Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam - phần 3 - Pdf 18

ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 3
(Các vùng kinh tế)
Chương 6.
TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÁC VÙNG KINH TẾ.
A. VÙNG KINH TẾ
1. Tính chất khách quan của vùng kinh tế
Khi LLSX XH phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của phân công LĐXH. Phân công
LĐXH được biểu hiện ở 2 hình thức cơ bản là phân công lao động theo ngành và phân công lao
động theo lãnh thổ. Phân công lao động theo lãnh thổ dẫn tới hình thành các không gian kinh tế
đặc thù - Các vùng kinh tế.
Vùng kinh tế (cũng giống như bất kỳ thực thể kinh tế nào đó) hình thành, hoạt động &
phát triển đều có tính qui luật. Con người (có thể) & cần phải nhận thức được những qui luật vận
động của nó, để trên cơ sở đó mà cải tạo & xây dựng vùng phát triển một cách hướng đích.
Vùng là sản phẩm của quá trình phát triển phân công lao động theo lãnh thổ, vùng kinh tế
hình thành & hoạt động phù hợp với với những đặc trưng cơ bản của một hình thái KT-XH nhất
định. Nhưng cần hiểu rằng, không phải ở mọi hình thái KT-XH trong lịch sử đều tồn tại vùng
kinh tế. Cụ thể:
- Thời kỳ trước Tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế tự nhiên là chủ yếu, LLSX còn kém phát
triển, PCLĐXH theo lãnh thổ còn thô sơ, chưa có những tiền đề vật chất cần thiết cho việc hình
thành vùng kinh tế.
- Đến thời kỳ TBCN, sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển mang tính chất phổ biến.
Thời kỳ công trường thủ công là thời kỳ bắt đầu phát triển mạnh nền sản xuất hàng hóa, nhiều
ngành mới xuất hiện, số lượng các ngành riêng biệt & độc lập tăng lên, thị trường được mở rộng
đã hình thành các vùng SX CMH' thúc đẩy mạnh mẽ sự PCLĐ theo lãnh thổ. Công trường thủ
công không chỉ tạo ra từng khu vực rộng lớn mà còn CMH' những khu vực đó nữa (sự phân công
theo hàng hóa). Như vậy, đến thời kỳ công trường thủ công thì vùng kinh tế mới được hình
thành Chủ nghĩa tư bản càng phát triển càng thúc đẩy phân công lao động theo lãnh thổ phát
triển, mỗi vùng nhất định chuyên sản xuất một bộ phận của sản phẩm được hình thành, và ta thấy
"có mối quan hệ chặt chẽ giữa phân công (nói chung) và phân công (khu vực); Tức là một khu
vực nhất định chuyên chế tạo một sản phẩm, đôi khi chuyên làm một loại sản phẩm, thậm chí làm
một bộ phận nào đó của sản phẩm". Chính PTSX Tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ tính chất cô lập

đóng nhiều vai trò khác nhau & có tác động đến sự hình thành & phát triển vùng kinh tế về nhiều
mặt, (ví dụ, than đá, dầu mỏ, khí tự nhiên, vừa là nhiên liệu, nhưng cũng là nguồn nguyên liệu
để sản xuất ra hàng trăm loại sản phẩm hóa chất khác nhau). Ảnh hưởng của tài nguyên khoáng
sản đối với việc hình thành vùng kinh tế ở các mặt trữ lượng, chất lượng, sự phân bố, điều kiện
khai thác, mức độ sử dụng Việc đánh giá sự ảnh hưởng của nó cần xem xét dưới góc độ tổng
hợp, tìm ra ảnh hưởng "trội" để có thể xác định khả năng CMH' sản xuất của vùng.
Các nguồn tài nguyên rừng, hải sản & nông sản cũng ảnh hưởng quan trọng đến sự hình
thành & phát triển vùng kinh tế. Cụ thể, các vùng rừng có trữ lượng gỗ lớn có khả năng hình
thành & phát triển các ngành sản xuất CMH' gắn với tài nguyên rừng. Các nguồn cá biển, cá
nước ngọt, các đặc hải sản cho phép hình thành các vùng CMH' về CB' - khai thác - nuôi trồng
các loại thủy sản đặc biệt (tôm, cua, bào ngư, trai ngọc,.v.v.).
- Đất đai. Vùng kinh tế là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia; Khái niệm vùng gắn liền
với khái niệm phạm vi nhất định của diện tích đất đai; Đất đai là TLSX cơ bản trong nông
nghiệp, có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp & hình thành các vùng chuyên canh;
2
Yếu tố tạo vùng quan trọng của đất đai là thổ nhưỡng, vì vậy cần đánh giá ý nghĩa kinh tế của thổ
nhưỡng để tạo ra các vùng chuyên canh phù hợp; Tác dụng tạo vùng của thổ nhưỡng thể hiện ở
chất đất, ở tính chất liền dải đối với việc phát triển một loại cây trồng nào đó. Như vậy khi xem
xét yếu tố tạo vùng của đất đai, cần xem xét cả 2 mặt (thổ nhưỡng & diện tích), ngoài ra còn xem
xét thêm về địa hình, khả năng tưới tiêu
- Khí hậu. Để tạo vùng, thì khí hậu đóng vai trò quan trọng. Ảnh hưởng của khí hậu đối
với SXNN là việc bố trí các loại cây trồng - giống vật nuôi phù hợp. Khí hậu - thổ nhưỡng là
những yếu tố trội tác động mạnh mẽ đến việc hình thành các vùng CMH' sản xuất nông nghiệp.
Nước ta, do vị trí & hình dáng lãnh thổ kéo dài theo nhiều vĩ độ, nằm trong vùng nhiệt đới - gió
mùa, địa hình phân hóa đa dạng. Vì vậy, ng/cứu về đất đai & khí hậu cần được đặc biệt chú ý
trong quá trình hình thành vùng kinh tế.
• Yếu tố kinh tế
- Trung tâm công nghiệp (TTCN), thành phố lớn. Thông thường, các thành phố lớn hay
TTCN đều tạo ra quanh mình một vùng ảnh hưởng, trong đó mọi sinh hoạt kinh tế đều do thành
phố, TTCN chi phối. Vì vậy, khi nghiên cứu vùng kinh tế phải xuất phát từ thành phố & TTCN

