Bộ giáo dục v đo tạo
trờng đại học s phạm H Nội Oh Eun Chul
đề ti gia đình trong "gia đình",
"thoát ly", "thừa tự" của Khái hng
Chuyên ngnh: Văn học Việt Nam
Mã số: 62. 22. 34. 01
Tóm tắt luận án tiến sĩ ngữ văn
Hà Nội - 2008
Th viện Quốc gia
Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án
1. Oh Eun Chul (2000), Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết "Gia
đình" của Khái Hng (Việt Nam) v tiểu thuyết "Ba thế hệ"
của Yeom Sang Seop (Hn Quốc), Tạp chí văn học, số 11, tr.
69-74, H Nội.
2. Nguyễn Đình Chú, Oh Eun Chul (2004), Bộ ba tiểu thuyết "Gia
đình - "Thoát ly" - "Thừa tự" của Khái Hng v tiểu thuyết "Ba
thế hệ" của Yeom Sang Seop qua cách nhìn của khoa văn học
so sánh, Hội thảo quốc tế, H Nội.
3. Nguyễn Đình Chú, Oh Eun Chul (2005), Thử so sánh bộ ba
tiểu thuyết "Gia đình - "Thoát ly" - "Thừa tự" của Khái Hng
(Việt Nam) v tiểu thuyết "Ba thế hệ" của Yeom Sang Seop
(Hn Quốc), trong sách Văn học so sánh nghiên cứu v triển
vọng, NXB Đại học S phạm, tr.275-282, H Nội.
4. Oh Eun Chul (Dịch giả) (2006), tiểu thuyết "Ba thế hệ" của
Yeom Sang Seop (Bản dịch tiếng Việt), NXB Văn học, 687
trang, H Nội.
5. Oh Eun Chul (2006), Lời ngời dịch trong tiểu thuyết "Ba thế
hệ" của Yeom Sang Seop, NXB Văn học, tr.11-13, H Nội.
6. Nguyễn Đình Chú, Oh Eun Chul (2007), Bộ ba tiểu thuyết "Gia
đình - "Thoát ly" - "Thừa tự" của Khái Hng v tiểu thuyết "Ba
thế hệ" của Yeom Sang Seop qua cách nhìn của khoa văn học
so sánh, Tạp chí khoa học (Journal of Science - Khoa học xã hội -
Volume 52 N
0
5/2007, tr.52-56, Trờng Đại học S phạm H
Nội.
"Thoát ly", "Thừa tự" của Khái Hng sẽ giúp ta nhìn rõ phần no thực
trạng vấn đề gia đình ở Việt Nam trong thời kỳ thực dân nửa phong
kiến, trong đó có sự lung lay của chế độ gia đình phong kiến cũ v sự
xuất hiện kiểu gia đình mới, đặc biệt l sự phức tạp của hiện tợng
gia đình ở thời buổi đổi thay xã hội ny.
II - lịch sử vấn đề
1. Trớc năm 1945
Trong sách "Nh văn hiện đại" của Vũ Ngọc Phan đã có dnh
riêng một mục viết về Khái Hng nhng tuyệt nhiên không đả động
gì đến tác phẩm "Gia đình", "Thoát ly" trừ một lần nhắc đến tên tác
phẩm "Gia đình". Trong "Việt Nam văn học sử yếu". Dơng Quảng
Hm cũng có một mục viết về Tự lực văn đon trong đó có phần nói
đến Khái Hng nhng không thấy nói gì đến "Gia đình", "Thoát ly",
"Thừa tự", chỉ nhắc đến nhan đề của hai tác phẩm "Gia đình", Thoát
ly". Với khả năng tiếp cận t liệu rất hạn chế, chúng tôi chỉ thấy
Trơng Chính l
ngời viết bi phê bình, đánh giá tác phẩm "Gia
đình". Trong tác phẩm "Dới mắt tôi" (viết năm 1939), Trơng Chính
đã đánh giá rất cao tác phẩm "Gia đình".
