GIÁO TRÌNH LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM - Pdf 12

TRƯỜNG ÐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
GIÁO TRÌNH
LUẬT HÀNH CHÍNH VIỆT NAM
PHẦN II
PHƯƠNG CÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Biên soạn: TS. PHAN TRUNG HIỀN
Cần Thơ, năm 2009
1
A. CÁCH THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Chương I. NỘI DUNG - HÌNH THỨC- PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
I. NỘI DUNG, HÌNH THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
1.Nội dung quản lý nhà nước
Nội dung của quản lý nhà nước là việc tổ chức thực hiện quản lý nhà nước trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Ðây chính là hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật trong
từng lĩnh vực của đời sống xã hội cho nên tương xứng với mỗi lĩnh vực có một nội dung
quản lý khác nhau.
Nội dung của quản lý hành chính nhà nước rất đa dạng và phong phú, được tiến hành trên
nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Vì vậy không thể chỉ ra
được nội dung cụ thể của quản lý hành chính nhà nước mà chỉ có thể nêu lên những nội
dung cơ bản, mang tính chất tổng quát mà thôi.
2. Hình thức quản lý nhà nước
a. Khái niệm
 Khái niệm:
Hình thức quản lý hành chính nhà nước là những biểu hiện ra bên ngoài của nội dung
quản lý hành chính nhà nước, thông qua những biểu hiện này chủ thể quản lý hành chính
nhà nước tác động đến đối tượng quản lý để đạt được những mục đích đã định trước.
Nội dung của quản lý hành chính nhà nước rất đa dạng nên hình thức của chúng cũng rất
phong phú. Vì thế đứng trước một điều kiện, hoàn cảnh trong đó có chứa đựng những nội
dung quản lý thì việc các chủ thể quản lý lựa chọn hình thức nào đó để quản lý mang lại
hiệu quả cao nhất. Hình thức quản lý nhà nước, vì vậy không phụ thuộc vào ý chí chủ

chủ yếu sau:
- Hình thức pháp lý: là những hình thức quản lý nhà nước trực tiếp tác động đến các đối
tượng chịu sự quản lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ pháp lý;
Ví dụ: Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Chỉ thị xuống các Ủy ban nhân
dân huyện.
3
- Thực tiễn quản lý hành chính nhà nước cho thấy rằng hoạt động quản lý hành chính nhà
nước còn có thể được tiến hành dưới những hình thức không pháp lý. Tuy nhiên, hình
thức không pháp lý cũng yêu cầu chủ thể quản lý hành chính phải tiến hành hoạt động
quản lý nhà nước trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật.
Ví dụ: Tổ chức hội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm 05 năm thực hiện Chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ.
Sự khác nhau giữa hình thức pháp lý và hình thức không pháp lý thể hiện ở chỗ hình thức
pháp lý trực tiếp hoặc gián tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp
luật hành chính. Tuy nhiên, trong khi tiến hành hoạt động quản lý nhà nước các chủ thể
quản lý hành chính phải sử dụng kết hợp cả hai hình thức này.
 Căn cứ vào tính chất và nội dung hoạt động, hình thức quản lý hành chính nhà nước
thành năm loại sau:
 Ban hành những văn bản quy phạm pháp luật;
 Ban hành những văn bản áp dụng pháp luật;
 Thực hiện những hoạt động mang tính chất pháp lý khác;
 Áp dụng những biện pháp mang tính chất trực tiếp;
 Thực hiện những hoạt động về nghiệp vụ-kỹ thuật.
Cần lưu ý rằng, để thực hiện một hoạt động quản lý nhà nước có hiệu quả, trong nhiều
trường hợp, chủ thể quản lý cần phải kết hợp một số hình thức trong quản lý.
Ví dụ: khi lũ lụt xảy ra, Ủy ban nhân dân tỉnh nơi có lũ lụt sẽ tiến hành các hoạt động
như:
- Ủy ban nhân dân tỉnh triệu tập cuộc họp triển khai kế hoạch phòng chống lũ lụt;
- Sau đó áp dụng khoa học kỹ thuật, áp dụng những biện pháp tổ chức về vật chất, kỹ
thuật để phòng chống lũ lụt.

