha & sản lượng 57,9 ngàn tấn),
đến 2005 (482,7 ngàn ha - 481,6 ngàn tấn) và năm 2008 (631,5 ngàn ha - 659,6 ngàn tấn). Vùng
trồng nhiều nhất Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh), chiếm khoảng
80% diện tích cho sản phẩm (mủ) cả nước. Ngoài ra, cao su đang phát triển mạnh ở Tây Nguyên
(Gia Lai). Ở Bắc Trung Bộ (Quảng Trị và Phủ Quì, Nghệ An) Đây là loại cây mang lại hiệu quả
kinh tế tổng hợp (gỗ, nhựa ), nước ta diện tích trồng cao su còn nhiều. Vì vậy, cần tìm kiếm và
mở rộng thị trường…
- Cà phê: Là loại cây ưa nhiệt (trên 15
0
C), cần ẩm (lượng mưa > 1.250 mm/năm), là cây
lấy hạt, có thể trồng từ vĩ tuyến 20
0
B trở vào. Cà phê nhập vào nước ta có 3 loại là: Cà phê chè
(Coffea Arabica) nguồn gốc từ Êtiôpi; Cà phê vối (coffea Robusta) nguồn gốc từ Công Gô; Cà
phê mít (coffea excelea) nguồn gốc Libêria. Trong 3 giống này, cà phê chè ưa khí hậu chí tuyến
(cây này xuất xứ ở các vùng núi cao, nếu đưa xuống trồng ở các thung lũng có biên độ nhiệt hàng
ngày lớn, cây hay có bệnh rỉ sắt).
Diện tích cà phê tăng khá nhanh: năm 1976 là 18,8 ngàn ha, 1985 tăng lên 44,7 ngàn ha,
năm 2005 tăng lên 497,4 ngàn ha và đến năm 2008 là 530,9 ngàn ha. Sản lượng năm 1990 là 92,0
ngàn tấn thì đến năm 2005 tăng lên 752,1 ngàn tấn và năm 2008 là 1.055,8 ngàn tấn. Vùng trồng
nhiều nhất là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Các tỉnh có diện tích nhiều nhất là Đắc Lắc (3/4
diện tích cả nước), Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước…
Cây cà phê mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhu cầu thị trường TG lớn (mặc dù giá cả có
nhiều biến động; nhưng thị trường xuất khẩu vẫn được mở rộng). Năm 1985, xuất khẩu mới đạt
9,2 ngàn tấn thì đến 1990 tăng lên 89,6 ngàn tấn, năm 2002 là 719,0 ngàn tấn và năm 2005 là
3.1.3. Ngành trồng cây ăn quả
Ngành này được phát triển khá sớm với nhiều sản phẩm nổi tiếng như cam Xã Đoài, bưởi
Đoan Hùng, Phúc Trạch, Biên Hoà, nhãn Hưng Yên, xoài Lái Thiêu (Bình Dương), đào Sa Pa,
mận Lạng Sơn Tuy nhiên, ngành này phát triển chậm và thiếu ổn định. Năm 1990, cả nước mới
có 281,2 ngàn ha cây ăn quả các loại, năm 2005 là 767,4 ngàn ha và 2008 là 775,3 ngàn ha. Các
vùng trồng cây ăn quả hàng hoá: xoài ở Đông Nam Bộ, ĐB sông Cửu Long; cam Phủ Quì (Nghệ
An); mận Bắc Hà (Lào Cai); vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang)
3.2. NGÀNH CHĂN NUÔI
3.2.1. Đặc điểm chung
Trước đây, ngành này chưa được coi là ngành sản xuất độc lập, chủ yếu là ngành hỗ trợ
cho trồng trọt. Khi chăn nuôi người ta chỉ nghĩ đến sức kéo, vận tải cùng các chợ bán trâu, bò,
ngựa còn nuôi gia cầm là chỉ dùng khi cơ nhỡ, hay dùng trong việc cưới xin, ma chay, giỗ tết
nhu cầu này không đủ để kích thích sản xuất hàng hoá. Khi cơ chế thị trường mở ra, người dân đã
quen với sản xuất nông phẩm hàng hoá, thì hình thức chăn nuôi đã thay đổi (chăn nuôi công
nghiệp đã phổ biến đến các hộ gia đình), sản phẩm cung cấp cho công nghiệp chế biến và cho
xuất khẩu ngày càng tăng. Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi, thì giá trị sản xuất của
chăn nuôi gia súc chiếm tỉ trọng lớn nhất (
±
70,0%), gia cầm có xu hướng giảm, các sản phẩm
không qua giết thịt có xu hướng tăng, nhưng chưa ổn định. Tỉ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi
trong nông nghiệp cũng chỉ dao động ở gần 20,0% (năm 1990 là 16,63%, 2000 là 16,51%, 2008
là 19,75%).