2
2. Sau năm 1945
Chỉ đến sau năm 1954 trở đi thì mới thấy các nh nghiên cứu văn
học ở các đô thị miền Nam cũng nh ở miền Bắc đề cập tới Khái
Hng v tác phẩm "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự".
2.1. ở các đô thị miền Nam trớc năm 1975:
Có thể nói l ở các đô thị miền Nam trớc năm 1975, Tự lực văn
đon nói chung, Khái Hng nói riêng đợc giới nghiên cứu bao gồm
những tên tuổi nh: Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Phạm Thế Ngũ,
Hong Trọng Miên, Phạm Văn Diêu, Bng Bá Lân, Nguyễn Tấn
Nam v Hn Quốc cũng nh văn học nói chung v tiểu thuyết nói
riêng của hai nớc. Đồng thời sự khác biệt đó l một cơ hội cho con
ngời, xã hội v văn học hai nớc Việt Nam v Hn Quốc tạo nên
bớc đi mới mang tính đột phá dựa trên cơ sở thức tỉnh về cái Tôi v
ý thức tự giác. Từ đó xuất hiện tinh thần chống lại cái cũ v tinh thần
đòi hỏi quyền con ngời nh dân chủ v nhân quyền. Nhng văn hoá
phơng Đông, văn hoá Nhật tác động đến con ngời v xã hội Hn
Quốc tuy đã tạo nên một bớc đi mới nhng chỉ dừng lại trong chừng
mực nhất định trong tiến trình lịch sử phát triển theo h
ớng hiện đại
hoá chứ cha thể tạo ra đợc tinh thần chống lại cái cũ v tinh thần
đòi hỏi cái mới mạnh mẽ hơn v quyết liệt hơn nh ở Việt Nam. Còn
ý thức tự giác về vấn đề gia đình cũng nh vấn đề xung đột trong ba
tác phẩm "Ba thế hệ", "Thái bình thiên hạ", "Đại h" của Hn Quốc
cũng không triệt để bằng ba tác phẩm "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa
tự" của Việt Nam. Do đó các nhân vật chính trong ba tiểu thuyết Hn
Quốc đều ít nhiều mang mu sắc thoả hiệp v yếu đuối. Trong khi đó
các nhân vật chính trong ba tác phẩm Việt Nam thì ít nhiều đã thể
hiện tinh thần tự quyết định đờng đi đến mức bất chấp cái chết.
Trong lĩnh vực nghệ thuật cũng có nội dung tơng dị do sự khác biệt
của ảnh hởng Pháp v Nhật tác động đến. Những yếu tố bản địa, yếu
tố thời đại cũng nh tính đặc thù của xã hội hai nớc lm cho lĩnh vực
nghệ thuật của nền văn học v tiểu thuyết của Hn Quốc v Việt Nam
22
chính, v thêm hai tác phẩm: "Thái bình thiên hạ" của Chae Man Sik,
"Đại h" của Kim Nam Cheon - Hn Quốc, chúng tôi cũng muốn đi
đến kết luận nh sau:
Sáu tác phẩm của hai nớc đã đợc sáng tác trong hai thế giới
nghệ thuật khác nhau do tính đặc thù của con ngời v xã hội hai
tính thời đại đợc phản ánh trong "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự".
Về mặt văn học: Tìm hiểu nghệ thuật tiểu thuyết có tính hiện đại
so với tiểu thuyết truyền thống của Việt Nam trớc đó trong khi
chuyển tải nội dung xã hội.
Chúng tôi xin đợc nói thêm rằng: L một nghiên cứu sinh ngời
Hn Quốc tìm hiểu văn học Việt Nam thời kỳ 1930 -1945 (ở đây l
vấn đề gia đình trong ba tác phẩm: "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự")
chúng tôi rất muốn không chỉ hiểu văn học m còn hiểu xã hội. Vì
thế m có cách xác định nhiệm vụ cơ bản nh trên.