phát triển lâu dài về lịch sử - văn hóa – xã hội. Vì vậy, khi nghiên cứu quá trình hình thành vùng
phải có quan điểm lịch sử đúng đắn. Những yếu tố tạo vùng đều có mối quan hệ tác động qua lại
với nhau trong một thể thống nhất, việc nghiên cứu quá trình hình thành & phát triển vùng kinh tế
cần phải phân tích tỉ mỉ, sâu sắc từng yếu tố; mối quan hệ giữa chúng với nhau (cả trong trạng
thái tĩnh và động).
3. Nội dung của vùng kinh tế
Vùng kinh tế là một bộ phận kinh tế lãnh thổ đặc thù của nền KTQD có CMH' sản xuất
kết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp. Như vậy, có thể hiểu vùng kinh tế bào hàm 2 nội dung
là CMH' & phát triển tổng hợp.
3.1. Chuyên môn hóa sản xuất của vùng kinh tế (CMH' SX)
Trước hết, vùng kinh tế phải là một vùng sản xuất CMH'. Sự CMH' nói lên chức năng sản
xuất cơ bản, quyết định phương hướng sản xuất chủ yếu của vùng trong một giai đoạn nhất định.
Mặt khác, CMH còn nói lên vai trò, vị trí của vùng trong nền KTQD, xác định nhiệm vụ cơ bản
mà vùng phải đảm nhận đối với cả nước (hay với nhiều vùng) trong một thời gian tương đối dài.
- CMH' sản xuất của vùng kinh tế là dựa vào những ưu thế của vùng để phát triển một số
ngành có ý nghĩa đối với cả nước (hoặc đối với thị trường thế giới). Những ưu thế của vùng là
những điều kiện đặc thù về TN - KT - dân cư - lịch sử - XH - VH - KH - KT & CN. Các vùng
kinh tế khác nhau không chỉ về điều kiện tự nhiên mà còn khác nhau về trình độ phát triển của
LLSX, về mật độ dân số, về nguồn lao động (đặc biệt là lao động có kĩ thuật), về cơ sở kinh tế,
về CSVC - KT, khoa học được tạo ra trong quá trình lịch sử. Sự CMH' sản xuất của vùng kinh tế
chính là sự lợi dụng những điều kiện đặc thù đó, nhằm tiết kiệm & tăng NS LĐXH, nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư vào sản xuất - kinh doanh, tạo ra khối lượng hàng hóa tốt - rẻ - có sức cạnh
tranh, thỏa mãn nhu cầu của vùng, đáp ứng nhu cầu nhất định của nền KTQD, tham gia tích cực
vào hoạt động KT-XH giữa các vùng, góp phần đẩy nhanh quá trình PCLĐXH theo lãnh thổ trên
phạm vi cả nước.
Tiêu chuẩn quan trọng để xác định một ngành SX CMH' là khối lượng - chất lượng
sản phẩm hàng hóa xuất ra ngoài vùng. Người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
(1) Tỷ trọng (%) sản phẩm hàng hóa xuất ra ngoài vùng của một ngành nào đó chiếm
trong toàn bộ sản phẩm của ngành đó ở trong vùng.
(2) Tỷ trọng (%) sản phẩm xuất ra ngoài vùng của một ngành nào đó chiếm trong toàn bộ

phân bố; mà là một sự kết hợp xã hội của sản xuất trong phạm vi một vùng kinh tế. Giữa các
ngành của tổng hợp thể kinh tế vùng có sự phụ thuộc lẫn nhau theo một tỉ lệ nhất định, khiến
chúng phát triển một cách cân đối, nhịp nhàng theo một kế hoạch thống nhất. Tất nhiên, mối liên
hệ đó không phải hình thành ngay trong cùng một lúc, mà nó hình thành dần dần theo sự phát
triển của LLSX của vùng. Cho nên, việc xác định cơ cấu kinh tế của vùng theo nguyên tắc tương
lai là phải dự báo được những khả năng biến động để tìm ra các giải pháp đảm bảo cho sự phát
triển tổng hợp - hợp lý của vùng. CMH' sản xuất kết hợp chặt chẽ với phát triển tổng hợp nền
kinh tế của vùng tạo thành tổng hợp thể kinh tế của vùng.
5
● Tổng hợp thể kinh tế vùng bao gồm 3 nhóm ngành chủ yếu sau
+ Các ngành SX CMH’. Các ngành sản xuất CMH' của vùng là những ngành đóng vai
trò chủ yếu trong nền kinh tế vùng; quyết định phương hướng sản xuất chủ yếu; quyết định vị trí
của vùng trong sự PCLĐ theo lãnh thổ (giữa vùng & cả nước); quyết định việc hình thành tổng
hợp thể kinh tế của vùng & việc tổ chức - quản lý kinh tế của vùng. Những ngành này hình thành
& phát triển trên cơ sở các điều kiện thuận lợi nhất của vùng & tạo ra sản phẩm hàng hóa có ý
nghĩa quốc gia & quốc tế; Sản phẩm hàng hóa phải có chất lượng cao, giá thành hạ, đủ sức cạnh
tranh; thỏa mãn nhu cầu cả nước hay của nhiều vùng khác, là ngành chiếm tỉ trọng tương đối lớn
trong cơ cấu kinh tế của vùng (hoặc cả nước).
+ Các ngành sản xuất bổ trợ. Là những ngành chủ yếu phát triển để trực tiếp phục vụ
cho các ngành sản xuất CMH' vùng, những ngành này có mối liên hệ, gắn bó với các ngành sản
xuất CMH'. Có thể nói, không có các ngành bổ trợ thì các ngành sản xuất CMH' không thể phát
triển được; nhưng sự phát triển của các ngành bổ trợ lại do các ngành sản xuất CMH' vùng qui
định, các ngành này phát sinh, tồn tại & phát triển tùy thuộc vào hướng sản xuất CMH' của vùng.
Các ngành sản xuất bổ trợ thường bao gồm: Các ngành khai thác và làm giàu nguyên liệu
cung cấp cho các ngành sản xuất CMH'; Các ngành cung cấp thiết bị, vật liệu, nhiên liệu, năng
lượng cho các ngành sản xuất CMH'; Các ngành có liên hệ chặt chẽ với các ngành sản xuất CMH'
về qui trình công nghệ.
+ Các ngành sản xuất phụ: Bao gồm những ngành không có liên quan trực tiếp với các
ngành sản xuất CMH' vùng, nhưng lại rất cần thiết cho sự phát triển vùng, vì những ngành này có
thể đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu sản xuất có tính chất địa phương dựa trên nguồn