định. Cụ thể:
- Phải đúng thẩm quyền;
- Phải đúng trình tự, thủ tục và hình thức để đảm bảo chất lượng của văn bản;
- Phải đảm bảo hiệu lực của văn bản;
- Không được trái với Hiến pháp và luật (đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa);
- Ngôn ngữ được sử dụng phải là tiếng Việt, văn bản phải bảo đảm tính chính xác, rõ
ràng, dễ hiểu.
5
Thông qua hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính, các chủ thể quản
lý hành chính nhà nước xác định địa vị pháp lý của chủ thể tham gia vào quản lý hành
chính nhà nước.
Tóm lại, trong các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nước quy
định những quy tắc chung trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước; những nhiệm vụ,
quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà
nước, xác định rõ thẩm quyền và thủ tục hoạt động của các đối tượng quản lý.
 Ban hành những văn bản áp dụng pháp luật
Ðây là hình thức được chủ thể quản lý hành chính nhà nước áp dụng chủ yếu trong quá
trình quản lý hành chính nhà nước vì nhờ hình thức này mà quy phạm pháp luật đi sâu
vào đời sống thực tiễn. Việc ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật làm phát
sinh, thay đổi, chấm dứt những quan hệ pháp luật hành chính giữa chủ thể quản lý hành
chính với đối tượng quản lý hành chính.
Ví dụ: Việc ra một quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cảnh sát giao thông sẽ làm
phát sinh quan hệ pháp luật hành chính giữa cảnh sát giao thông với người vi phạm; làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể liên quan đến lợi ích vật chất hoặc
tinh thần của các chủ thể đó.
Ðặc trưng của văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính cũng như các văn bản quy
phạm pháp luật hành chính là tính chất quyền lực và tính dưới luật. Tuy nhiên, những văn
bản áp dụng quy phạm pháp luật khác nhau về nội dung, tính chất, mục đích nên có thể
chia chúng thành hai nhóm:
- Nhóm văn bản chấp hành pháp luật.

Vì thế mà nó mang tính chất pháp lý mặc dù nó không trực tiếp làm phát sinh hậu quả
pháp lý.
Như vậy, những hoạt động mang tính chất pháp lý khác có thể trực tiếp làm phát sinh
quan hệ pháp luật hành chính nhưng cũng có thể chỉ mang tính chất bổ trợ làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính.
 Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp
Ðây là những hình thức được chủ thể quản lý hành chính nhà nước áp dụng thường xuyên
mang tính chất bổ trợ cho quá trình quản lý hành chính nhà nước nhưng nó đóng một vai
trò quan trọng. Thông qua hình thức này các chủ thể quản lý hành chính nhà nước tiến
7
hành nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng quản lý, giao nhiệm vụ, biểu dương những
điển hình tiên tiến
Ví dụ: Họp triển khai Nghị quyết Ðảng Cộng sản.
Kết quả của việc thực hiện những biện pháp tổ chức trực tiếp không tạo ra những quy tắc
bắt buộc chung, không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật. Tuy
nhiên, hoạt động này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó là khâu then chốt trong việc giải
quyết những nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan hành chính nhà nước trong việc mở rộng
một cách toàn diện công tác tổ chức quần chúng, trong việc nghiên cứu và phổ biến
những kinh nghiệm tiên tiến.
Ðối với hoạt động tổ chức trong bộ máy hành chính nhà nước cần nhấn mạnh đến công
tác hướng dẫn, giải thích, kiểm tra, tổ chức công tác trong bộ máy của những cơ quan
này. Khi thực hiện những hoạt động này không cần ban hành văn bản áp dụng quy phạm
pháp luật mà chỉ thực hiện theo trình tự, thủ tục, hoạt động thông thường của các cơ quan
hành chính nhà nước.
 Thực hiện những hoạt động về nghiệp vụ - kỹ thuật
Ðây là những hoạt động sử dụng kiến thức, nghiệp vụ, áp dụng thành tựu khoa học kỹ
thuật vào quá trình quản lý hành chính nhà nước. Những hoạt động này rất đa dạng, đó là
việc chuẩn bị tài liệu cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật và áp dụng quy
phạm pháp luật cho việc tiến hành những biện pháp tổ chức, làm báo cáo, công tác lưu trữ
hồ sơ