2. Để thực hiện nhiệm vụ cơ bản trên đây, luận án còn có nhiệm
vụ phụ l tìm hiểu sơ lợc về vấn đề gia đình ở Việt Nam trớc năm
1930 v ở thời 1930-1945. Vấn đề văn học phản ánh gia đình ở Việt
Nam l thế no? Đây l điều kiện tiền đề để tìm hiểu vấn đề gia đình
thuộc những tác phẩm "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự".
3. Với t cách l một nghiên cứu sinh ngời Hn Quốc, tìm hiểu
văn học Việt Nam, chúng tôi cũng muốn đi theo hớng so sánh phần
no với văn học Hn Quốc. ở đây l so sánh ba tác phẩm "Gia đình",
"Thoát ly", "Thừa tự" của Việt Nam với các tác phẩm "Ba thế hệ",
"Thái bình thiên hạ", "Đại h" của Hn Quốc tuy trọng tâm l với tác
phẩm "Ba thế hệ". Việc lm ny chỉ xin đợc xem l một nhiệm vụ
thứ phụ của luận án bởi lẽ l một nghiên cứu sinh H
n Quốc, chúng
tôi vẫn muốn lấy việc tìm hiểu Việt Nam lm đầu.
4. Cũng xin nói thêm rằng: luận án ny đợc nâng cấp từ luận văn
thạc sĩ vốn có đề ti: ""Gia đình" của Khái Hng: từ góc nhìn xã hội
học v văn học (Có so sánh với "Ba thế hệ" của Yeom Sang Seop -
Hn Quốc)". Sự nâng cấp sẽ đợc thể hiện trên các phơng diện sau:
4
4.1. Mở rộng đối tợng nghiên cứu: trớc chỉ với tiểu thuyết "Gia
21
theo hớng hiện đại hoá nhng tình hình xã hội cũng nh tình hình
thời đại cha cho phép nên họ rơi vo tình trạng bất lực, không lm
đợc gì, rốt cục trở thnh ngời thừa. Bên cạnh đó, còn có một hình
thái tâm lý, đó l cảm giác thiệt thòi tơng đối. Hình thái tâm lý ny
thờng hay xảy ra trong con ngời trí thức. Kiểu tâm lý ny thờng
xuất hiện trong tình huống không ăn khớp nhau giữa sự thật v suy
nghĩ. Ví dụ, họ không phải l ngời bất hiếu m những ngời xung
quanh nghĩ rằng họ l ngời bất hiếu. Hoặc họ xung đột với dì ghẻ
không phải vì họ đợc dì ghẻ quá nuông chiều m những ngời xung
quanh nghĩ l vì thế v.v. Những nhân vật ny không chấp nhận quan
điểm của những ngời xung quanh vì sai sự thật. Kiểu tâm lý ny trở
nên rõ rng hơn trong tâm lý nhân vật. ở những trờng hợp đó họ rơi
vo tình trạng trn đầy cảm giác thiệt thòi tơng đối. Có một điều nữa
khiến trí thức cảm thấy ngại, lo lắng v băn khoăn trớc tình trạng
mất nớc. Đó chính l nỗi sợ hãi về tình trạng ngự dụng hoá. Họ nhận
thức đợc rằng bản thân mình cũng có thể rơi vo trạng thái ngự dụng
hoá vì thế họ không lm đợc gì, rốt cục trở thnh ngời vô tích sự.
Có thể nói đợc rằng trí thức trong thời thực dân nửa phong kiến thực
sự có nỗi khổ riêng vì họ phải đối mặt với nhiều trạng thái nh: con
ngời thừa, cảm giác thiệt thòi tơng đối v tình trạng ngự dụng hoá.
