1
Tiểu luận
Thực thi quyền con người của
Liên Hiệp Quốc
đảm bảo thực thi.
Ở cấp độ toàn cầu, cho đến nay LHQ đã ban hành một khối lượng đồ
sộ các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người, trong đó có 25 công
ước và nghị định thư. Ở cấp độ khu vực, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Phi
đã xây dựng thành công các văn kiện pháp lý về quyền con người như:
công ước nhân quyền Châu Âu (1950), công ước nhân quyền Châu Mỹ
(1969) và Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc
(1981).
Bên cạnh việc xây dựng và ban hành các công ước quốc tế về quyền
con người, LHQ, Hội đồng Châu Âu, Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ và
Tổ chức thống nhất Châu Phi còn thiết lập các cơ quan đảm bảo thực thi
các quyền được quy định trong các công ước. Như vậy, quyền con người
được đảm bảo thực thi không những bằng hệ thống pháp luật, chính sách
của quốc gia mà còn thông qua các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
3
Các cách thức bảo đảm thực thi cơ chế nhân quyền làm cho quyền
con người được bảo vệ một cách hiệu quả nhất, nó có vai trò mang tính
bổ trợ cho cơ chế bảo vệ nhân quyền của quốc gia, loại bỏ sự bất chấp và
coi thường nhân quyền dễ dẫn đến những hậu quả là hành vi tàn ác làm
tổn thương lương tâm của nhân loại. Bên cạnh đó các cách thức này thúc
đẩy việc tăng cường và tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản
cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ tôn
giáo.
Chương I. Cách thức đảm bảo thực thi của Liên hợp quốc
I. Hệ thống các cơ quan
Cơ chế quốc tế về quyền con người là hệ thống các cơ quan có
nhiệm vụ giám sát và hỗ trợ việc thực hiện quyền con người trên phạm vi
thế giới. Ở cấp độ quốc tế, đó là cơ chế của tổ chức Liên hợp quốc. Ở cấp
“nó không có thẩm quyền rõ ràng đối với việc bảo vệ quyền con người”.
Tuy nhiên, mối quan hệ của HĐBA với vấn đề quyền con người có thể
được xác định tại điều 34 của Hiến chương… Theo điều 34, trong các
tình thế có thể gây ra sự bất hoà quốc tế hoặc gây tranh chấp đe doạ đến
hoà bình an ninh thế giới thì Hội đồng có thể viện dẫn các quy định tại
Hiến chương liên quan đến thẩm quyền của Hội đồng để giải quyết các
vấn đề đó. Trong trường hợp có sự vi phạm quyền con người một cách rõ
rang và ở mức độ cao, Hội đồng hoàn toàn có khả năng xác định trường
hợp đó sẽ tạo nên nguy cơ đe doạ hoà bình và an ninh thế giới theo quy
định tại điều 39(a) của Hiến chương. Hội đồng có đủ thẩm quyền thay
mặt LHQ để thông qua và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nếu sự việc
không được giải quyết thoả đáng ở mức độ thấp hơn.
Điều đặc biệt trong các hoạt động của HĐBA là “trong nhiều năm
qua, vấn đề đảm bảo an ninh, hoà bình và bảo vệ quyền con người đã và
đang được nhập vào nhau và ngày nay, những phạm vi rộng lớn và có hệ
thống về quyền con ngươi được xem như là mối đe doạ đến hoà bình theo
quy định tại điều 39”. Thông qua việc sử dụng thẩm quyền được Hiến
chương giao cho, HĐBA là cơ quan quyết định cuối cùng về những vấn
đề liên quan, bao gồm cả vấn đề quyền con người.
Đại Hội đồng LHQ
Uỷ ban III Đại hội đồng LHQ chuyên trách về các vấn đề nhân
quyền, nhân đạo, xã hội.
Các cơ quan khác trực thuộc : Uỷ ban đặc biệt về phi thực dân hoá;
Uỷ ban đặc biệt chống Apartheid; Uỷ ban đặc biệt điều tra vi phạm nhân
quyền của Israel tại các vùng chiếm đóng; Uỷ ban về thực hiện quyền của
nhân dân Palestin; Cao uỷ LHQ về nhân quyền; Cao uỷ LHQ về người tị
nạn.