hành chính cũng có đầy đủ 2 chức năng cơ bản của một vùng kinh tế tổng hợp (CMH' sản xuất &
phát triển tổng hợp). Bản thân vùng kinh tế hành chính cũng là một tổng hợp thể kinh tế lãnh thổ,
nhưng do ý nghĩa & chức năng hành chính của nó cho nên mỗi vùng kinh tế hành chính là một
đơn vị kinh tế trong phân cấp quản lý của Nhà nước, có ngân sách riêng, có thị trường địa
phương. Những cơ quan-chính quyền của vùng kinh tế hành chính thực hiện cả 2 chức năng là
quản lý hành chính & quản lý kinh tế.
B. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÙNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1. Quan niệm về vùng
Trên thực tế, có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về vùng kinh tế với mục đích & tiêu chí
khác nhau. Song, dù qui mô của vùng có thể lớn nhó khác nhau thì đều có những điểm chung là
trong một lãnh thổ đều có ranh giới nhất định (dù "cứng" hay "mềm"), trong đó có sự tác động
tương hỗ giữa các yếu tố tự nhiên - môi trường - con người (cả sản xuất & tiêu thụ).
Như vậy có thể quan niệm về vùng như sau: "Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia
có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có mối quan hệ tương đối chặt
chẽ giữa các thành phần tạo nên nó, cũng như mối quan hệ có chọn lọc với không gian các cấp
bên ngoài".
Với quan niệm trên, có thể thấy rằng
- Vùng là một hệ thống, bao gồm các mối liên hệ của các bộ phận cấu thành với các dạng
liên hệ địa lý - kỹ thuật - KT - XH bên trong hệ thống cũng như bên ngoài hệ thống.
- Vùng có qui mô khác nhau, sự tồn tại của cùng là khách quan có tính lịch sử (qui mô &
số lượng vùng có thể thay đổi theo các giai đoạn phát triển của đất nước).
- Vùng tồn tại do yêu cầu phát triển của nền KTQD; Tính khách quan của vùng được cụ
thể hóa thông quan những nguyên tắc do con người tạo ra.
7
- Vùng là cơ sở để hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng
như để quản lý các quá trình phát triển KT - XH của mỗi vùng.
2. Hệ thống vùng của nước ta qua các giai đoạn phát triển
a. Những nhận biết ban đầu về vùng KT đến đầu những năm 60 (thế kỉ XX)
- Giữa TK 15 (khi khoa học địa lý mới phát triển) ở nước ta "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi
ra đời (1435) với một loạt công trình nghiên cứu theo địa vực hành chính, tiếp cận với quan điểm

huyện, thị xã trọng điểm. Nhìn chung thời kỳ này, công tác qui hoạch vẫn tập trung chủ yếu vào
8
phục vụ cho SX nông - lâm. Cuối những năm 1960, trong giáo trình giảng dạy về vùng ở trường
ĐHSP-HN, dựa trên quan điểm vùng của trường phái Địa lý Xô viết hiện đại, GS Trần Đình Gián
phân chia lãnh thổ nước ta thành 2 vùng kinh tế cơ bản với 4 á vùng theo ranh giới chính trị hồi
đó. Vận dụng NQ ĐH Đảng III, Ông chia M.Bắc thành 4 vùng kinh tế hành chính, đồng thời đề
ra một hệ thống 3 cấp: Vùng KT - XH lớn; vùng kinh tế - hành chính tỉnh (hay liên tỉnh); vùng
kinh tế cơ sở huyện (hay liên huyện). Ba cấp đó giống như một hệ thống động lực, hoạt động vừa
có phân cấp - vừa có phối hợp nhằm xây dựng nền KT-XH thống nhất & đa dạng:
Cấp vùng KT-XH lớn phải đủ tiềm lực để trang bị kỹ thuật & đổi mới kỹ thuật - công
nghệ cho nền KTQD trong phạm vi lãnh thổ của mình. Có mạng lưới năng lượng, nguyên liệu,
lương thực cùng các cơ sở chế tạo & thiết bị cơ bản ở mức độ thích hợp; Có hệ thống nghiên cứu
& ĐT hoàn chỉnh (gồm các trường ĐH, CĐ & KT dạy nghề) qui mô thích hợp.
Cấp vùng kinh tế hành chính tỉnh (liên tỉnh) với qui mô lãnh thổ hợp lý là điểm hội tụ của
nền KT TW & ĐP, nhằm hình thành cơ cấu công - NN thích hợp, qui mô vừa và nhỏ.
Cấp vùng kinh tế cơ sở huyện (liên huyện) là những đơn vị HC, KT-XH, quản lý & tổ
chức giữa ngành với lãnh thổ; Mục tiêu là xây dựng cơ cấu N - L - N, tiểu thủ công nghiệp &
công nghiệp, kết hợp truyền thống địa phương, lấy qui mô nhỏ là chính, từng bước thực hiện
CNH' N - L - N ở địa phương.
c. Giai đoạn 1976 - 1980. Ngay sau 1975, một chương trình phân vùng qui hoạch đã được
tiển khai trong cả nước theo quan điểm tổng hợp.
- Năm 1976 trên cơ sở 38 tỉnh - TP, cả nước được chia thành 7 vùng NN - CNCB', hệ
thống 7 vùng NN - CNCB' là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển N - L, hình thành các
vùng CMH' : Cụ thể: (1) TDMNPB' (9 tỉnh): quế, hồi, sơn, chè, trẩu, thuốc lá, hoa quả cận nhiệt,
ngô, sắn, trâu, bò, dê. (2) Đồng bằng sông Hồng (6 tỉnh): lúa gạo, lạc, đậu tương, mía, cói, đay,
rau, chăn nuôi lấy thịt. (3) BTBộ (3 tỉnh): gỗ, lạc, hồ tiêu. (4) DHNTBộ (4 tỉnh): mía, bông, đào
lộn hột, quế, tiêu, lạc, lúa gạo, khoai, bò, lợn. (5) Tây Nguyên (3 tỉnh): cà phê, cao su, chè, dâu
tằm, ngô, trâu, bò. (6) ĐNBộ (4 tỉnh): cao su, cà phê, hồ tiêu, lạc, đậu tương, mía, ngô. (7) Đồng
bằng sông Cửu Long (9 tỉnh): lúa gạo, đậu tương, mía, cây ăn quả, lợn, vịt, tôm, cá.
- Năm 1977, UBPV KT TW được thành lập. Vụ phân vùng qui hoạch của UBKH Nhà