Còn điều coi ba tiểu thuyết "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự" l tiểu
thuyết phong tục, xét cho cùng l đúng. Nhng nếu với lý do vì có nội
dung tả cảnh phong tục thì chúng tôi không tán thnh bởi vì ba tiểu
thuyết "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự" của Khái Hng xếp vo loại
tiểu thuyết phong tục l vì những giá trị v ý nghĩa hớng vo tinh
thần khám phá trong bối cảnh thời đại nhằm sáng tác tiểu thuyết mới.
3. Từ việc so sánh ba tác phẩm: "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự"
của Khái Hng - Việt Nam với "Ba thế hệ" của Yeom Sang Seop l
5
Phần nội dung
Chơng 1
Ba tiểu thuyết "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự"
trong văn nghiệp Khái Hng v vấn đề gia đình
Việt Nam
1.1. "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự" trong văn nghiệp của
Khái Hng
1.1.1. Tiểu sử của Khái Hng
Sinh năm 1896 - mất năm 1947. Tên thật l Trần Khánh Gi, quê
lng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo nay thuộc thnh phố Hải Phòng. Xuất
thân một gia đình phong kiến quan lại ông kết bạn thân với Nhất
Linh cùng Nhất Linh chủ trơng tuần báo Phong hoá có khuynh
hớng cải cách xã hội với nội dung đả kích giáo lý phong kiến cổ
truyền, cổ động "Âu hoá". Năm 1933, lại cùng Nhất Linh, Hong
Đạo sáng lập văn phái mang tên Tự lực văn đon trở thnh một cây
bút chủ lực của nhóm ny. Sau khi Cách mạng tháng Tám thnh công,
Khái Hng vẫn theo Quốc dân Đảng, chống đối chính quyền cách
mạng. Ông mất ở huyện Xuân Trờng, nay thuộc tỉnh Nam Định.
1.1.2. Văn nghiệp của Khái Hng
Khái Hng đã sống với hai t cách chính: Một ngời có tham gia
chính trị bị cách mạng lên án nặng nề; Một nh văn có văn nghiệp
khá bề thế. Ông l một tiểu thuyết gia có nhiều tác phẩm nhất trong
nhóm Tự lực văn đon v cùng với Nhất Linh, Khái Hng - Nhất Linh
l hai tên tuổi m không ai không nhắc đến bởi l linh hồn của văn
phái ny.
Chúng tôi xin trình by văn nghiệp của Khái Hng theo một số
6
động cũng nh trạng thái tự phát trong mọi mặt. Hơn nữa chủ động
nhận thức mọi mặt thậm chí còn chủ động biết phân tích mọi mặt
mang tính phức tạp của thời đại hơn bao giờ hết.
2. Hình thức thể loại tiểu thuyết mang tính chất hiện đại, có nhiều
phơng diện khác với thể loại truyện nôm v tiểu thuyết chơng hồi
đã từng có ở Việt Nam thời trung đại. "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa
tự" l ba tiểu thuyết hiện đại. Tính hiện đại thể hiện trên phơng diện
thể loại tiểu thuyết l một sự đan xen giữa hai khuynh hớng hiện
thực v lãng mạn. Tiểu thuyết l thể loại vốn có khả năng gắn với sự
sống nhất, m sự sống l đa dạng, l phức tạp, có chuyện l hiện thực,
có chuyện chỉ l ớc muốn. ớc muốn cũng từ nhu cầu hiện thực m
có. Tính chất hiện đại của tiểu thuyết "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa
tự" đã biểu hiện trên phơng diện kết cấu. ở đây l một hình thức kết
cấu đa tuyến dựa trên tính đa diện của cuộc sống. Khác với truyện