trong quá trình quản lý.
Như vậy, hiểu theo nghĩa hẹp thì phương pháp quản lý hành chính nhà nước với tính cách
là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, còn phương pháp quản lý
hành chính nhà nước theo nghĩa rộng với tính cách là cách thức tổ chức công tác của chủ
thể quản lý và cách thức giải quyết những vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý.
Tuy nhiên, trong giới hạn của nội dung môn học ta chỉ nghiên cứu phương pháp quản lý
hành chính nhà nước theo nghĩa hẹp và các phương pháp quản lý này phải đáp ứng những
yêu cầu sau:
- Phải có khả năng đảm bảo tác động quản lý lên các lĩnh vực chủ yếu của quản lý hành
chính nhà nước, có tính đến đặc điểm của mỗi lĩnh vực và sự phát triển chung của xã hội.
9
- Phải đa dạng và thích hợp để tác động lên những đối tượng khác nhau, bởi vì cách
thức tác động lên cá nhân không giống cách thức tác động lên tập thể, cách thức tác động
lên đối tượng trực thuộc trực tiếp không giống đối tượng trực thuộc gián tiếp.
- Phải có tính hiện thực, có khả năng thực hiện trên thực tế, đem lại hiệu quả cao.
- Phải có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo.
- Phải phù hợp với đường lối, chính sách chính trị của Ðảng trong từng giai đoạn cụ
thể.
Ðể lựa chọn một phương pháp quản lý phù hợp thì chủ thể quản lý có thể dựa vào ý chí
chủ quan của mình mà phải dựa vào những điều kiện khách quan, phải căn cứ vào đặc
tính của quản lý, đối tượng quản lý, điều kiện hoàn cảnh xảy ra quá trình quản lý. Việc
lựa chọn được một phương pháp quản lý phù hợp, đúng đắn sẽ mang lại hiệu quả cho
hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đáp ứng lợi ích xã hội và của việc thực hiện hoạt
động chấp hành và điều hành.
Dựa theo những yêu cầu trên, hiện nay có các phương pháp được áp dụng phổ biến trong
quá trình quản lý hành chính nhà nước, đó là các phương pháp sau:
 Phương pháp thuyết phục.
 Phương pháp cưỡng chế nhà nước.
 Phương pháp hành chính.
 Phương pháp kinh tế.