▪ Về phương pháp tiếp cận: Bước đầu đã nghiên cứu lý thuyết phân vùng, nguyên tắc, hệ
thống chỉ tiêu, các thuật ngữ chuyên ngành Một loạt vấn đề tổng hợp được nghiên cứu như (hệ
số vùng, tính toán hiệu quả sản xuất, hiệu quả xã hội). Đã xây dựng được hệ thống phương pháp
chỉ dẫn xây dựng qui hoạch (các vùng & các ngành), xây dựng hệ thống bản đồ, hệ thống bảng
biểu, chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, chỉ tiêu ngành
e. Giai đoạn 1986 đến nay. Khi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì
cơ cấu nền KTQD có những chuyển biến mạnh (cả về chất & về lượng), nhiều yếu tố mới xuất
hiện, đồng thời những khó khăn, thách thức cũng nảy sinh. Do yêu cầu của việc mở cửa nền kinh
tế và hội nhập với khu vực & quốc tế, đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược phát triển phù hợp.
Trước tình hình đó, Thủ tướng CP đã chỉ thị cho UBKH Nhà nước chủ trì phối hợp với các ngành
TW nghiên cứu qui hoạch 8 vùng KT lớn & 3 vùng KTTĐ, hỗ trợ tất cả các tỉnh, TP XD qui
hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến 2010.
● Từ 1986 - 2000.
- Hệ thống 8 vùng KT lớn được gộp từ 61 tỉnh - TP của cả nước
Đông Bắc (11 tỉnh): Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái
Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái.
10
Tây Bắc (3 tỉnh) Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình.
Đồng bằng sông Hồng (11 tỉnh, Tp) TP Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Hà
Tây (cũ), Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc.
Bắc Trung Bộ (6 tỉnh) Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, T-T-Huế.
DH Nam Trung Bộ (6 tỉnh,Tp) Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,
Khánh Hòa.
Tây Nguyên (4 tỉnh) Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng.
Đông Nam Bộ (8 tỉnh, Tp) là TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh,
đặc khu BR-Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Đồng bằng sông Cửu Long (12 tỉnh) là Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Vinh, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng.
- Ba vùng kinh tế trọng điểm là (KTTĐ)
Vùng KTTĐ Bắc Bộ (5 tỉnh-TP): TP Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng

- Biên Hòa – Vũng Tàu.
- Ngoài 2 cấp vùng trên, 64 tỉnh - TP cũng được xác định là cấp qui hoạch phát triển KT-
XH đến 2010 và 2020.
- Trong khuôn khổ chương trình khoa học cấp Nhà nước (Mã số KX-03, đề tài KX-03-02)
đã đề xuất chia lãnh thổ nước ta thành các dải lớn. Đó là: (1) Dải đồng bằng ven biển (bao gồm
cả vùng biển và hải đảo quốc gia). (2) Dải TD & MN' (chia ra thành 2 dải TD và dải MN').
- Năm 1998, Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển KT-XH các xã đặc biệt khó
khăn ở MN' vùng sâu, vùng xa (QĐ số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/07/1998). Loại vùng khó
khăn gồm 2356 xã (2002) của 49 tỉnh là một loại vùng không liền khoảnh và là sự tập hợp của
các xã, một cấp trong hệ thống 4 cấp hành chính của VN.
▪ Dựa theo cách phân chia trên, có thể rút ra một số nhận định: Mỗi hệ thống vùng
được phân chia đều dựa trên một hệ thống chỉ tiêu phục vụ cho một số mục đích trong một giai
đoạn nhất định. Mục đích của phân vùng là hình thành hệ thống vùng để làm căn cứ cho các kế
hoạch phát triển lãnh thổ, phục vụ cho việc xây dựng cơ chế - chính sách, đảm bảo sự phát triển
bền vững và hiệu quả trong cả nước. Căn cứ chủ yếu để phân vùng là các lãnh thổ có sự đồng
nhất ở mức độ nhất định về tự nhiên, dân cư & xã hội; cùng chịu sự chi phối của cơ chế thị
trường, cùng đảm nhận một nhiệm vụ nào đó đối với nền kinh tế trong tương lai.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Quan niệm về vùng kinh tế.
2. Quá trình hình thành và phát triển vùng kinh tế ở nước ta.
3. Những căn cứ để phân chia các vùng kinh tế.
4. Những thay đổi về phương án vùng kinh tế ở nước ta từ sau Đổi mới. Giải thích tại sao
có sự điều chỉnh đó ?
12
C. CÁC VÙNG KINH TẾ
1. TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC (TD-MN'PB')
1.1. Vị trí địa lý (VTĐL)
Phạm vi lãnh thổ bao gồm 15 tỉnh. Trong đó Đông Bắc (11) và Tây Bắc (4). Diện tích
101.531 km
2

Tr.lượng
C.N
% so cả
nước
Vùng phân bố
Than
antraxit
Tỉ tấn 3,5 90
Quảng Ninh
Than mỡ Triệu tấn 7,1 56 Phấn Mễ,Làng Cẩm (Thái Nguyên)
Than nâu Triệu tấn 100,0 - Na Dương (Lạng Sơn)
Sắt Triệu tấn 136,0 16,9
Làng Lếch, Quang Xá (Yên Bái) Tùng Bá
(Hà Giang)
Mangan Triệu tấn 1,4 - Tốc Tát (Cao Bằng)
Titan Ngàn tấn 390,9 64 Nằm trong quặng sắt núi Chúa (Th.Nguyên)
Thiếc Triệu tấn 10,0 Tĩnh Túc (C.Bằng), Sơn Dương (T.Quang)
Apatit Tỉ tấn 2,1 Lào Cai
13
Ngoài ra, Đông Bắc cũng có một số khoáng sản khác qui mô nhỏ, nhưng có vai trò quan
trọng, dùng làm chất phụ gia, hoặc chất trợ dung cho công nghệ CB'.
Bảng 6.2. Một số tài nguyên khoáng sản có qui mô nhỏ của Đông Bắc
Khoáng sản Vùng phân bố Sử dụng
Amiăng Khuổi Hân (Cao Bằng) Cách nhiệt, cách điện
Angtimon Quảng Ninh, Hà Giang Sơn. Men tráng, thủy tinh
Cát Đảo Quan Lạn (Quảng Ninh) Thủy tinh
Mica La Phù (Phú Thọ), Làng Mục (Yên Bái) Vật cách điện, cách nhiệt.
Phenphat Thạch Khoán (Phú Thọ) Công nghiệp sứ và thủy tinh
Fluorit Bình Đường (Cao Bằng) Trợ dung cho luyện nhôm
Quaczit Thanh Sơn (Phú Thọ) Gạch chịu lửa