Quy định tại điều 13(1,b) của Hiến chương giao cho ĐHĐ “đề
Hội đồng kinh tế và xã hội (ECOSOC)
- ECOSOC đã lập Uỷ ban nhân quyền ; Tiểu ban thúc đẩy và bảo vệ
nhân quyền (gọi tắt là Tiểu ban nhân quyền); Uỷ ban tình trạng phụ nữ
(CSW)
- Uỷ ban Nhân quyền chịu trách nhiệm đưa ra các khuyến nghị và
báo cáo về các vấn đề nhân quyền thông qua ECOSOC trình lên Đại hội
đồng LHQ, Uỷ ban Nhân quyền gồm 53 nước thành viên, nhiệm kỳ 3
năm. Hàng năm Uỷ ban họp một lần kéo dài 6 tuần (thường vào cuối
tháng 3, đầu tháng 4) tại Giơnevơ. Năm 2005, tại Hội nghị Thượng đỉnh
Liên hợp quốc, Hội đồng Nhân quyền đã được thành lập để thay thế
UBNQ.
- Tiểu ban nhân quyền (gồm 26 chuyên gia) có chức năng giúp việc
cho Uỷ ban nhân quyền, tư vấn khuyến nghị về các vấn đề chuyên môn,
dự thảo các văn bản pháp lý trong lĩnh vực liên quan. Ngoài ra để giúp
việc cho mình Uỷ ban Nhân quyền còn lập ra các nhóm làm việc, và báo
cáo viên đặc biệt về các vấn đề và các nước cụ thể.
Hội đồng kinh tế xã hội là một cơ quan của LHQ trực tiếp đảm trách
các công việc về quyền con người. Hoạt động của Hội đồng bao gồm
thực hiện các nghiên cứu và xây dựng những khuyến nghị trên phạm vi
rộng lớn các vấn đề, bao gồm không chỉ việc “tôn trọng, tuân thủ quyền
con người…cho tất cả” mà còn cả những vấn đề quyền con người cụ thể
trên các lĩnh vực “kinh tế, văn hoá, giáo dục, sức khỏe và các vấn đề có
liên quan”. Từ bình diện quyền con người, Hội đồng kinh tế, xã hội có thể
được xem là cơ quan có chức năng và thẩm quyền trực tiếp đối với vấn đề
thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Từ năm 1946, Hội đồng kinh tế, xã hội đã giải quyết hang loạt các
vấn đề liên quan đến quyền con người như: diệt chủng, ngăn chặn tình
trạng người bị mất quốc tịch, ngăn chặn phân biệt đối xử, bảo vệ người
thiểu số.
6
xem xét các nguồn thông tin trình lên UB từ các quốc gia thành viên, các
tổ chức phi chính phủ và từ các nguộn khác.
Thứ năm, UB có vai trò là diễn đàn cho tất cả đối tượng có liên quan từ
các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức liên chính phủ
tham gia thảo luận, trình bày các vấn đề cũng như sự quan tâm của mình
về vấn đề quyền con người.
Ngoài ra theo nghị quyết A/60/251, trong năm đầu tiên, HĐNQ có
nhiệm vụ phải ra soát, cải tiến và hợp lý hoá các cơ chế, nhiệm vụ và
chức năng của UBNQ, đồng thời xây dựng một cơ chế mới là Kiểm điểm
định kỳ tình hình thực hiện nhân quyền của các nước trên thế giới (UPR).
Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc về nhân quyền (trước đây là
Trung tâm Nhân quyền Liên hợp quốc), đóng tại Giơnevơ, là Cơ quan
trực thuộc Ban Thư ký Liên hợp quốc có trách nhiệm giúp đỡ bộ máy
7
LHQ thúc đẩy vấn đề nhân quyền, dưới sự điều hành của Cao uỷ Nhân
quyền, tương đương với chức vụ Phó Tổng thư ký LHQ (vị trí này được
thành lập từ năm 1993).
Cao uỷ nhân quyền LHQ chịu trách nhiệm các vấn đề sau:
Bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên lĩnh vực chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội và quyền phát triển.
Cung cấp các dịch vụ tư vấn, kỹ thuật và tài chính trên lĩnh vực
quyền con người cho các quốc gia khi được yêu cầu.
Điều phối các chương trình giáo dục và thông tin về con người.
Đóng vai trò tích cực trong việc loại bỏ những trở ngại đối với vấn
đề thực hiện quyền con người.
Nâng cao hợp tác quốc tế nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con
người.
