BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
LẠM PHÁT MỤC TIÊU Ở CÁC NƯỚC THỊ
TRƯỜNG MỚI NỔI VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở
VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KINH TẾ KINH TẾ HỌC
i
MỤC LỤC
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
TÓM TẮT 2
1. GIỚI THIỆU………………………………………………………………… 2
2. TỔNG QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
3.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH SỬ DỤNG 5
3.2.PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 6
4. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
4.1.LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG 6
4.1.1. Khái niệm khuôn khổ LPMT và các tham sô cần thiết trong thiết kế khuôn
khổ LPMT 6
4.1.1.1. Khái niệm khuôn khổ LPMT 6
4.1.1.2. Các tham số cần thiết trong thiết kế khuôn khổ LPMT 7
4.1.1.2.1. Biến mục tiêu ( target variable) 7
4.1.1.2.2. Lạm phát cơ bản (core inflation) 8
4.1.1.2.3. Điểm mục tiêu ( point target), điểm mục tiêu với khoảng dao động (point
target with a band), khoảng mục tiêu (target range) 9
4.3.2.1. Phân tích các công cụ trực tiếp 43
4.3.2.1.1. Lãi suất 43
4.3.2.1.2. Hạn mức tín dụng 44
4.3.2.2. Phân tích công cụ gián tiếp 45
4.3.2.2.1. Nghiệp vụ thị trường mở 45
4.3.2.2.2. Dự trữ bắt buộc 47
4.3.3. Phân tích chính sách tài khóa 49
4.3.3.1. Tài khóa của VN phản ứng không phù hợp với trạng thái chu kỳ kinh tế 49
4.3.3.2. Hiệu quả đầu tư từ ngân sách còn quá thấp 51
4.3.3.3. Tỷ lệ bội chi ngân sách quá cao 51
4.3.4. Phân tích cách Việt Nam đưa ra và thực hiện mục tiêu 53
4.3.5. Phân tích sự độc lập của NHTW 55
4.3.6. Phân tích hệ thống tài chính Việt Nam 58
4.3.7. Phân tích chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam 60
4.3.8. Phân tích công tác dự báo lạm phát của Việt Nam 63
4.3.8.1. Cơ sở hạ tầng 63
4.3.8.2. Khả năng dự báo 64
4.3.8.3. Hậu quả của việc dự báo không hiệu quả 64
4.4.TRIỂN VỌNG VÀ DỰ BÁO LAM PHÁT CHO VIỆT NAM 65
4.4.1. Tăng trưởng kinh tế 66
4.4.2. Xuất nhập khẩu 67
iii
4.4.3. Nền kinh tế thế giới 69
4.4.4. Áp dụng mô hình cấu trúc cho Việt Nam 70
5. KẾT LUẬN 75
5.1.CHỐT LẠI NGHIÊN CỨU 75
5.2.ĐỀ XUẤT 75
5.2.1. Đề xuất từ mô hình 75
5.2.2. Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt 76
5.2.3. Phát triển thị trường tài chính 77
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP : Chính phủ.
CSDL : Cơ sở dữ liệu.
CSTK : Chính sách tài khóa.
CSTT : Chính sách tiền tệ.
LP : Lạm phát.
LPMT : Lạm phát mục tiêu.
LS : Lãi suất.
NHTM : Ngân hàng thương mại.
NHTW : Ngân hàng trung ương.
TGHĐ : Tỷ giá hối đoái.
UBCSTT : Ủy ban chính sách tiền tệ.