Phú Thọ 352.8 28.37 47.45 6.63 2.55 14.99
Quảng Ninh 609.9 8.82 52.47 5.49 1.56 31.66
Tây Bắc 3753.2 13.36 49.22 1.27 0.88 35.26
Điện Biên 956.3 12.61 64.74 0.84 0.35 21.47
Lai Châu 911.2 8.52 42.89 0.71 0.30 47.59
Sơn La 1417.4 17.44 41.44 1.11 0.48 39.53
Hoà Bình 468.3 11.98 53.43 3.72 4.33 26.54
Các loại đất chính: Đất đỏ đá vôi phân bố theo các cánh cung, nhiều nhất ở Hà Giang,
Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, thích hợp với cây thuốc lá, đỗ tương, ngô, bông, Đất feralit đỏ -
vàng trên đá sa diệp thạch, phân bố chủ yếu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái,
Bắc Giang thích hợp với cây chè, trẩu, sở. Đất phù sa cổ, phân bố chủ yếu ở các tỉnh giáp với
14
ĐBSH, thích hợp với cây công nghiệp hàng năm (đậu tương, thuốc lá, lạc). Ngoài ra, ở các thung
lũng, ven sông còn có một ít đất phù sa là nơi gieo trồng cây lương thực và cây màu khác
Tài nguyên rừng của vùng còn rất ít do khai thác quá mức trước đây, chủ yếu là rừng thứ
sinh. Năm 2008, diện tích rừng của Đông Bắc là 3,30 triệu ha (chiếm 25,19% diện tích rừng cả
nước), rừng tự nhiên 2,30 triệu ha, độ che phủ rừng 51,6%. Vùng đang khôi phục lại vốn rừng để
phục vụ cho KCN Quảng Ninh, cho nguyên liệu giấy, cho môi sinh, trong rừng còn có nhiều
dược liệu như quế (Quảng Ninh), hồi (Lạng Sơn, Cao Bằng), sa nhân, tam thất (Lào Cai, Hà
Giang), cây ăn quả á nhiệt đới (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai). Vùng có nhiều đồng cỏ liền dải
trong các thung lũng, trên các đồi thấp, là cơ sở để phát triển chăn nuôi (trâu, bò, dê, ngựa,.v.v.)
Khí hậu nhiệt đới pha trộn á nhiệt đới. Do địa hình cánh cung mở ra ở biên giới đón gió
lạnh từ phương Bắc tràn xuống, là vùng có mùa Đông lạnh nhất nước ta. Mùa Hè nóng - ẩm,
nhiệt độ cao. Khí hậu thích hợp với cây trồng - vật nuôi nhiệt và á nhiệt đới (chè, hồi ).
Tài nguyên biển, vùng có vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long với > 3.000 đảo, biển nông,
trữ lượng cá không nhiều so với vùng biển khác, muốn đánh cá phải ra khơi. Ở trong lộng nhiều
nhất là sò, ốc. Ở đảo Cô Tô rất thuận lợi cho nuôi trai ngọc. Ở đảo Rều (Cẩm Phả) nuôi khỉ làm
dược liệu. Hạ Long và Bái Tử Long là cảnh quan rất hấp dẫn khách du lịch
● Tây Bắc
Là vùng có địa hình núi cao, hiểm trở, cắt xẻ, nhiều sông suối, thung lũng sâu. Độ cao TB

diện tích đất lâm nghiệp, độ che phủ rừng 41,1%; đất chuyên dùng (1,27%); đất ở (0,88%), đất
chưa sử dụng (35,26%). Như vậy, đây là vùng đất hoang hóa còn rất lớn, về chất lượng, các loại
đất đều khá tốt, song do địa hình dốc cho nên các loại đất đỏ - vàng ở các sườn núi có xu hướng
thoái hóa nhanh (do việc trồng cây hàng năm, du canh, du cư, khai thác rừng bừa bãi). Hoạt động
nông nghiệp của Tây Bắc tập trung chủ yếu ở một số cao nguyên đất đỏ đá vôi (Mộc Châu, Nà
Sản, Tà Phình): trồng ngô, cây CN hàng năm (bông, đậu tương), cây ăn quả (mận, đào). Các sườn
đồi diệp thạch trồng chè, sơn, trẩu, sở Đất thung lũng được xây dựng theo hệ thống bậc thang
để trồng lúa (Mường Thanh, Quang Huy, Bình Lư, ). Trên các cao nguyên và thung lũng còn là
địa bàn phát triển chăn nuôi trâu, bò qui mô lớn.
Khí hậu. Yếu tố địa hình làm cho khí hậu của Tây Bắc có những nét khác với Đông Bắc
(mặc dù cùng vĩ tuyến); Gió Đông Bắc lạnh đến muộn hơn; lạnh do 2 yếu tố (lạnh theo vĩ tuyến
& độ cao) nên nhiệt độ về mùa đông thường thấp hơn ở Đông Bắc. Những ngày mà nhiệt độ
xuống thấp thì ở những vùng núi cao thường có tuyết phủ, băng giá (Sa Pa, đỉnh Hoàng Liên
Sơn) Yếu tố lạnh này cho phép trồng các cây ưa lạnh. Khí hậu của vùng cũng gây ra những khó
khăn lớn như trên các cao nguyên thường thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất về mùa khô.
1.3. Tài nguyên nhân văn
1.3.1. Về lịch sử, văn hóa và dân tộc
Vùng Phong Châu (Phú Thọ) được coi là cái nôi của cộng đồng dân tộc Việt Nam; Có văn
hóa Hòa Bình, Bắc Sơn nổi tiếng còn để lại nhiều di chỉ có giá trị về lịch sử và kiến trúc. Các di
tích còn được bảo tồn rất có giá trị về khoa học, về giáo dục truyền thống như đền Hùng, chùa
Yên Tử, Côn Sơn, Kiếp Bạc kèm với nó là những lễ, hội truyền thống (Hội đền Hùng) các
diệu hát lượn, hát ví, dân ca của các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường Đông Bắc là căn cứ địa
cách mạng trong kháng chiến chống Pháp với những địa danh nổi tiếng đã trở thành di tích cách
mạng (Việt Bắc, Phay Khắt, Nà Ngần, hang Pắc Bó, Tân Trào, Suối Lênin, đường số 4, ) Tây
Bắc có Điên Biên lịch sử. Trong vùng tập trung nhiều dân tộc khác nhau như Tày, Nùng, Dao
(Đông Bắc), Mường, Thái, H'Mông (Tây Bắc). Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa rất độc đáo phản
ánh tập quán sản xuất, sinh hoạt của riêng mình, tạo nên một tổng thể văn hóa đa dạng và phong
phú. Những giá trị về lịch sử - văn hóa kết hợp với phong cảnh tự nhiên như Sa Pa, Tam Đảo,
thác Bản Dốc, Đầu Đẳng, động Tam Thanh, Nhị Thanh đã trở thành tiềm năng to lớn đối với
kinh tế dịch vụ - du lịch.