Có ba loại cưỡng chế nhà nước:
- Cưỡng chế tư pháp
- Cưỡng chế hành chính
- Cưỡng chế kỷ luật.
 Cưỡng chế tư pháp:
Bao gồm cưỡng chế hình sự và cưỡng chế dân sự. Do cơ quan tòa án áp dụng theo trình
tự tố tụng hình sự hay tố tụng dân sự, áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình
sự hay pháp luật dân sự.
 Cưỡng chế hành chính:
Là biện pháp cuỡng chế được tiến hành trước hết và chủ yếu bởi cơ quan hành chính nhà
nước theo trình tự, thủ tục hành chính nhằm xử lý hành vi vi phạm hành chính và ngăn
chặn vi phạm hành chính. Cưỡng chế hành chính bao gồm các hình thức: xử phạt vi phạm
hành chính; các biện pháp phòng ngừa vi phạm hành chính; các biện pháp ngăn chặn vi
11
phạm hành chính. Ngoài ra còn có các biện pháp khác như biện pháp bảo đảm việc xử lý,
cưỡng chế thi hành và khắc phục hậu quả của vi phạm hành chính, biện pháp xử lý hành
chính khác và các biện pháp được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết vì lý do an
ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia
 Cưỡng chế kỷ luật:
Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do thủ trưởng cơ quan áp dụng đối với cán bộ, công
chức của cơ quan đó khi họ vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan hay vi phạm kỷ luật
lao động. Đối với cán bộ, cưỡng chế kỷ luật bao gồm các hình thức sau (Điều 78 Luật cán
bộ, công chức):
- Khiển trách;
- Cảnh cáo;
- Cách chức;
- Bãi nhiệm.
Riêng đối với công chức, cưỡng chế kỷ luật bao gồm các hình thức sau (Điều 79 Luật cán
bộ, công chức):
- Khiển trách;

năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ, sử dụng hợp lý tài sản
được giao, phát huy và khai thác hợp lý nhất những khả năng sẵn có.
Phương pháp kinh tế chỉ có thể phát triển trong điều kiện được ủng hộ và tạo điều kiện
thuận lợi hay nói cách khác là trong điều kiện có các tiền đề hành chính tương ứng vì so
với phương pháp hành chính thì đằng sau phương pháp kinh tế là tính hợp lý, là các quy
luật chứ không phải là quyền lực nhà nước.
Nếu so sánh các phương pháp hành chính và kinh tế từ góc độ tính ổn định, khả năng
thẩm thấu vào các quan hệ quản lý kinh tế ta thấy rằng phương pháp hành chính có khả
năng nội tại lớn hơn trong việc chiếm lĩnh và duy trì vị trí. Ngoài ra, phương pháp hành
chính còn có khả năng tự khẳng định và phát triển không cần đến đòn bẩy từ bên ngoài
trong khi phương pháp kinh tế đòi hỏi phải được sự ủng hộ và quan tâm thường xuyên.
Bởi vì, đằng sau phương pháp hành chính là quyền lực nhà nước còn đằng sau phương
pháp kinh tế là tính hợp lý, là các quy luật kinh tế. Phương pháp kinh tế chỉ có thể phát
triển trong điều kiện có các tiền đề hành chính tương ứng.
13
e. Phương pháp quản lý có mục tiêu, định hướng
Quản lý nhà nước là một hoạt động có mục đích và có tính tiêu liệu. Hiệu quả của hoạt
động quản lý lâu dài, cũng như khả năng giải quyết các tình huống phát sinh trên thực tế
tùy thuộc rất nhiều vào phương pháp quản lý có mục tiêu, định hướng. Nhìn chung,
phương pháp này có vai trò:
- Chủ động định hướng các mục tiêu, chiến lược, chương trình lâu dài, tránh dàn trải phân
tán, thiếu tập trung.
- Chủ động đặt ra các tình huống phát sinh trong thực tiễn hoạt động của nền hành chính
đang phát triển trong thời kỳ hội nhập.
- Chủ động về nhân sự, và các điều kiện vật chất cần thiết khác cho công tác quản lý,
nhận rõ được điểm mạnh, điểm yếu ngày từ giai đoạn khởi xướng chương trình để có
những hỗ trợ, bồi dưỡng thích hợp.
Ví dụ: Chương trình cải cách hành chính, giai đoạn cắt giảm 1/3 thủ thủ tục hành chính;
chương trình chăm lo nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong thời kỳ công nghiệp
hóa…

tương thích.