7
8
2012
1
Đề tài: Lạm phát mục tiêu ở các thị trường mới nổi và khả năng áp dụng khuôn khổ
LPMT ở Việt Nam.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ trước đến nay, Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách tiền tệ đa mục
tiêu. Chúng ta vừa kỳ vọng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nhanh chóng vươn lên và
ra khỏi nhóm nước có thu nhập thấp và giải quyết công ăn việc làm, vừa kỳ vọng
kiểm soát giá cả và lạm phát, ổn định tiền tệ, vừa sử dụng chính sách tiền tệ như
một công cụ bổ trợ ổn định ngân sách, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh quốc
gia. Thực hiện chính sách tiền tệ đa mục tiêu với neo danh nghĩa là Tổng phương
tiện thanh toán (M2) chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong quá
trình đổi mới. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, cơ chế điều hành chính sách tiền
tệ này đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế của mình. Việc điều hành chính sách tiền tệ
có tính “giật cục” từ đầu năm 2008 đến nay chỉ để chống đỡ lạm phát là minh chứng
rất rõ cho vấn đề này. Chính phủ đã thực sự có những phản ứng chống lạm phát
Ngày càng nhiều các nước áp dụng khuôn khổ LPMT, khuôn khổ này được mở
rộng từ các nước công nghiệp cho các nước có thị trường mới nổi như Brazil, Chile,
Colombia, Cộng hòa Séc, Hungary, Israel, Hàn Quốc, Mexico, Ba Lan, Nam Phi, và
Thái Lan… Những thách thức mà các nước công nghiệp phải đối mặt trong việc áp
dụng LPMT là không nhiều và tương đối rõ ràng, do kinh nghiệm tương đối lâu dài
trong lĩnh vực này. Các nước công nghiệp cũng được hưởng lợi từ phát triển thị
trường tài chính và kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ gián tiếp, dựa vào
thị trường để thực hiện CSTT. Ngược lại, những thách thức đối mặt với các nước thị
trường mới nổi đang tìm cách thông qua khuôn khổ LPMT chưa được hiểu rõ. Bài
2012
3
viết này đề cập đến điều kiện ban đầu mà các nước thị trường mới nổi có thể thiết
lập để hỗ trợ cho khuôn khổ LPMT. Trong khuôn khổ như vậy, LPMT chiếm ưu thế
ở bất kỳ mục tiêu chính sách khác. Việc chuyển đổi từ một công bố đơn giản về lạm
phát sang LPMT một cách chính thức có thể mất vài năm. Vì vậy, bài viết này đưa
ra các bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi.
Độ tin cậy của một khuôn khổ LPMT đòi hỏi CSTT không nên nhắm mục
đích ở các cấp độ mục tiêu của tỷ giá hối đoái danh nghĩa hoặc thực. Tuy nhiên,
CSTT của các thị trường mới nổi phải quan tâm đến vấn đề TGHĐ bởi vì TGHĐ có
tác động quan trọng đến lạm phát do tính chất mở của nền kinh tế.
Các điều kiện cần thiết để hỗ trợ khuôn khổ LPMT có thể được chia làm bốn
nhóm đó là:
Nhiệm vụ theo đuổi mục tiêu lạm phát và trách nhiệm đạt được mục
tiêu này.
Đảm bảo rằng mục tiêu lạm phát không bị ảnh hưởng bởi các mục
tiêu khác.
Hệ thống tài chính phát triển và ổn định để thực hiện khuôn khổ
LPMT.
Các công cụ cần thiết để hỗ trợ CSTT thực hiện khuôn khổ LPMT.
Những điều kiện này sẽ được trình bày ở mục 4.1. Mục 4.2 sẽ cung cấp kinh
của chính sách tiền tệ”.
Corrinne Ho and Robert N McCauley, “Living with flexible exchange rates:
issues and recent experience in inflation targeting emerging market economies “,BIS
Working Papers No 130 : “Trong ngắn hạn, khu vực tư nhân và nhà làm chính sách của
các quốc gia mới nổi có thể rất nhạy cảm với sự biến động của tỷ giá hối đoái, nhưng
2012
5
trong dài hạn với kết quả khuôn khổ LPMT đem lại, tỷ lệ lạm phát được cải thiện theo
chiều hướng tích cực, sự tín nhiệm đối với chính sách được nâng cao cùng sự phát triển
của kinh tế có thể giúp làm giảm đi các nhược điểm của thị trường mới nổi. Dưới
khuôn khổ LPMT vấn đề TGHĐ vẫn đóng một vai trò quan trọng và đặt ra khá nhiều
thách thức cho các thị trường mới nổi. Để đối phó một cách linh hoạt với những thách
thức không những chỉ sử dụng CSTT mà còn có khi sử dụng đồng thời nhiều công cụ
chính sách. Tuy không có bằng chứng về mâu thuẫn giữa sự can thiệp vào TGHĐ với
công bộ mục tiêu lạm phát , nhưng những người làm chính sách phải giải thích cho
công chúng hiều sự khác nhau. Cuối cùng thì tác giả cũng nêu rằng sự tác động của
TGHĐ đến đời sống không chỉ quan trọng ở các quốc gia mới nổi mà nó còn quan
trọng với các nước công nghiệp dù áp dụng khuôn khổ LPMT hay không.