lực tập trung trong nhóm tuổi 15 - 29, đây là lợi thế trong việc phát triển CN - tiếp thu kỹ thuật
mới. Tuy nhiên, vùng còn khoảng 7,43% số người không biết chữ (chủ yếu là đồng bào dân tộc ít
người). Đội ngũ LĐ có trình độ từ sơ cấp trở lên 16,22%, thấp hơn mức TB cả nước & vùng
KTTĐ Bắc Bộ (23,6%). Trong số đó, có ~ 8,0 vạn người có trình độ từ CĐ, ĐH trở lên, trong số
này 50% làm việc trong ngành GD, YT, quản lý nhà nước. Về LĐ, vùng trung du nhìn chung đủ
để phát triển kinh tế, ở khu vực miền núi nhìn chung thiếu.
Bảng 6.4: Trình độ học vấn & chuyên môn kĩ thuật của Đông Bắc & Tây Bắc năm 2002 (%)
Tỉnh
Tỉ lệ chưa biết chữ
trong độ tuổi LĐ
Tỉ lệ LĐ có trình độ
từ sơ cấp trở lên
Tỉ lệ LĐ có trình độ từ
công nhân KT trở lên
Đông Bắc 7,43 16,22 12,20
Quảng Ninh 1,55 25,50 19,02
Tuyên Quang 12,40 19,05 17,38
Thái Nguyên 3,81 19,69 14,16
Lào Cai 15,30 16,07 13,53
Lạng Sơn 3,78 15,37 12,62
Phú Thọ 2,12 16,52 12,00
Cao Bằng 20,45 14.02 11,80
Bắc Giang 3,27 14,77 8,66
Yên Bái 12,77 10,16 8.44
Bắc Kạn 9,33 9,71 8,09
Hà Giang 19,47 6,89 5,51
Tây Bắc 18,09 10,93 8,79
Lai Châu, Điện Biên 22,78 12,60 10,83
Hòa Bình 5,50 10,92 8,26
Sơn La 26,33 9,84 7.92

loại dạng chính là làng (của người Việt) và bản (Tày, Nùng, H'Mông, Dao, Mường ). Các bản
thường phân bố ven bờ suối, dọc thung lũng, trên các cánh đồng, bồn địa, men sườn đồi hướng về
đường GT hay con suối. Ngoài ra, còn một số ít các dân tộc sống du canh du cư, chủ yếu là người
H'Mông và Dao, hiện nay phần lớn đã định cư. Trong quá trình khai thác kinh tế, đã xuất hiện
nhiều nông - lâm trường, các khu vực khai thác tài - CB' nguyên (chủ yếu của người Việt) đã xuất
hiện nhiều điểm dân cư mới kiểu thị tứ, thị trấn, thị xã mang sắc thái đô thị miền núi.
1.4. Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH)
1.4.1. Tình hình phát triển
● Đông Bắc. Được khai thác sớm từ thời Pháp thuộc, vì vậy tài nguyên đã bị suy giảm
nhiều & môi trường bị xáo trộn. (Trong thời kì Pháp thuộc, Pháp đầu tư vào Đông Bắc chiếm 40
- 52% tổng số vốn đầu tư ở cả Đông Dương, Pháp đã lấy đi 27,7 triệu tấn than, 21,73 vạn tấn
thiếc, 60 vạn tấn quặng sắt & mangan, 31,55 vạn tấn phốt phát & hàng triệu m
3
gỗ quí).
Từ 1990 đến nay kinh tế đã đạt được những kết quả nhất định; Năm 2002, GDP đạt
21.579 tỉ đồng (4,05% GDP cả nước), GDP/người/tháng đến năm 2004 đã đạt 379.900 đồng
(bằng 74,8% mức TB của cả nước).
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch: tăng tỉ trọng CN - XD từ 20,6% (1990) lên 26,3%
(2002), tương tự vậy N - L - N giảm từ 46,5% xuống 33,6% và dịch vụ 32,9% và 32,8%. Vùng
tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp nặng - qui mô lớn của cả nước (năng lượng, luyện kim, cơ
khí, hóa chất, VLXD). Đã hình thành những TTCN CMH' (luyện kim đen Thái Nguyên, hóa chất
Việt Trì - Lâm Thao, khai thác than Hòn Gai, Cẩm Phả, phân bón Bắc Giang),.v.v.
● Tây Bắc. Khai phá muộn hơn, nhưng việc khai thác tài nguyên ở đây có nhiều vấn đề
đáng lo ngại, nhất là tài nguyên rừng đã bị khai thác quá mức. Độ che phủ của rừng còn rất ít, đã
ảnh hưởng đến việc giữ đất, giữ nước và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho đời sống & sản
xuất của nhân dân (lũ lụt ở Sơn La).
Tây Bắc là vùng có tiềm năng thủy điện lớn nhất cả nước, đã khai thác thủy điện Hòa
Bình (1.920MW), đang XD thủy điện Sơn La (2.400MW). Các nguồn tài nguyên khác khai thác
nhỏ, có ý nghĩa địa phương như CNCB' đường mía (Điện Biên), chè (Mộc Châu), Tam Đường
(L.Cai), Cửu Long (H.Bình), khai thác than (Điện Biên, S.La), CB' sữa (Mộc Châu).