Ngoài ra, trong trường hợp được Tổng thư ký uỷ quyền, Cao uỷ
Xem xét các khiếu kiện cá nhân theo Nghị định thư thứ nhất của
Công ước
Công ước quốc tế vế các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR)
Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hó được thành lập bởi
Hội đồng kinh tế và xã hội.UB có 18 thành viên. Các thành viên của UB
làm việc với tư cách cá nhân.
UB có các chức năng:
Nhận và xem xét các báo cáo quốc gia theo đúng trình tự quy
định
Phân tích các báo cáo quốc gia thông qua việc nghiên cứu và
đối thoại với đại diện của các quốc gia thành viên
Đưa ra các kết luận và khuyến nghị về việc thực hiện công ước
đối với các quốc gia thành viên, trong đó chỉ rõ các khía cạnh tích cực,
các trở ngại, khó khăn trong việc thực hiện công ước, các vấn đề quan
tâm, các đề xuất xử lý và kiến nghị
Hướng dẫn các quốc gia thành viên bằng nhiều biện pháp, đặc
biệt là thông qua việc xây dựng các khuyến nghị chung
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
Theo điều 8, Uỷ ban xoá bỏ phân biệt đối xử về chủng tộc với 18
chuyên gia được thành lập để thực hiện chức năng giám sát Công ước này.
Uỷ ban thực hiện chức năng giám sát của mình thông qua ba thủ tục
chính là báo cáo định kỳ (điều 9), khiếu kiện giữa các quốc gia (điều
11,12,13), khiếu kiện cá nhân hoặc nhóm (điều 14), trong đó báo cáo định
kỳ là thủ tục cơ bản và quan trọng nhất. Cơ chế khiếu kiện giữa các quốc
gia mặc dù là mang tính bắt buộc nhưng đến nay UB vẫn chưa nhận được
bất kỳ khiếu kiện nào.
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ
này của Ủy ban. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có quốc gia thành viên
nào tuyên bố thừa nhận thủ tục này.
Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng
Công ước này không có Uỷ ban các chuyên gia hay cơ quan giám
sát. Đây là một trở ngại lớn trong việc thực hiện Công ước này. Tuy
nhiên Công ước này cho phép các quốc gia thành viên có quyền được yêu
cầu các cơ quan có thẩm quyền của LHQ giúp đỡ để có hành động can
thiệp dựa trên các quy định của Hiến chương để ngăn chặn và loại bỏ
hành vi diệt chủng và đưa những tranh chấp có liên quan tới trách nhiệm
quốc gia về tội diệt chủng ra toà án tư pháp như quy định tại điều 9.
Công ước về địa vị của người tị nạn 1951
Cao ủy LHQ về người tị nạn là cơ quan chức năng có nhiệm vụ
chính là cung cấp sự bảo vệ quốc tế cho người tị nạn và tìm kiếm giải
pháp hữu hiệu để giúp người tị nạn hòa nhập cuộc sống ở quốc gia mới
hoặc hồi hương về quốc gia của mình. Phạm vi quyền hạn của Cao ủy
LHQ về người tị nạn không chỉ giới hạn ở quốc gia tham gia công ước về
địa vị của người tị nạn và nghị định thư 19676, mà theo quy chế thành lập
thì cơ quan này còn có nhiệm vụ bảo vệ người tị nạn ở bất kỳ quốc gia
nào.
Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn
bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục
Ủy ban chống tra tấn có thẩm quyền giám sát việc thực hiện Công
ước thông qua bốn thủ tục: xem xét báo cáo, thực hiện thủ tục điều tra, ,
xem xét khiếu kiện cá nhân và khiếu kiện quốc gia, trong đó chỉ có trách
10
nhiệm xem xét báo cáo và điều tra là mang tính bắt buộc. Các thủ tục còn
Dựa trên các thông tin này, cùng với báo cáo quốc gia, ủy ban đánh giá
việc thực hiện công ước của mỗi quốc gia thành viên. Trên tinh thần đối
thoại mang tính xây dựng, Ủy ban công bố các nhận xét và khuyến nghị
và bày tỏ quan tâm của mình đến vấn đề có liên quan đến việc thực hiện
công ước của quốc gia thành viên.