nôm ngy trớc, hầu nh chỉ l đơn tuyến. Tính chất hiện đại cũng
thể hiện trên phơng diện nghệ thuật xây dựng nhân vật, trong đó có
hiện tợng đa nhân vật trong một tác phẩm. Nhân vật đợc miêu tả
sinh động, không chỉ có hnh động m còn cả tâm lý đợc ngòi bút
nh văn khám phá. Do đó, nói chung, nhiều nhân vật trong "Gia đình",
"Thoát ly", "Thừa tự" đã có sức sống, có hơi thở hẳn hoi, khác rất
nhiều với loại nhân vật m các nh lý luận thờng gọi l nhân vật
khái niệm. Việc đi sâu vo phân tích tâm lý con ngời nói chung v
tâm lý phụ nữ nói riêng cũng l
khía cạnh khác trớc. Có thể nói đó l
một thnh tích đáng kể trong việc tìm hiểu con ngời từ nhiều góc
nhìn trong tiến trình hiện đại hoá. Hiện đại hoá ở đây có nghĩa l
khác trớc, cụ thể l hon cảnh, môi trờng, đặc biệt khả năng nhận
thức của cá nhân v cộng đồng đi theo hớng hiện đại. Nói về khả
năng nhận thức của con ngời thì rất đa dạng v phong phú. Chính vì
7
Hng nói riêng v văn chơng Tự lực văn đon nói chung đến với mọi
tầng lớp độc giả theo tinh thần xã hội hoá văn chơng. Thứ năm, có
tính nhạc, nghe du dơng, diễn đạt câu văn rất hay, có cảm giác nh
thơ, đây chính l một yếu tố để khẳng định giá trị riêng biệt về mặt
nghệ thuật của Khái Hng. 6. Khái Hng có vốn hiểu biết rất lớn về
văn học Việt Nam cũng nh văn học phơng Tây. 7. ảnh hởng của
văn nghiệp Khái Hng đối với độc giả đơng thời, trong đó có các
tầng lớp thanh niên, đặc biệt thanh niên trí thức thnh thị l không thể
phủ nhận đợc. Thăng trầm của văn nghiệp Khái Hng gắn liền với
phơng pháp luận nghiên cứu văn học, ý thức hệ, v bối cảnh xã hội
của từng giai đoạn một trong tiến trình phát triển của lịch sử Việt
Nam.
1.1.3. Sự ra đời của ba tiểu thuyết "Gia đình", "Thoát ly",
"Thừa tự" trong văn nghiệp của Khái Hng
Quá trình sáng tác của Khái Hng gắn liền với sự ra đời Tôn chỉ,
tiến trình phát triển của Tự lực văn đon v tiến trình phát triển lịch sử
Việt Nam. Vì vậy có thể nói sự ra đời của ba tiểu thuyết "Gia đình",
"Thoát ly", "Thừa tự" của Khái Hng cũng gắn liền với nội dung trên.
Sự ra đời của ba tiểu thuyết chính l sự phản ánh nhu cầu đổi mới từ
phía nền văn chơng Việt Nam đầu thế kỷ 20 theo hớng hiện đại hoá
v l sự phản ánh nguyện vọng từ phía xã hội, đặc biệt l từ các tầng
lớp thanh niên. Sự ra đời của ba tiểu thuyết đã l một bớc đi hết sức
có nghĩa trong quá trình sáng tác của Khái Hng. Bớc đi ny đã đ
a
Khái Hng vo vị trí bậc nhất trong Tự lực văn đon, đồng thời đã
khiến ba tác phẩm mang tính thời đại hết sức quan trọng trong bối
cảnh văn học cũng nh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20. Còn sự ra đời
của ba tiểu thuyết "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự" xét theo góc nhìn
"Thoát ly", "Thừa tự" v "Ba thế hệ", "Thái bình thiên hạ", "Đại h",
trớc hết có điểm tơng đồng ở chỗ l cả sáu tác phẩm đều l tiểu
thuyết m còn l tiểu thuyết đã đi vo quỹ đạo hiện đại. Nói đến sự