tấn, bình quân 343,2 kg/người bằng 68,4% mức BQ chung của cả nước (501,8 kg/ng). Cây lúa,
diện tích là 54,4 vạn ha, sản lượng lúa 2.489,8 nghìn tấn
+ Vùng đậu tương: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Giang.
+ Vùng mía: Cao Lộc, Lộc Bình (Lạng Sơn), Văn Yên, Trấn Yên (Yên Bái), Tuyên
Quang, Cao Bằng
+ Vùng chè tập trung ở Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ và một
vài nơi khác có điều kiện thuận lợi.
+ Các vùng cà phê ở Thái Nguyên (Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ); ở Lạng Sơn (Hữu
Lũng, Tràng Định, Bình Gia); ở Cao Bằng ( Ngân Sơn, Hòa An và xung quanh thị xã); ở Tuyên
Quang (Hàm Yên, Yên Sơn, Chiêm Hóa) và Yên Bái.
+ Các vùng cây ăn quả: Bắc Hà (Lào Cai), Ngân Sơn (Cao Bằng); Na ở Chi Lăng; Hồng ở
Cao Lộc (Lạng Sơn); Vải thiều ở Lục Ngạn (Bắc Giang)
19
+ Vùng chăn nuôi lợn: Việt Trì, Phong Châu (Phú Thọ) và xung quanh các KCN ở Hạ
Long, Cẩm Phả, Đông Triều ). Năm 2008, đàn lợn 4,98 triệu con (18,7%), trâu 1,22 triệu con
(42,1%), bò 790,3 ngàn con (12,5%), gia cầm 46,42 triệu con (18,8%)
● Tây Bắc: dựa vào thế mạnh vốn có của vùng, một số ngành có xu hướng phát triển khá:
+ Chè là cây CN lâu năm có diện tích khá lớn, nhưng diện tích đang có xu hướng giảm
thay vào đó là vùng đang phát triển cây cà phê.
+ Cây CN hàng năm, chủ yếu là mía tập trung nhiều nhất ở Hòa Bình (2.000 ha), Điện
Biên, Bình Lư (diện tích nhỏ hơn). Các cây khác như đậu tương (11.600 ha), trồng phân tán trong
vùng. Bông chủ yếu ở nông trường Tô Hiệu (Sơn La). SP cánh kiến đang phát triển ở H.Bình.
+ Chăn nuôi gia súc lớn là thế mạnh của vùng, bởi vì vùng có nhiều đồng cỏ liền dải,
người dân có truyền thống chăn nuôi nổi tiếng như trâu Sông Mã (Sơn La), trâu đàn của người
Thái, người Mường. Năm 2008, tổng đàn trâu là 468,3 ngàn con (16,2 % đàn trâu cả nước); đàn
bò 295,9 ngàn con (4,70 % cả nước); đàn bò sữa phát triển mạnh ở Mộc Châu (Sơn La); Dê (Hòa
Bình); Cừu (Sơn La); Ngựa (Lai Châu); Đàn lợn 1,11 triệu con (4,5% cả nước).
+ Cây lương thực, vùng có các cánh đồng miền núi khá màu mỡ ở Mường Thanh, Bắc
Yên, Phù Yên, Văn Chấn, Bình Lư Năm 2008, diện tích cây lương thực có hạt 367,6 ngàn ha,
sản lượng 1,29 triệu tấn, BQLT/ng 485,9 kg. Trong cơ cấu cây lương thực, cây lúa chiếm 58,0%

với các tỉnh miền núi P.Bắc; Có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng.
- Tp Việt Trì: là TTCN lớn có phạm vi ảnh hưởng là Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai dọc theo
tuyến QL 2, 70. Tp nằm ở ngã ba sông Hồng và sông Lô, gần đền Hùng, có tuyến đường bộ và
đường sắt nối với tây nam Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai, có quan hệ mật thiết với các tỉnh
Yên Bái, Lào Cai và với Đồng bằng sông Hồng. Thành phố có chức năng chính sau: Là TP công
nghiệp nặng (hóa chất, cơ khí tàu, VLXD), công nghiệp nhẹ (dệt, giấy), công nghiệp điện tử,
công nghiệp CB' LT-TP, tiêu dùng; Là đầu mối GT trung chuyển hàng hóa với Hà Nội và Đồng
bằng sông Hồng; Là trung tâm KT, CT, VH, KH-KT của tỉnh Phú Thọ, trung tâm giao lưu phát
triển ở phía tây của vùng Đông Bắc.
- Tp Hạ Long, là trung tâm quan trọng của vùng với phạm vi ảnh hưởng là Quảng Ninh,
Lạng Sơn, Bắc Ninh. Tp có chức năng chính: là Tp trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, giữ vai trò là tỉnh
lỵ, trung tâm CT, KT, VH của tỉnh. Ngoài ra, đây còn là trung tâm du lịch, nghỉ mát có ý nghĩa
quốc gia - quốc tế. Là đầu mối GT của vùng (có cảng nước sâu Cái Lân là đầu mối chính). Là
trung tâm thương mại, dịch vụ lớn của vùng và có vị trí quan trọng về AN-QP.
- Ngoài 3 TP trên, các thị xã còn lại (Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Cam Đường, Bắc
Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Sông Công, Phú Thọ, Bắc Giang, Cẩm Phả, Uông Bí)
đều là các trung tâm cấp tỉnh có ý nghĩa trong phạm vi tỉnh và liên tỉnh.
● Tây Bắc. Hệ thống đô thị (2008) 3 TP, 2 thị xã, 33 huyện. Tỉ lệ dân đô thị 14,90%.
- Tp Điện Biên (01/2004), là TP tỉnh lỵ, trung tâm CT, KT, VH của TP Điện Biên; Là đầu
mối giao thông quan trọng, vựa lúa lớn nhất của Tây Bắc (Mường Thanh). Khi tuyến đường
xuyên Á (Nam Trung Quốc - Đông Dương) hoàn thiện, thì Điện Biên trở thành cực tăng trưởng
quan trọng của vùng. Đây là trung tâm du lịch quan trọng của cả nước, có sân bay Mường Thanh,
cửa khẩu Tây Trang. Dân số hiện nay 26.700 người, dự kiến tăng lên 61.000 (2010).
- Thị xã Sơn La, là thủ phủ của "khu tự trị Tây Bắc" trước đây, đây sẽ là trung tâm thủy
điện lớn nhất cả nước (Tạ Bú). Thị xã sẽ là trung tâm CT, KT, VH của tỉnh và chùm đô thị Sơn
La, là cực tăng trưởng với TTCN thủy điện - du lịch sinh thái và đầu mối giao lưu với toàn vùng
Tây Bắc. Qui mô dân số 64.500 người, dự kiến tăng lên 92.000 người (2010).
21
- Thị xã Hòa Bình. Là thị xã tỉnh lỵ, trung tâm thương mại, VH, du lịch của tỉnh, trung
tâm công nghiệp thủy điện, cửa ngõ giao lưu giữa Tây Bắc - Hà Nội – Đồng bằng sông Hồng và