Nghĩa vụ của các quốc gia là tôn trọng bảo vệ và thúc đẩy thực hiện
cam kết trong công ước bằng tất cả các biện pháp có thể, trước hết là biện
pháp lập pháp, nhằm bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật quốc gia với
công ước ICCPR. Đồng thời sử dụng các biện pháp tổ chức thực hiện
công ước, trong đó có nhiệm vụ giáo dục toàn xã hội, đặc biệt là đối với
những công chức thực thi pháp luật. Chính phủ phải trình báo cáo quốc
gia theo quy định của công ước. Báo cáo đầu tiên đệ trình lên ủy ban sau
11
một năm kể từ ngày công ước có hiệu lực ở quốc gia tham gia công ước.
Tiếp đó, cứ 5 năm các quốc gia phải nộp báo cáo 1 lần.
Một trong những trách nhiệm là quốc gia phải nộp đúng hạn và bảo
vệ báo cáo quốc gia.
Báo cáo quốc gia phải trình bày đầy đủ, chân thực (có số liệu bảng
biều) kết quả thực hiện tất cả các điều của công ước, trình bày rõ những
việc đã làm được, chưa làm được, nguyên nhân và phương hướng khắc
phục. Đồng thời đại diện của quốc gia có trách nhiệm trả lời các câu hỏi
lắng nghe trao đổi cởi mở và tiếp thu các bình luận và khuyến nghị của ủy
ban. Tất cả những điều đó để chứng minh rằng, những vấn đề mà báo cáo
quốc gia đưa ra phải đảm bảo các thông tin tối thiểu nhằm giúp cho các
Ủy ban tiến hành các công việc của mình, sau đó mỗi Ủy ban sẽ ban hành
những hướng dẫn về hình thức và nội dung của mỗi báo.
Trong hai thập kỷ qua, Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đã nỗ lực
đáng kể trong việc nghiên cứu tình hình các nước, trong đó có những
nước tình hình chính trị đáng quan tâm như Guatemala, I-ran và Myanma.
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.
2. Ủy ban xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ có
thể xem xét khiếu nại cá nhân theo Nghị định thư bổ sung
Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.
3. Ủy ban chống tra tấn có thể xem xét các khiếu nại cá nhân nếu
quốc gia thành viên tuyên bố thừa nhận thẩm quyền của Ủy
ban (Điều 22 của Công ước).
4. Ủy ban chống phân biệt chủng tộc có thể xem xét các khiếu
nại cá nhân đưa ra chống lại các quốc gia thành viên, nếu
quốc gia thành viên có tuyên bố thừa nhận thẩm quyền của Ủy
ban (Điều 14 của Công ước Loại trừ mọi hình thức phân biệt
chủng tộc).
5. Công ước Bảo vệ quyền của người lao động di cư và các
thành viên gia đình họ cũng chứa đựng các quy định cho phép
các khiếu kiện cá nhân. Tuy nhiên, quy định này hiện nay
chưa có hiệu lực mà phải chờ đến khi có đủ 10 quốc gia thành
viên tuyên bố thừa nhận thẩm quyền này theo Điều 77 của
Công ước.
Các khiếu kiện cá nhân gửi lên Ủy ban Công ước chỉ được thực hiện
với điều kiện là quốc gia bị khiếu kiện là thành viên của Công ước và
quốc gia đó công nhận thẩm quyền xem xét khiếu kiện cá nhân của Ủy
ban. Đối với Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ thì quốc gia có thể công
nhận thẩm quyền của UB bằng việc tham gia nghị định thư thứ nhất của
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị hoặc Nghị định thư bổ
sung Công ước về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ. Đối
với Công ước Chống tra tấn và Công ước Loại trừ phân biệt chủng tộc thì
quốc gia thành viên cần tuyên bố công nhận thẩm quyền của UB theo
điều 22 và điều 14 của Công ước này.
Đối với những quốc gia thành viên của những công ước có Nghị
với phụ nữ tiến hành thủ tục điều tra ban đầu nếu nhận được thông tin
đáng tin cậy về sự vi phạm một cách có hệ thống các điều khoản của công
ước trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia thành viên.
Thủ tục điều tra chỉ có thể được áp dụng đối với những quốc gia thành
viên chấp nhận thẩm quyền của Ủy ban
Sau khi nhận được thông tin phù hợp, Ủy ban sẽ mời quốc gia thành viên
cùng hợp tác để thẩm tra thông tin đó thông qua việc đệ trình những ý
kiến phản hồi về sự việc. Theo đó, dựa trên cơ sở ý kiến phản hồi của
quốc gia thành viên và những thông tin liên quan sẵn có khác, Ủy ban có
thể quyết định một hoặc nhiều thành viên của Ủy ban tiến hành cuộc điều
tra kín và báo cáo cho Ủy ban. Hơn nữa, theo công ước CEDAW và CAT,
đại diện Ủy ban công ước có thể thực hiện chuyến thăm tới lãnh thổ của
quốc gia liên quan khi có bằng chứng về tình trạng vi phạm nhân quyền
với sự đồng ý của quốc gia thành viên.