tơng đồng giữa "Gia đình" v "Ba thế hệ" cũng còn l trên phơng
diện ngôn ngữ. ở phơng diện ny, văn học Việt Nam cũng nh văn
học Hn Quốc thời trung đại, ngoi tính khác nhau của hai nền ngôn
ngữ, vẫn có nét chung, liên quan đến t duy ngôn ngữ, môi trờng
văn hoá của ngôn ngữ. Đó l tính trừu tợng, tính ớc lệ, tính công
thức trong ngôn ngữ văn học ở thời kỳ trung đại. Nhng bớc sang
phạm trù văn học hiện đại, cả hai nền ngôn ngữ văn học đó đều từ giã
phong cách ngôn ngữ công thức, ớc lệ, trừu tợng để đến với ngôn
ngữ đời thờng, ngôn ngữ ton dân. Do đó m đều có độ phát triển
phong phú về từ vựng, sự sáng sủa về ngữ pháp, do có sự nâng đỡ của
ngôn ngữ cuộc sống. Với vốn ngôn ngữ đợc dân chủ hoá nh thế, lại
đợc phơng thức tiểu thuyết hiện đại góp phần, cả sáu tiểu thuyết
đều l tác phẩm nghệ thuật có nghệ thuật ngôn ngữ sinh động, hấp
dẫn. Phải chăng ở Việt Nam, trong hon cảnh các nh văn nh Khái
Hng có sự tiếp nhận trực tiếp ảnh hởng văn hoá phơng Tây, đặc
biệt l văn hoá Pháp trong đó có ngôn ngữ Pháp trong khi ở Hn
Quốc l thuộc địa của Nhật nên việc tiếp nhận văn hoá phơng Tây,
văn hoá Pháp, ngôn ngữ Pháp, t duy Pháp sẽ không nhiều bằng.
Tất nhiên đã có những tác phẩm Pháp đợc dịch v giới thiệu với độc
giả Hn Quốc thời bấy giờ nhng cha thể có kinh nghiệm trực tiếp
của văn hoá Pháp nói riêng v văn hoá phơng Tây nói chung đối với
quần chúng Hn Quốc. Chúng tôi cho rằng khoảng cách giữa tính
hiện đại v tính truyền thống trong tiểu thuyết "Gia đình", "Thoát ly",
"Thừa tự" có lẽ rõ hơn so với "Ba thế hệ", "Thái bình thiên hạ", "Đại
h".
ngời trong phạm vi gia đình v trong tình hình xã hội khá trung thực
v hấp dẫn.
3.2.3. Sự tơng đồng và tơng dị trong nghệ thuật viết tiểu
thuyết
Xét trên tổng thể về nghệ thuật viết tiểu thuyết, giữa "Gia đình",
9
chơng 2
đề ti gia đình v nghệ thuật tiểu thuyết
trong ba tiểu thuyết
"Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự"
2.1. Từ góc nhìn xã hội học
2.1.1. Sự tan rã của mô hình đại gia đình phong kiến vốn tồn
tại lâu đời ở Việt Nam
ảnh hởng của phơng Tây tác động đến con ngời, thì mới có
đợc t tởng mới. T tởng mới đó cũng l yếu tố dẫn đến sự tan rã của
mô hình đại gia đình phong kiến vốn tồn tại lâu đời ở Việt Nam xa.
2.1.2. Sự xuất hiện ý thức và hành động chống lại hành vi độc
ác của dì ghẻ trong gia đình phong kiến
Tác phẩm "Thoát ly" phản ánh sự xuất hiện ý thức v hnh động
chống lại hnh vi độc ác của dì ghẻ qua chuyện ầm ỹ, hỗn độn, chồng
nhiếc vợ, vợ to tiếng với chồng, chửi mắng con cái của gia đình ông
phán Trinh, chồng b Phán Trinh (ngời dì ghẻ), bố đẻ Hồng. Chúng
ta đều biết chuyện dì ghẻ con chồng không chỉ đến thời thực dân nửa
phong kiến mới có. Nhng đến tác phẩm "Thoát ly" của Khái Hng
vo những năm 30 thế kỷ XX thì chuyện dì ghẻ con chồng ny đã có
thêm ít nhiều yếu tố thời đại mới. Yếu tố mới ny chủ yếu liên quan
đến sự thay đổi nhận thức của con ngời.