Câu hỏi
1. Căn cứ để xác định nội dung quản lý hành chính nhà nước?
2. Nêu các phương pháp quản lý hành chính nhà nước? Xem xét tính chất quyền lực nhà
nước và tính pháp lý của mỗi loại.
3. Hãy phân tích năm hình thức quản lý hành chính theo bảng sau:
Hình thức
Khái
niệm
Tính chất
pháp lý
Tác
dụng
Ví dụ
1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
2. Ban hành văn bản áp dụng pháp luật
3. Thực hiện hoạt động mang tính chất
pháp lý khác
4. Áp dụng biện pháp trực tiếp
5. Thực hiện hoạt động về nghiệp vụ - kỹ
thuật.
15
Chương II. QUYẾT ÐỊNH HÀNH CHÍNH
I. QUAN NIỆM VỀ QUYẾT ÐỊNH HÀNH CHÍNH
Trong khoa học pháp lý, quyết định hành chính (quyết định quản lý nhà nước) là một
khái niệm tồn tại nhiều hình thức khác nhau. Ðó có thể là:
- Những hành vi vật chất cụ thể (hành vi hành chính);
- Văn bản hành chính;
- Mệnh lệnh hành chính dưới hình thức nói;

biện pháp cưỡng chế khi cần thiết.
 Tính pháp lý
Quyết định quản lý hành chính nhà nước là quyết định dưới luật. Quyết định này được
ban hành trên cơ sở luật và để thi hành pháp luật. Quyết định quản lý hành chính nhà
nước có thể làm thay đổi, phát sinh, chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính. Thông qua
các loại quyết định hành chính tương ứng, các qui phạm pháp luật được đặt ra, sửa đổi,
bãi bỏ.
Tuy nhiên các tính chất này có quan hệ hữu cơ với nhau. Tính ý chí và tính quyền lực chỉ
được thực hiện khi quyết định đó được ban hành và thực hiện trên cơ sở các quy định của
pháp luật, nghĩa là trước hết phải bảo đảm tính pháp lý.
II. PHÂN LOẠI QUYẾT ÐỊNH HÀNH CHÍNH
Có nhiều căn cứ để phân loại quyết định quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên trong
nội dung chương trình, chúng ta chỉ phân loại dựa trên các căn cứ sau:
1. Căn cứ vào tính chất pháp lý, quyết định quản lý hành chính nhà nước được chia
ra làm quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm và quyết định cá biệt
a) Quyết định chủ đạo
Là loại quyết định chủ yếu đựợc ban hành với mục đích đề ra các chủ trương chính sách
quản lý hành chính nhà nước thuộc thẩm quyền của các chủ thể ban hành. Trên thực tế,
hầu hết các quyết định chỉ đạo được ban hành dưới hình thức văn bản Nghị quyết. Nội
dung của quyết định chỉ đạo địa phương (Nghị quyết của HÐND) thường đề cập đến các
vấn đề về phát triển kinh tế-xã hội, về quyết định ngân sách địa phương, về bầu cử Ủy
ban nhân dân, thường trực hội đồng nhân dân. Ðây là quyết định tạo cơ sở cho các quyết
định khác như quyết định quy phạm, quyết định cá biệt.
17
Loại quyết định này rất quan trọng nên khi ban hành các chủ thể phải cân nhắc kỹ
lưỡng, căn cứ vào nội dung, mục đích, đối tượng quản lý để ra quyết định đúng đắn tránh
tình trạng quyết định đưa ra không chuẩn xác gây ảnh hưởng không tốt đến các quyết
định khác. Trên thực tế, một số đáng kể quyết định chỉ đạo nặng về hình thức gắn liền với
những thuật ngữ: "tăng cường", "quyết tâm", đẩy mạnh", "kiên quyết" Tất nhiên các
thuật ngữ này là cần thiết nếu được sử dụng đúng chỗ, loại trừ hô hào chung chung, "vô