Quốc gia thành viên phải trả lời trong thời hạn sáu tháng. Và dựa trên sự
tham khảo ý kiến của quốc gia thành viên, Ủy ban có thể quyết định đưa
vào hồ sơ tóm tắt về các kết quả của quá trình điều tra trong báo cáo hàng
năm của mình.
3) Công bố các bình luận chung về giải thích các nội dung và thủ tục
thực hiện công ước
Các cơ quan công ước có chức năng ban hành các hướng dẫn để
làm rõ thêm nội dung, ý nghĩa của các quyền được ghi nhận trong công
ước. Các bình luận chung hay khuyến nghị nhằm giúp các quốc gia tuân
thủ các quy định của công ước một cách hiệu quả hơn. Các bình luận
chung hoặc các khuyến nghị thường tập trung vào các điều khoản cụ thể
của Công ước, và giải thích chi tiết hơn các chuẩn mực mà các chính phủ
14
phải tuân theo trong việc thực hiện Công ước. Chẳng hạn, họ có thể cung
cấp loại thông tin và dữ liệu mà cơ quan công ước nhận lấy là hữu ích để
bố chấp nhận thẩm quyền của Toà.
Toà án nhân quyền Châu Âu có thẩm quyền với tất cả các vụ việc
liên quan đến giải thích hoặc áp dụng Công ước(điều 45) và phải được đệ
trình lên trong vòng 3 tháng kể từ khi UBNQ chuyển báo cáo lên
UBBT(điều 47), TANQ Châu Âu sẽ quyết định xem liệu có sự vi phạm
với Công ước Châu Âu hay không.
Nhưng khi TANQ Châu Âu đã tuyên bố vi phạm, Công ước Châu
Âu không nói rõ Toà có quyền yêu cầu thực hiện các biện pháp khắc
phục hay không. TANQ Châu Mỹ thì lại được Công ước Liên Mỹ trao
cho thẩm quyền này. Tuy vậy, theo điều 50 của Công ước Châu Âu lại
đặc biệt trao cho TANQ Châu Âu quyền đề nghị tiến hành bồi thường
15
cho bên bị vi phạm nếu nội luật của Quốc gia liên quan không có khả
năng khắc phục tình trạng bị xâm phạm một cách đầy đủ. Điều này chứng
minh rằng mặc dù quyết định của Toà đưa ra là không bao gồm khoản bồi
thường nhưng nếu người ta có thể chứng minh là có thiệt hại thì Toà có
thể vẫn giúp bị đơn nhận được bồi thường.
Quyết định của TANQ Châu Âu mang tính ràng buộc với tất cả các
Quốc gia thành viên (điều 53). Phán quyết của Toà sẽ được chuyển cho
Uỷ ban bồi thẩm là cơ quan có nhiệm vụ giám sát việc thi hành quyết
định (điều 54). Trong khía cạnh này TANQ Châu Âu không rộng bằng
thẩm quyền của TANQ Châu Mỹ vì nó có thể trực tiếp yêu cầu quốc gia
liên quan tiến hành bồi thường.
TANQ Châu Âu cũng có thẩm quyền đưa ra ý kiến tư vấn nhưng hẹp
hơn thẩm quyền của TANQ Châu Mỹ.
2. Toà Nhân quyền Châu Mỹ:
Cơ cấu
nghĩ vụ báo cáo thực hiện hàng năm này.
Quyền đưa ra ý kiến tư vấn của TANQ Châu Mỹ có phần rộng hơn
của TANQ Châu Âu. Các Quốc gia thành viên có thể xin TANQ Châu
Mỹ ý kiến tư vấn không chỉ các vấn đề liên quan đến Công ước Liên Mỹ
mà còn cả những vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền con người ở các
Quốc gia.
3) Toà Nhân quyền Châu Phi:
Cơ cấu và thẩm quyền xét xử của TANQ Châu Phi giống với cơ
cấu và thẩm quyền của TANQ Châu Âu.