xã chưa có đường ô tô, 44 xã chưa có đường dân sinh (tập trung ở vùng lòng hồ Hòa Bình).
▪ Đường ô tô: tổng chiều dài đường quốc lộ 1.300 km. Bao gồm:
- QL6 từ Hà Nội - Hòa Bình - Sơn La - Lai Châu (qua Tây Bắc 465km), chỉ có 34 km từ
Lương Sơn - Hòa Bình đạt tiêu chuẩn cấp 3 đường đồng bằng, còn lại là cấp 4, 5 đường miền núi.
- QL 37 từ Chí Linh (Hải Dương) - Cò Nòi (422 km) qua Tây Bắc 108 km.
- QL 4D chạy dọc biên giới phía Bắc nối với Sa Pa để về xuôi, đoạn qua Lai Châu (từ Pa
So - Trạm Tôn) 98 km.
- QL 12 từ Pa Tần - TX lai Châu - Tp Điện Biên (195 km) chỉ có 13 km rải nhựa.
22
- QL 279 từ Yên Lập (QL18) ở Quảng Ninh - Tây Trang (Lai Châu) dài 600 km, qua Tây
Bắc 148 km (Sơn La 32 km, Lai Châu 116 km).
- QL 100 từ Phong Thổ - Nậm Cây (Lai Châu) dài 21 km, đường đá.
- QL32 từ Hà Nội- Sơn Tây - Trung Hà - Nghĩa Lộ - Than Uyên (qua Lai Châu có 8 km).
- QL 32B từ ngã ba Mường Côi (Sơn La) - địa giới Phú Thọ dài 11 km.
- QL15 nằm trong địa phận Hòa Bình (120 km) - Thanh Hóa
- QL21 thuộc địa phận Hòa Bình 49 km, từ Xuân Mai (Hà Tây) - Phủ Lý (Hà Nam).
- Đường ATK dài 186 km ở Kim Bôi (Hòa Bình).
- Các tuyến tỉnh lộ: 17 tuyến với chiều dài 736 km ( Điện Biên và Lai Châu 5 tuyến, chiều
dài 157 km. Sơn La 7 tuyến, chiều dài 398 km. Hòa Bình 6 tuyến, chiều dài 181 km).
- Đường liên huyện, liên xã 4.570km (L.Châu 1.122km, S.La 1.927km, H.Bình 1.521km).
- Đường dân sinh: 5.119 km (Lai Châu 1.260 km, Sơn La 1.948 km, Hòa Bình 1.911 km).
▪ Đường thủy: Quan trọng nhất là tuyến trên sông Đà, có thể khai thác được 4 đoạn: Đoạn
từ ngã ba S.Hồng đến bờ đập Hòa Bình dài 58 km, độ sâu TB 1,1 - 1,5 m, chiều rộng nhỏ nhất là
30 m, thông thuyền 100 - 200 tấn. Từ đập Hòa Bình - Tà Hộc dài 160 km (thuộc lòng hồ), độ sâu
lớn, phương tiện vận chuyển thuận lợi. Từ Tà Hộc - Bản Kết dài 38 km, khi hồ Hòa Bình tích
nước (tháng 10 - 4 năm sau), vận tải thuận tiện; khi hồ Hòa Bình xả nước, sông cạn, nước chảy
xiết, có nhiều thác gềnh, chỉ sử dụng thuyền nhỏ trên từng đoạn. Từ Bản Kết - thượng nguồn,
mùa mưa (tháng 9 - 4 năm sau) nước sông lớn, chảy xiết; mùa kiệt (tháng 10 - 5 năm sau) sông
cạn, nhiều thác gềnh, phương tiện vận tải 1 - 2 tấn chỉ đi lại từng đoạn, đôi khi phải kéo. Các
cảng, bến dỡ hàng hóa đường thủy gồm có: cảng Hòa Bình XD năm 1970, phục vụ chủ yếu cho

nghệ mới cho các KCN hiện có. Liên doanh, hợp tác với nước ngoài trong việc khai thác khoáng
sản. Hình thành các ngành - sản phẩm mũi nhọn dựa vào lợi thế của vùng (khai thác, tuyển - tinh
chế quặng than, sắt, kim loại màu); Phát triển ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng,
công nghiệp chế biến N – L - TS, công nghiệp luyện kim, chế tạo cơ khí, nhiệt - thủy điện, phân
bón - hóa chất, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng
sản xuất hàng hóa (tăng tỉ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau thực phẩm; giảm tỉ trọng cây
lương thực). Hình thành các vùng sản xuất tập trung tạo ra khối lượng hàng hóa lớn. Phát triển
cây công nghiệp mũi nhọn (chè, hồi, quế) cho xuất khẩu; các cây ăn quả đặc thù (mận, đào, lê ).
Phát triển mạnh đàn gia súc (trâu, bò, lợn ) hướng vào xuất khẩu. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, kinh tế - xã hội (chú trọng vào giao thông vận tải, các cơ sở y tế, trường học vùng cao).
Thực hiện định canh triệt để đối với dân tộc ít người. Phát triển hệ thống các trung tâm thương
mại, các khu kinh tế cửa khẩu (Móng Cái, Lạng Sơn, Lào Cai); phát triển thương nghiệp vùng
cao. Khuyến khích các TP kinh tế tham gia vào trong lĩnh vực này.
- Về không gian lãnh thổ cần tập trung phát triển theo các tuyến sau:
+ Thái Nguyên sẽ phát triển theo 2 tuyến chính là tuyến dọc theo QL3 và tuyến liên tỉnh
dọc theo S.Cầu trên cơ sở khai thác quặng sắt, than, thiếc, chì kẽm; Cơ khí Gò Đầm, Sông Công,
chế biến chè Thái Nguyên; du lịch hồ Núi Cốc, Ba Bể, Pắc Bó
+ Việt Trì sẽ phát triển theo tuyến dọc sông Lô, sông Chảy, sông Thao trên cơ sở khai
thác thiếc, thủy điện Thác Bà, chè Phú Thọ - Sơn Dương, apatit, chế biến gỗ, du lịch Tân Trào -
Tam Đảo - Sa Pa.
+ Hòn Gai phát triển theo dọc QL18 và đường thủy nội địa (Hạ Long, Bái Tử Long) với
các cảng Cửa Ông, Hòn Gai, LASH, Cái Lân trên cơ sở khai thác than, cơ khí mỏ, cơ khí đóng
tàu, gạch Giếng Đáy và du lịch, nghỉ dưỡng
24
b. Tây Bắc
• Vị trí của Tây Bắc trong tổng thể phát triển KT-XH của cả nước: Đây là vùng đất rộng -
cao và dốc nhất Việt Nam, chiếm 11% diện tích toàn quốc. Thế mạnh là đất đai, rừng, khoáng sản
có khả năng phát triển nền kinh tế hàng hóa. Là đầu nguồn của một số lưu vực sông Đà, Mã, Nậm
Rốm, và sông Bôi, có tiềm năng lớn về thủy điện (30% tiềm năng cả nước). Có một số nguồn tài
nguyên chiến lược quan trọng như đất hiếm, đồng, niken, pyrit, vàng, than đá, VLXD, nước

+ Chuẩn bị những tiền đề vật chất, đầu tư kĩ thuật - công nghệ trong việc khai thác
khoáng sản và kêu gọi đầu tư (trong và ngoài nước) vào khai thác nguồn tài nguyên của vùng.
25

Trích đoạn Đối với các ngành kinh tế Sinh vật Vùng có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đặc trưng nhất của Việt Nam. Về nông nghiệp Đường bộ Tổng chiều dài 5.200 km, có 8 quốc lộ chính với chiều dài 850 km Đường hàng không: Vùng có 3 sân bay đang khai thác là Trà Nóc (Cần Thơ) và 2 sân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status