- Quyết định quản lý nhà nước ban hành phải là quyết định dưới luật, nhằm thi hành
luật.
Với cách tiếp cận như vậy, số chủ thể này rất dồi dào, nên tạm chia thành hai nhóm:
- Nhóm 01: cơ quan, cán bộ hành chính nhà nước.
- Nhóm 02: các chủ thể khác có thẩm quyền hành chính nhà nước.
Nhóm 01 được nghiên cứu cụ thể là quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền chung và quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền chuyên môn
Cơ quan hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền chung
Trung ương
Chính phủ
Nghị định
Thủ tướng Chính phủ
Quyết định
Ðịa phương
Ủy ban nhân dân tỉnh
Quyết định, chỉ thị
Ủy ban nhân dân huyện
Quyết định, chỉ thị
Ủy ban nhân dân xã
Quyết định, chỉ thị
Bảng 2.1 Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền chung
Cơ quan hoặc người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền chuyên môn
Trung
ương
Bộ trưởng
Thông tư

cư biên giới. Chỉ những tỉnh có địa bàn vùng biên giới mới trực tiếp chịu sự điều chỉnh
của quyết định hành chính nêu trên.
 Những quyết định hành chính nhà nước do các cơ quan địa phương ban hành có hiệu
lực pháp lý trong phạm vi địa phương đó. Pháp luật không quy định hình thức văn bản
quy phạm pháp luật “phối hợp” giữa các địa bàn địa phương.
20
III. TRÌNH TỰ XÂY DỰNG VÀ BAN HÀNH QUYẾT ÐỊNH HÀNH CHÍNH
1. Sáng kiến ban hành quyết định
Ðây là giai đoạn đầu tiên của việc ra quyết định. Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của
quan hệ pháp luật cần điều chỉnh để có được sáng kiến với tư cách là một quá trình ra
quyết định.
2. Dự thảo
Ðây là giai đoạn rất quan trọng vì nếu giai đoạn này được chuẩn bị tốt thì quyết định mới
có thể mang tính khả thi. Giai đoạn chuẩn bị dự thảo được tiến hành theo từng bước nhất
định như: quyết định cơ quan chủ trì soạn thảo, thành lập ban soạn thảo, tổng kết thực
tiễn thi hành pháp luật, tổ chức nghiên cứu, lấy ý kiến các cơ quan, chuẩn bị tờ trình, dự
thảo
3. Trình và thông qua dự thảo
Sau khi hoàn tất dự thảo của quyết định cần đưa ra thì dự thảo bắt buộc phải được trình ra
cơ quan có thẩm quyền ban hành. Hiện nay theo quy định của pháp luật thì:
- Dự thảo Nghị định của Chính phủ phải qua thẩm định. Bộ Tư pháp là cơ quan có
trách nhiệm thẩm định các dự thảo khi trình Chính phủ.
- Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham gia
ý kiến bằng văn bản; các Thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các dự thảo phải trình
lên Bộ trưởng.
- Dự thảo Nghị định phải được quá nửa thành viên của Chính phủ thông qua mới
hợp lệ.
- Còn các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cơ quan soạn thảo phải chỉnh lý dự
thảo và báo cáo Thủ tướng, trên cơ sở đó Thủ tướng xem xét và đi đến ký Quyết định.
Đối với các hình thức văn bản pháp quy của cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ hành