Tóm lại, khuôn khổ LPMT ở các nước thị trường mới có thể giúp các nước này
giảm lạm phát xuống một mức thấp và ổn định, thêm vào đó khuôn khổ LPMT còn
giúp các quốc gia nâng cao độ tín nhiệm của công chúng đối với chính sách tiền tệ của
NHTW.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu và mô hình sử dụng
Để xem xét khả năng Việt Nam có thể áp dụng khuôn khổ LPMT hay không,
đề tài đi vào nghiên cứu các ví dụ điển hình về việc xây dựng khuôn khổ LPMT ở
Brazil, Chile để tìm ra các điều kiện cần thiết để áp dụng khuôn khổ LPMT, và đi
vào xem xét các điều kiện Việt Nam liệu có thể đáp ứng các điều kiện trên hay
không.
Đề tài nghiên cứu theo phương pháp thu thập số liệu lịch sử được công bố từ
2012
7
Bằng cách tăng tính minh bạch và trách nhiệm, khuôn khổ LPMT sẽ giúp thúc đẩy sự
độc lập của NHTW, trách nhiệm đối với công chúng cũng như trách nhiệm đối với
chính phủ. Khuôn khổ LPMT phù hợp với nguyên tắc dân chủ. Theo Mishkin: Khuôn
khổ LPMT không phải là một khuôn khổ cứng nhắc; mục tiêu lạm phát trên mức không
không hề làm giảm mức tín nhiệm của công chúng đối với CSTT, NHTW; khuôn khổ
LPMT không bỏ qua các mục tiêu ổn định truyền thống; khi mức lạm phát ban đầu của
một quốc gia ở mức cao thì quốc giá đó có thể phải phase sau khi giảm lạm phát; giá
của tài sản mục tiêu ví dụ như TGHĐ có thể làm ảnh hưởng xấu đến khuôn khổ LPMT.
Svensson thì cho rằng “LPMT là một chiến lược CSTT mà đặc trưng là được
công bố một con số LPMT, thực hiện CSTT nhắm chủ yếu vào dự báo LP và được
gọi là dự báo mục tiêu, với một độ minh bạch và trách nhiệm cao”.
John Green: LPMT là một khuôn khổ để điều hành CSTT, trong khuôn khổ
này các quyết định được hướng dẫn bởi các kì vọng về lạm phát tương lai trong mối
quan hệ với mục tiêu đã công bố. Nếu nói theo quan điểm về điều hành thì khuôn
khổ LPMT được xem như một tiến trình gồm 2 bước. Bước thứ nhất cơ quan tiền tệ
nhà nước phải dự báo được lạm phát để đánh giá xem dưới khuôn khổ CSTT hiện
tại thì lạm phát có thể giữ trong mức công bố hay không. Bước thứ hai cần thực
hiện đó là: khi lạm phát dự báo nằm ngoài khoảng mục tiêu thì có luật phản hồi, sự
phản hồi liên kết mối quan hệ giữa các hành động của chính sách với lạm phát dự
kiến để quyết định con đường đưa lạm phát về khoảng mục tiêu ban đầu.
Có rất nhiều khái niệm được đưa ra về LPMT, nhưng tựu chung các nghiên
cứu đều nhất trí rằng: lạm phát mục tiêu là một khung cơ bản cho CSTT mà trong
đó NHTW tính toán và công khai công bố một chỉ số lạm phát mục tiêu, và sẽ cố
gắng duy trì mục tiêu này để nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định và
tỷ lệ thất nghiệp thấp.
4.1.1.2. Các tham số cần thiết trong thiết kế khuôn khổ LPMT
4.1.1.2.1. Biến mục tiêu ( target variable)
2012
kinh nghiệm.
Thông thường các NHTW thường dùng core inflation như hướng dẫn cho
chính sách, nhưng họ cũng thường xuyên kiểm tra lại các thước đo khác của core
inflation để đảm bảo rằng tất cả đều tập trung vào thước đo thích hợp, không tạo ra
một kịch bản sai lầm về sự phát triển của LP.