2.1.3. Lòng tham lam của con ngời và vấn đề thừa tự
trong gia đình quyền quý thời hiện đại
phẩm "Gia đình" đã phản ánh. Cảnh lục đục xấu xa của gia đình quan
lại phong kiến chỉ mới l chuyện trong phạm vi gia đình bọn họ, chứ
còn phần ngoi đời, cảnh ở chốn công đờng, cảnh sinh hoạt của giới
quan trờng nói chung đã lm biến chất, gây ra sự huỷ hoại nhân
cách của những tên quan vốn buổi đầu cha phải đã mất hết lơng
tâm, lơng tri.
2.2. Từ góc nhìn văn học
2.2.1. "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa tự" thuộc loại tiểu
thuyết gì?
Chúng tôi cho rằng ba tiểu thuyết "Gia đình", "Thoát ly", "Thừa
tự" đều có khuynh hớng vừa lãng mạn vừa hiện thực.
2.2.2. Thêm một phơng diện cũng liên quan đến vấn đề loại
hình tiểu thuyết
Vấn đề ở đây ba tiểu thuyết ny l tiểu thuyết phong tục (nh
một
15
Cheon cũng có ba thế hệ: thế hệ ông l ông Park, thế hệ cha l Park
Kwon, thế hệ cháu l Park Hyong Keol v Park Hyong Seon, anh em
cùng cha khác mẹ m cùng tuổi.
3.2 Những nét tơng đồng và tơng dị giữa "Ba thế hệ",
"Thái bình thiên hạ", "Đại hà" với "Gia đình", "Thoát ly",
"Thừa tự"
3.2.1. Sự tơng đồng và tơng dị trên phơng diện bối cảnh xã
hội văn học của sáu tác phẩm
3.2.1.1. Về xã hội
Đúng l sáu tác phẩm ra đời trớc sau không có nhiều chênh lệch
về thời gian. "Ba thế hệ" l năm 1931, "Thái bình thiên hạ" l năm
1938, "Đại h" l năm 1939 còn "Gia đình" l năm 1936, "Thoát ly"
l năm 1937, "Thừa tự" l năm 1938. Nh vậy cả sáu tác phẩm đều
Công lao Viện Nghệ thuật (1957), Văn học 1 - 3 (1962), Huân
chơng Văn hoá Hn Quốc do Tổng thống Hn Quốc trao tặng
(1962). Năm 1963, do căn bệnh ung th ruột, ông đã mất tại nh
riêng của mình.
3.1.2. Bối cảnh sáng tác của "Ba thế hệ"
"Ba thế hệ" ra đời trong bối cảnh xã hội thuộc địa.
3.1.3. "Ba thế hệ" trong văn nghiệp của tác giả Yeom Sang
Seop
Tác phẩm "Ba thế hệ" đã thể hiện quan niệm sáng tác của ông một
cách sâu sắc nhất. Đợc nh thế l bởi ông đã hiểu xã hội Trều Tiên
đợc vận dụng v khống chế bằng nguyên lý của gia tộc chủ nghĩa
sâu sắc nhất.
3.1.4. Vị trí của "Ba thế hệ" trong nền văn học Hàn Quốc
Hầu hết, các nh nghiên cứu văn học Hn Quốc đều đã đánh giá
rất cao vị trí của "Ba thế hệ" trong nền văn học Hn Quốc thời cận đại.
3.1.5. Ba thế hệ là thế nào?
Thế hệ ông - thế hệ cha - thế hệ cháu. Thế hệ thuộc lớp ngời của
thời đại phong kiến cuối mùa, thế hệ thuộc thời đại Triều Tiên bị biến
thnh thuộc địa của Nhật Bản muốn tiến hnh cuộc cải cách nhng
thất bại, v thế hệ muốn sống dung ho trong hon cảnh thuộc địa.