Bảng 3.9. Cơ cấu giá trị SX ngành chăn nuôi theo vật nuôi và theo sản phẩm 1990 - 2008 (%).
Các ngành chăn nuôi 1990 1995 2000 2005 2008
Tổng giá trị 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Gia súc 63,87 69,92 61,41 71,17 70,39
Gia cầm 19,26 17,50 17,81 13,47 14.21
Sản phẩm không qua giết thịt 12,92 14,19 15,14 13,29 13,54
Sản phẩm khác 3,95 3,39 2,64 2,06 1,86
Bảng 3.10. Sản lượng sản phẩm chăn nuôi chủ yếu từ 2000 – 2008
đồng bằng lớn có nhu cầu về sức kéo, thì 60% đàn trâu lại tập trung ở TDMNPB’, nhu cầu tiêu
thụ SP thịt tập trung ở vùng đông dân cũng là một vấn đề cần đặt ra trong thời gian tới.
Bảng 3.11. Số lượng đàn gia súc, gia cầm thời kỳ 1990 - 2008. (Nghìn con)
Trâu Bò Lợn Ngựa Dê, cừu Gia cầm
1990 2854,1 3116,9 12260,5 141,3 372,3 107400,0
1995 2962,8 3638,9 16306,4 126,8 550,5 163000,0
2000 2897,2 4127,9 20193,8 126.5 543,9 196100,0
2005 2922,2 5540,7 27435.0 110.5 1314.1 219900,0
2008 2897,7 6337,7 26701,6 121,0 1483,5 247300,0
3.2.3. Chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm
19
- Đàn lợn: chăn nuôi lợn gắn liền với các vùng sản xuất lương thực. Đàn lợn tăng khá
nhanh và vững chắc. Năm 2008, cả nước có trên 26,7 triệu con (tăng 2,3 lần so với 1985). Các
vùng nuôi nhiều nhất là ĐB sông Hồng (6,79 triệu con – 25,4% cả nước), Đông Bắc (18,7%),
Bắc Trung Bộ (13,3%), ĐB sông Cửu Long (13,6%). Các tỉnh – thành phố có số đầu lợn nhiều
nhất Hà Nội (1,66 triệu con), Nghệ An (1,17 triệu), Thanh Hoá (1,14 triệu), Đồng Nai (1,08
triệu), Nam Định (1,02 triệu), Bắc Giang (1,05 triệu).
- Dê, cừu: là loại mắn đẻ, cho năng suất cao. Riêng về cừu, chủ yếu để lấy lông, ở nước ta
còn đang thử nghiệm, nhưng ít hiệu quả. Đàn dê chăn thả chủ yếu ở các vùng núi đá. Đàn cừu
chủ yếu nuôi ở vùng cao nguyên. Năm 1990 tổng đàn dê cừu là 372,3 ngàn con, đến năm 2008
tăng lên 1,48 triệu con (tăng 4,0 lần).
- Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm thường gắn liền với việc tận dụng nguồn lao
động phụ, phế liệu của ngành trồng trọt, là ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao (do chu kỳ sinh
trưởng ngắn). Nhờ phát triển CNCB’ thức ăn kết hợp với nhu cầu ngày càng cao của thị trường,
đàn gia cầm liên tục tăng. Năm 2008 là 247,3 triệu con. Đàn gà, được nuôi ở đồng bằng, TDMN’;
ven các TP lớn có hình thức nuôi công nghiệp. Đàn vịt, nhiều nhất ở ĐB sông Cửu Long. Ngan,
ngỗng được nuôi ở nhiều vùng, nhưng nhiều nhất thuộc về ĐB sông Hồng và DHMT. Vào cuối
năm 2002 đầu năm 2003 dịch cúm gia cầm bùng phát (tiêu hủy tới 35,0 triệu con). Vì vậy việc
phát triển đàn gia cầm nên dự kiến là 340-350 triệu con vào năm 2010, trong đó đẩy mạnh liên
doanh chăn nuôi gà ở các TP HCM, Đồng Nai, Ninh Bình, Hải Dương
giảm tuổi thọ của các hồ thủy điện và thủy lợi và gây ra nhiều hậu quả khác kèm theo nó.
- Rừng là nguồn cung cấp gỗ, lâm sản cho nhu cầu đời sống và sản xuất; cung cấp các mặt
hàng xuất khẩu quan trọng (gỗ, lâm sản); Đối với các vùng cao, rừng còn là nguồn sống chủ yếu
của đồng bào dân tộc. Trong quá trình CNH’ và ĐTH', nhu cầu gỗ phục vụ cho nhu cầu xây dựng
cơ bản cần phải được ưu tiên phát triển. Nếu mỗi năm nhu cầu gỗ cho xây dựng cơ bản ~ 30 triệu
m
3
,
thì
cần phải ổn định qui mô rừng sản xuất ~ 5,0 triệu ha; trên thực tế nếu tính cả gỗ, củi khai
thác (cả khai thác không có tổ chức) thì chúng ta chỉ đạt ~ 25 triệu m
3
/năm. Vì vậy, việc qui
hoạch, chăm sóc, tu bổ, trồng mới, khai thác, CB' với nước ta hiện nay là rất quan trọng.
2. Tình hình khai thác – chế biến gỗ, lâm sản
2.1. Thực trạng nguồn tài nguyên rừng
Năm 2008, diện tích rừng của cả nước 13,11 triệu ha (rừng tự nhiên là 10,3 triệu ha), độ
che phủ gần 39,0%. Sự phát triển của ngành lâm nghiệp gắn liền với tài nguyên rừng, nguồn tài
nguyên rừng lại biến động rất mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, cả theo hướng tích cực và
tiêu cực. Chỉ tính từ sau 1975, thì thời kỳ từ 1976 - 1990 mỗi năm rừng nước ta mất ~ 1,2% diện
tích; từ năm 1991 - 1995 tỉ lệ rừng bị mất trung bình 0,88%/năm. Tây Nguyên và các tỉnh Nam
Bộ, rừng mất nhanh nhất; Trong khi đó, các tỉnh miền Bắc rừng có xu thế ổn định và tăng lên.