4.1.1.2.3. Điểm mục tiêu ( point target), điểm mục tiêu với khoảng dao động (point
target with a band), khoảng mục tiêu (target range)
Có nhiều thuật ngữ khác nhau, để thuận tiện chúng ta định nghĩa:
Điểm mục tiêu (point target without a band) : là một giá trị xác định. Ví dụ:
2%
Điểm mục tiêu có khoảng dao động (point target with a band) : lấy điểm mục
tiêu cộng trừ một giá trị. Ví dụ: 2% cộng trừ 1%
Khoảng mục tiêu (range target) : là một giá trị khoảng. ví dụ: khoảng từ 1%
đến 3%
Việc chọn “a band” hay “a range” không quan trọng, quan trọng là sự lựa
chọn được giải thích như thế nào. Thứ nhất: trong hầu hết các trường hợp, CSTT
đối phó với sự thay đổi của LP trên hay dưới điểm mục tiêu một cách đối xứng(
ngoại trừ trường hợp: trong giai đoạn đầu của IT, khi LP< điểm mục tiêu thì không
đối xứng, xu hướng đi xuống asymmetric in the downward direction để tạo độ tin
cậy của các chế độ CSTT mới, hay là khi tỷ lệ LP gần như bằng không và có mối
quan tâm về hạn chế chính sách lãi suất thấp hơn thì có xu hướng không đối xứng đi
lên asymmetry in the upper direction). Thứ hai: khi NHTW đã chọn “a band” hay “a
range” thì trung bình LP mong đợi sẽ nằm trong phạm vi thời gian đó, chứ không
phải là mọi lúc. Thứ ba: “a band” hay “a range” thì không nên cứng nhắc. Khi có
sự thay đổi trong LP thì không nên đòi hỏi một phản ứng của lãi suất mạnh mẽ khác
thường.
2012
10
Thuận lợi của “a band”,”a range” đó là nó giúp nhấn mạnh tính đối xứng của
phản ứng, tuy nhiên nó tỏ ra ít hiêu quả hơn point target. Nếu NHTW thông qua một
phát ở mức thấp, và chi phí nhận thức cao của việc giảm LP. Bằng việc lựa chọn
một mục tiêu LP dương nó có thể giảm những hiệu ứng có hại có thể của các
nguyên nhân trên.
Các quốc gia mới nổi thường chọn tỷ lệ LP cao hơn các nước công nghiệp vì
các khó khăn trong thu thập số liệu xác định CPI, và sự không chắc chắn về tính
linh hoạt của nền kinh tế trong trường hợp thay đổi cấu trúc nhanh. Nếu các quốc
gia mới nổi định có một LP hàng hóa thương mại giống như các nước phát triển thì
CPI mục tiêu của họ nên cao hơn các nước công nghiệp bởi vì sự tăng trưởng năng
suất tương đối trong hàng hóa thương mại của họ cao hơn.
4.1.1.2.5. The target horizon
The target horizon là giai đoạn mà NHTW hay CHÍNH PHủ định rõ con
đường mục tiêu cho lạm phát. Nó khác nhau một cách đáng kể ở các quốc gia khác
nhau, những nước nào đã ở trạng thái cân bằng thị có horizon dài hơn các nước
đang trên con đường giảm lạm phát. Thực vậy, ở các nước đang trong trạng thái cân
bằng dài hạn thì nó có thể quyết định có target horizon dài vô thời hạn.
Trên con đường giảm lạm phát từ một mức độ LP vừa phải, thì thật quan
trọng, NHTW nên có một target horizon trong nhiều năm hơn là một horizon ngắn (
ví dụ ít nhất là 3 năm). Tầm quan trọng của một horizon trong nhiều năm đó là
chính quyền cam kết theo đuổi chính sách giảm lạm phát cho đến cuối cùng khi mà
nền kinh tế đối mặt với các cú sốc nguồn cung, cái mà có thể tạo ra các phiên bản
liên tục và đáng kể trong việc dự báo lạm phát và sự chậm trễ trong khoảng thời
gian tỷ lệ lạm phát được mong đợi sẽ chạm mục tiêu dài hạn.
Theo kinh nghiệm nếu horizon qua ngắn thì nó sẽ phản tác dụng và làm giảm
độ tín nhiệm nếu nó không cung cấp đủ thời gian để chính sách kịp tác động lên tỷ
2012
12
lệ LP, thời gian cho độ trễ của chính sách. Theo Roger and Stone (2005) có rất
nhiều sự lựa chọn target horizon. Trong khi, thông thường các nước đang giảm lạm
phát nên có một target horizon hữu hạn, thì nó lại có khuynh hướng kéo dài ra có
khi là vô hạn, còn các nước ổn định thì lại có một giá trị horizon dại hạn tối ưu.
Zealand,
South Africa
Nguồn: websites NHTW các nước.