muốn nâng cao và làm cho các quyết định quản lý hành chính thực thi trên thực tế một
cách có hiệu quả thì cần phải đảm bảo hai tính chất trên.
22
a) Tính hợp pháp của quyết định hành chính
Các quyết định hành chính phải có nội dung và mục đích phù hợp với những quy định
của pháp luật, không được trái với Hiến pháp và luật cũng như các văn bản quy phạm
pháp luật, văn bản chủ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên. Quyết định quản lý hành chính
nhà nước phải được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền, theo đúng trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định. Nói chung, tính hợp pháp đặt ra các yêu cầu sau:
- Các quyết định quản lý hành chính phải phù hợp với nội dung và mục đích của văn bản
pháp luật cấp trên, tức là không được trái với Hiến pháp và các văn bản mang tính luật
(Bộ luật, Luật, Pháp lệnh).
- Phải được ban hành trong phạm vi thẩm quyền nội dung được qui định cho chủ thể
mang thẩm quyền hành chính nhà nước.
- Phải được ban hành đúng thẩm quyền hình thức, đảm bảo đúng hình thức và thủ tục do
pháp luật qui định.
Ví dụ: Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.
b) Tính hợp lý của quyết định hành chính
Quyết định quản lý hành chính nhà nước được ban hành phải đảm bảo được lợi ích
nhà nước và nguyện vọng của nhân dân, phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của cuộc
sống, phải giải quyết được các nhiệm vụ hiện tại và có tính dự báo cho tương lai.
Khi ban hành một quyết định quản lý hành chính nhà nước phải đảm bảo được cả
tính hợp lý và tính hợp pháp, nếu thiếu một trong hai tính chất đó thì quyết định quản lý
hành chính nhà nước được ban hành sẽ không có tính thực thi hoặc không phù hợp với
pháp luật. Ðể đảm bảo tính hợp lý, quyết định hành chính nhà nước cần phải đảm bảo các
yêu cầu sau:
- Hài hoà giữa lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và các nhân. Cơ quan nhà nước, cán

- Trong trường hợp cơ quan này cần được giám sát bởi cơ quan kia.
Ví dụ: Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh, đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ (Điều 114 Hiến pháp 1992).
24
 Tạm đình chỉ
Khi có dấu hiệu vi phạm về tính hợp pháp, hoặc hợp lý của quyết định nhưng chưa có căn
cứ cụ thể để khẳng định rõ chính xác.
 Ðình chỉ
Nếu tìm ra những căn cứ chính xác là quyết định hành chính bất hợp pháp hoặc bất hợp
lý, quyết định hành chính này sẽ bị đình chỉ.
 Bãi bỏ
Việc đình chỉ hay bãi bỏ một văn vản pháp luật hành chính tuỳ thuộc vào thẩm quyền
đình chỉ, bãi bỏ quyết định hành chính của các cơ quan tương ứng. Lưu ý rằng, cơ quan
có thẩm quyền đình chỉ quyết định hành chính không mặc nhiên có thẩm quyền bãi bỏ
quyết định hành chính ấy.
Ví dụ: Ủy ban nhân dân cấp trên chỉ có thẩm quyền đình chỉ Nghị quyết sai trái của Hội
đồng nhân dân cấp dưới, còn quyền bãi bỏ Nghị quyết đó thuộc về Hội đồng nhân dân
cấp trên trực tiếp.
 Hủy bỏ
Ngoài thuật ngữ “bãi bỏ”, trong pháp luật còn dùng thuật ngữ “hủy bỏ”. Thật ra, hai thuật
ngữ này giống nhau ở chỗ cùng là “bỏ đi”, làm chấm dứt hiệu lực của văn bản đó. Tuy
nhiên, các nhà khoa học luật và các nhà lập pháp ở Việt Nam có cách hiểu khác nhau, cụ
thể như sau:
- Theo quan điềm của các nhà khoa học luật và căn cứ trên câu chữ, hai thuật ngữ
này khác nhau ở mốc thời điểm hết hiệu lực: bãi bỏ là làm cho văn bản đó hết hiệu lực
ngay tại thời điểm mà cơ quan có thẩm quyền tuyên bố bãi bỏ; còn việc hủy bỏ là làm cho
văn bản không có hiệu lực ngay từ thời điểm văn bản được ban hành (giống như hợp
đồng vô hiệu ngay từ khi ký kết). Do vậy, đối với trường hợp hủy bỏ, các quan hệ xã hội
đã bị văn bản pháp luật đó điều chỉnh thì sự điều chỉnh đó bị vô hiệu và phải được điều
chỉnh lại. Với cách hiểu này thì bãi bỏ gắn liền với văn bản bất hợp lý, còn hủy bỏ gắn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status