▪ Rừng tự nhiên: Liên tục giảm suốt thời kỳ từ 1976 cho đến 1995. Theo kết quả điều tra,
đánh giá của Viện điều tra, qui hoạch rừng 1995, thì chỉ sau 14 năm (1976-1990), rừng tự nhiên
giảm ~ 2,0 triệu ha (190.000ha/năm); từ sau 1990, diện tích rừng giảm chậm hơn và bằng ~ 1/4
thời kỳ trước đó. Trong các kiểu rừng trên (trừ rừng lá rộng rụng lá và rừng hỗn giao gỗ và tre,
nứa) thì tất cả các kiểu rừng còn lại đều giảm về diện tích. Cụ thể:
- Rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá giảm nhanh nhất, đặc biệt là ở Đắc Lắc và
3 18914 5196
2242,
4
ĐBSH 10,5 5,4 19,3 167 166,3 115 9 5,2
TD&MNP
B 52,90 82,2
78,4
679 3546
425,3
2199 265 297,0
DHMTrun
g 80,8 66,9
72,7
1842 411
593,7
2487 1040 238,0
T.Nguyên 11,1 9,5 15,6 2344 211 24,0 10134 3154 662,5
ĐNBộ 14,8 7,1 3,7 520 458 86,9 1387 714
1026,
0
ĐB SCL 39,5 17,2 6,9 2072 012 306,9 2592 15 13,7
Bộ QP-CA 41,8 3,5
▪ Vấn đề tu bổ, bảo vệ rừng. Bắt đầu từ năm 1992, Nhà nước đã tiến hành XD các khu
bảo tồn tự nhiên. Năm 2007 cả nước có 30 vườn quốc gia, 65 khu dự trữ thiên nhiên và bảo tồn
loài – sinh cảnh, 6 khu được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới với tổng
diện tích trên 2,09 triệu ha (năm 05/2009 UNESCO công nhận thêm Cù Lao Chàm và Cà Mau) .
2.2. Tình hình khai thác – chế biến gỗ, lâm sản
- Về cơ cấu: rừng chia làm 3 loại ( phòng hộ, đặc dụng và kinh doanh sản xuất)
22
- Rừng kinh doanh bao gồm: Rừng gỗ phục vụ cho xây dựng cơ bản; Rừng nguyên liệu
Tây Bắc 254,0 226,7 230,4 247,4 185,0 279,7 226,6
Duyên hải miền Trung 653,5 646,8 497,0 553,2 656,3 833,2 1057,2
Bắc Trung Bộ 323,4 290,7 219,4 235,2 293,6 310,8 388,2
DH Nam Trung Bộ 330,1 356,1 277,6 318,0 362,7 522,4 669,0
Tây Nguyên 415,3 335,1 243,5 395,2 313,0 309,3 373,6
Đông Nam Bộ 121,8 103,2 84,9 105,4 76,1 90,4 128,4
ĐB sông Cửu Long 520,7 527,9 462,2 458,8 581,8 609,8 632,1
- Các lâm trường lớn hoạt động dưới dạng Liên hiệp L-N-CN đó là Liên hiệp nguyên liệu
giấy Bãi Bằng, Liên hiệp các xí nghiệp gỗ trụ mỏ, Liên hiệp nông-công nghiệp Sông Hiếu, Liên
hiệp Kôn Hà Nừng, Liên hiệp Easúp, Liên hiệp Gia Nghĩa, Liên hiệp La Ngà.
- Những xưởng cưa xẻ lớn thường tập trung ở những nơi có điều kiện thuận tiện tập trung
gỗ (ở hợp lưu các sông, hoặc nơi có điều kiện xuất khẩu): Hà Nội, Hải Phòng, Hàm Rồng, Vinh,
Đà Nẵng, Qui Nhơn, Biên Hòa, TP HCM là những nơi tập trung nhiều xưởng cưa xẻ lớn. Ngoài
ra, ở các địa phương cũng có những xưởng cưa xẻ nhỏ phục vụ chủ yếu nhu cầu dân dụng.
- Về gỗ dán, có một số cơ sở sản xuất như xí nghiệp gỗ dán Cầu Đuống (Hà Nội), Bến
Thủy (Vinh), Biên Hòa, TP HCM. Các xưởng đồ gỗ phát triển mạnh ở các thành phố lớn, nơi có
nhu cầu tiêu thụ cao như Hà Nội, Đà Nẵng, Biên Hòa và TP HCM.
- Ngành sản xuất mây, tre, trúc phổ biến ở Cao bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên,
Hà Giang, Sơn La, Hoà Bình, Hà Nội, Nghệ-Tĩnh, Bình-Trị-Thiên, Biên Hòa, TP HCM. Các mặt
hàng thường làm bằng phương pháp thủ công để xuất khẩu.