Việc Chính phủ có liên quan đến công bố mục tiêu củng cố độ tin cậy của các
khuôn khổ LPMT bằng các cam kết gián tiếp của Chính phủ trong chính sách tài
khóa để hỗ trợ các mục tiêu lạm phát. Sự tham gia của Chính phủ trong việc thiết
lập mục tiêu lạm phát là đặc biệt có lợi khi NHTW không có một định hướng rõ
ràng theo đuổi một mục tiêu lạm phát là mục tiêu chính của CSTT. Tuy nhiên, độ
tin cậy của sự độc lập sẽ giảm nếu Chính phủ thay đổi thường xuyên. Ở các nước
mà mục tiêu ổn định giá cả là một quy định pháp luật thì mục tiêu lạm phát được
công bố bởi NHTW như một mục tiêu của CSTT. Trong trường hợp này, việc công
bố mục tiêu của NHTW là đại diện cho ý kiến của Chính phủ , cơ quan có thẩm
quyền để thiết lập các mục tiêu CSTT đến NHTW.
Lý tưởng nhất, luật NHTW các nước có tiềm năng áp dụng khuôn khổ LPMT
nên sửa đổi, bổ sung và xác định mục tiêu ổn định giá cả là mục tiêu chính của
CSTT, NHTW được cấp những công cụ rõ ràng và độc lập. Tuy nhiên, việc giới
thiệu một khuôn khổ pháp lý như vậy không phải là một điều kiện tiên quyết cho
việc áp dụng LPMT. Các thị trường mới nổi nước đã thông qua LPMT thường thích
giới thiệu một khuôn khổ pháp lý NHTW được cấp những công cụ độc lập trước khi
giới thiệu khuôn khổ LPMT với hy vọng rằng chính thức làm nền tảng cho khuôn
khổ LPMT sẽ nâng cao độ tín nhiệm của hệ thống. Điều này có thể phản ánh lịch
sử của sự can thiệp của Chính phủ trong CSTT, hệ thống tài chính kém phát triển,
dễ bị tổn thương, lạm phát tiền tệ hóa các khoản nợ của Chính phủ, của tỷ giá trước
các cuộc khủng hoảng, và sự tham gia IMF. Hầu hết các nước công nghiệp, và cả
Brazil, Thái Lan, bắt đầu LPMT trước khi sửa đổi khuôn khổ pháp lý của họ. Khi
2012
14
khuôn khổ pháp luật hỗ trợ LPMT thì sẽ cải thiện độ tin cậy của NHTW. NHTW sẽ
cải thiện độ tín nhiệm nếu "liên tục kết hợp từ lời nói đến hành động" (Alan
Blinder- nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ).
năng trước thời hạn nào, quan điểm của mình về lý do tại sao hành vi vi
phạm được dự kiến sẽ xảy ra (ví dụ, gia tăng giá cả hàng hóa bình thường
ngoài sự kiểm soát của trung ương ngân hàng), và những hành động (ngoài
khung thời gian) để đưa lạm phát trở lại mục tiêu. Công bố trách nhiệm giải
trình cũng đòi hỏi phải có một đánh giá hiệu quả của việc thực hiện CSTT.
Việc xây dựng tính minh bạch bằng cách kết hợp các thông tin trên không yêu cầu
các phương tiện tinh vi. Điều quan trọng là thông tin được kịp thời chuyển tải đúng
lúc đúng nơi, được trình bày làm cho người nghe dễ hiểu được đối tượng mục tiêu.
Một NHTW cần bố trí đủ nguồn lực và xây dựng chuyên môn trong các mối quan
hệ bên ngoài và nghiên cứu kinh tế để xây dựng tính minh bạch các kỹ thuật phổ
biến được sử dụng bởi NHTW các nước áp dụng khuôn khổ LPMT, và ngày càng
nhiều các NHTW khác tiến hành CSTT một cách minh bạch:
Thường xuyên thông cáo báo chí về các cuộc họp của NHTW, về quyết định
các của CSTT của NHTW, báo cáo lạm phát thường xuyên có thể được sử
dụng để cung cấp các tài khoản chi tiết của kinh tế gần đây và sự phát triển
tài chính, và các hiệu ứng của nó đến hành vi lạm phát tương đối để nhắm
đến mục tiêu.
Các báo cáo về lạm phát được chia theo cung và cầu khác nhau, các chỉ số về
lạm phát kỳ vọng được cho là có tác động đến lạm phát. NHTW nên phát
hành thường xuyên các báo cáo lạm phát ( ví dụ theo quý), bao gồm cả triển
vọng về lạm phát. Các dự báo về lạm phát có thể bị giới hạn trong các thảo