Tác phẩm "Thái bình thiên hạ" của Chae Man Sik có ba thế hệ: thế hệ
cha l Yun Du Seop, thế hệ con l
Yun Chang Sik, thế hệ cháu l Yun
Jong Su v Yun Jong Hak. Còn tác phẩm "Đại h" của Kim Nam
11
số nh nghiên cứu đã nói ở mục lịch sử vấn đề chúng tôi cũng đã
điểm qua) hay còn l tiểu thuyết gì nữa. Đến đây chúng tôi thực sự
băn khoăn về vấn đề coi ba tác phẩm l tiểu thuyết phong tục hay
không nh trên đã nói thực sự cha phải l dứt điểm. Nếu tìm đợc
12
sát một cách ton diện. Đồng thời ông l một nh văn có đủ sức để tả
ngời dựa vo ti năng mang tính hi ho giữa lý luận v thực tế.
2.2.3.4. Nghệ thuật tả cảnh
Khái Hng l nh văn có ti năng sử dụng ngôn ngữ tợng trng
trong văn chơng để cho câu văn của nh văn điêu luyện, chuyên
môn v tự chủ hơn. Đồng thời nghệ thuật tả cảnh của Khái Hng l
không lộ liễu v thô sơ. Ông đã tìm những chi tiết cần thiết cho câu
chuyện thêm sinh động v nổi bật lên. Cảnh của Khái Hng thờng
gắn liền vo một cốt truyện, tạo nên sự biến chuyển tích cực trong
tình tiết no đó. Những đoạn tả cảnh thờng gắn với đoạn tả ngời đã
tạo nên không khí tự nhiên, chân thực v cũng đã khiến độc giả đồng
cảm, cởi mở dẫn đến sự trở lại trong sáng của tâm hồn.
2.2.3.5. Nghệ thuật ngôn ngữ tiểu thuyết
Bớc vo phạm trù văn học Việt Nam hiện đại thì văn học đã từ bỏ
phong cách ngôn ngữ trung đại để tìm đến thế giới ngôn ngữ đời
thờng, ngôn ngữ ton dân. Điều đó l yếu tố quyết định cho một nền
văn học của quốc gia v dân tộc đi sâu vo cuộc giao lu trong khu
vực v thế giới. Phong cách ngôn ngữ của ba tiểu thuyết "Gia đình",
'Thoát ly", "Thừa tự" đợc trình by tập trung theo góc độ dân chủ
hoá v phân tích tâm lý (phụ nữ). Phong cách ngôn ngữ của ba tiểu
thuyết nói riêng, cũng nh của tiểu thuyết văn học hiện đại đơng
thời nói chung có liên quan mật thiết với khuynh hớng dân chủ hoá
trên con đờng hiện đại hoá văn học Việt Nam. V chính phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật ny đã l một bằng chứng của sự dân chủ hoá
qua tính chất dễ hiểu, trong sáng, Việt hoá của nó. V ngôn ngữ phân
tích tâm lý (phụ nữ) cũng l một trong những yếu tố mới với khuynh
hớng dân chủ hoá trên con đờng hiện đại hoá văn học Việt Nam.
Trong ngôn ngữ tâm lý có một khía cạnh tâm lý đặc sắc chính l cảm
giác thiệt thòi tơng đối. Tâm lý đó l một mặt rất đáng chú ý trong
3.1.1. Tiểu sử của Yeom Sang Seop
Sinh năm 1890 mất năm 1963. Tên thật l Yeom Sang Seop, bút
danh l Hoeng Bo, quê ở thnh phố Seoul, Hn Quốc. Xuất thân trong
một gia đình quan chức. Năm 1920, ông cùng những nh văn khác
phát hnh tạp chí mang tên "Pye Ho". Năm 1923, ông thnh lập Hội
Văn nhân Triều Tiên. Năm 1929, ông lấy vợ, v
bắt đầu hoạt động