- Ngành sản xuất diêm, các xí nghiệp phân bố ở Hà Nội, Biên Hòa và TP HCM, hàng năm
sản xuất > 350 triệu bao.
23
- Ngành sản xuất giấy: Lớn nhất là nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ) và Tân Mai (Đồng
Nai). Ở miền Bắc có những nhà máy giấy như Hoàng Văn Thụ (Thái Nguyên); Việt Trì (Phú
Thọ); Lam Sơn (Thanh Hóa), riêng nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ) thuộc loại hiện đại nhất,
công suất 60.000 tấn/năm; nhà máy nằm trên hợp lưu của 3 con sông Chảy, Lô, Gâm, hợp điểm
của nhiều nguồn gỗ, tre, nứa cung cấp cho nhà máy. Ở miền Nam có tới ~ 10 nhà máy làm giấy
có máy móc tối tân (COGIVINA; NAGICO; COGIMEKO; Nam Việt; Long Thành .v.v.) phần
lớn ở TP HCM, Biên Hòa và Tân Mai (Đồng Nai). Trước đây, các nhà máy này dùng bột giấy
gạo). Thị trường được mở rộng tới 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngoài ra, ngành này đã thu hút
3,1% số lao động có việc làm của cả nước (1,1 triệu lao động), bao gồm 45,0 vạn lao động làm
nghề đánh bắt, 56,0 vạn lao động làm nghề nuôi trồng và 6 vạn lao động trong lĩnh vực chế biến.
2. Tình hình phát triển
2.1. Sản lượng thủy sản
Sản lượng thủy sản ở nước ta tăng khá nhanh. năm 1990 sản lượng đạt 890,6 ngàn tấn (khai
thác 728,5 ngàn tấn, nuôi trồng 162,1 ngàn tấn), đến 1995 sản lượng là 1584,4 ngàn tấn (1195,3
ngàn tấn và 389,1 ngàn tấn). Năm 2008, sản lượng thủy sản tăng lên 4,60 triệu tấn (khai thác
2136,4 ngàn tấn, nuôi trồng 2465,6 ngàn tấn). Trong cơ cấu, thủy sản nuôi trồng tăng nhanh về tỉ
trọng từ 18,2% (năm 1990) tăng lên 53,58% (năm 2008)
Sản lượng cao nhất là ĐB sông Cửu Long 2,70 triệu tấn (58,70% cả nước), DH Nam Trung
Bộ (14,70% cả nước), ĐB sông Hồng (9,20%).
Bảng 3.15. Sản lượng thủy sản phân theo địa phương từ 1995 – 2008 (nghìn tấn)
1995 2000 2005 2008
Cả nước 1584,40 2250,5 3465,92 4602,03
Đồng bằng sông Hồng 110,30 194,00 324,38 424,79
Trung du và miền núi phía Bắc 40,20 55,10 98,81 133,31
Đông Bắc 37,04 51,10 91,13 122,70
Tây Bắc 3,18 4,0 7,67 10,61
Duyên hải miền Trung 448,08 627,81 871,57 985,56
Bắc Trung Bộ 108,71 164,87 247,71 309,31
Duyên hải Nam Trung Bộ 339,37 462,93 623,85 676,25
Tây Nguyên 8,90 10,28 14,58 18,43
Đông Nam Bộ 157,60 194,26 310,77 338,0
Đồng bằng sông Cửu Long 819,20 1169,0 1845,82 2701,9
2.2. Đánh bắt hải sản (chủ yếu là cá biển)
Tất cả các tỉnh ven biển đều có ngành khai thác phát triển đặc biệt phát triển mạnh ở DH
Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Năm 2008, sản lượng cá biển của cả nước đạt 1,47 triệu tấn. ĐB sông
Cửu Long (38,15% cả nước), DH Nam Trung Bộ (30,42% cả nước), Đông Nam Bộ (14,30% cả
25