II. Cách thức đảm bảo thực thi của khu vực
1) Cách thức thông qua cơ chế báo cáo
Các văn kiện pháp lý chính về quyền con người của các cơ chế khu
vực Châu Âu, Châu Mỹ không coi cơ chế báo cáo là biện pháp đảm bảo
thực thi chính. Đối với UB nhân quyền Châu Âu, các quốc gia không có
nghĩa vụ phải nộp các báo cáo cho UB và chỉ trừ khi Tổng thư kí Hội
đồng Châu Âu yêu cầu thì UB mới trình báo cáo (điều 57). UB nhân
quyền Liên mỹ cũng chỉ khi có yêu cầu cụ thể mới nhận báo cáo từ các
quốc gia thành viên (điều 41 khoản 1).
Chỉ các quốc gia tham gia cơ chế của Châu phi có nghĩa vụ nộp báo
cáo cho UB nhân quyền (điều 26). UB nhân quyền Châu Phi cũng có
nghĩa vụ báo cáo hàng năm về hoạt động của mình lên các cuộc họp của
các Nguyên thủ quốc gia khu vực Châu Phi.
Riêng đối với các văn bản pháp lý khác của Châu Âu là hiến chương
xã hội Châu Âu, công ước cấm tra tấn và các hình thức đối xử phi nhân
đạo và Châu Mỹ là công ước Liên mỹ chống tra tấn và Nghị định thư bổ
sung về các quyền văn hóa – kinh tế - xã hội thì cơ chế báo cáo là biện
pháp đảm bảo thực thi chính.
2) Cách thức thông qua cơ chế điều tra, khiếu kiện
người ở Châu âu, thẩm quyền nhận và xem xét khiếu kiện quốc gia của
UB nhân quyền Châu âu mang tính bắt buộc, thẩm quyền với khiếu kiện
cá nhân không bắt buộc. Công ước nhân quyền Châu mỹ quy định ngược
lại với công ước nhân quyền Châu âu. Ở Châu phi, hiến chương Châu phi
về quyền con người và quyền dân tộc quy định thẩm quyền của UB nhân
quyền đối với cả hai loại khiếu kiện này đều mang tính bắt buộc.
Cơ chế của khu vực Châu âu đã tiến thêm một bước khi tất cả các
quốc gia tham gia cơ chế đồng ý chấp nhận thẩm quyền của UB nhân
quyền Châu âu xem xét các đơn kiện của cá nhân. Đến năm 1998, Hội
đồng Châu âu quyết định quyền khiếu kiện của cá nhân không còn mang
tính lựa chọn mà trở nên bắt buộc đối với các quốc gia gia nhập công ước
nhân quyền Châu âu. Như vậy có thể thấy rằng trong quá trình xây dựng
cơ chế khu vực, Châu âu đã tiến hành từng bước một không chỉ trong
việc xây dựng cơ quan đảm bảo thực thi mà cả cách thức đảm bảo thực
thi.
Ở khu vực Châu phi, mặc dù Điều 55 hiến chương Châu phi quy
định UB nhân quyền Châu phi có thẩm quyền nhận và xem xét các đơn
kiện cá nhân và quốc gia song trên thực tế điều này không có ý nghĩa.
Bản thân các quốc gia thường không có xu hướng đưa đơn kiện quốc gia
khác nhằm giữ quân hệ thân thiện (đây là một thực tiễn không chỉ riêng ở
khu vực Châu phi). Đến năm 2002 chỉ có một đơn kiện quốc gia duy nhất
của Libya kiện Mỹ; đơn này không được chấp nhận vì người Mỹ không
là thành viên cả OAU. Đối với đơn kiện cá nhân, các quốc gia Châu phi
18
có xu hướng không tôn trọng toàn bộ quá trình thẩm vấn và giải quyết
thân thiện của UB.
Khi đi vào xem xét đơn kiện, việc đầu tiên các cơ quan đảm bảo
thực thi quyền con người cần làm là xem xét đơn kiện có đủ điều kiện để
được chấp nhận hay không. Về vấn đề này, cả ba cơ chế khu vực đều có
Cơ chế điều tra khiếu kiện của cơ quan LHQ mang tính chất lựa
chọn. Cơ chế khu vực Châu phi, khu vực Châu âu và khu vực Châu mỹ
có cách thức đảm bảo thực thi mang tính cưỡng chế cao hơn. Ngoài cách
thức đảm bảo thực thi chính thông qua cơ chế báo cáo và cơ chế điều tra
khiếu nại, khu vực Châu mỹ và khu vực Châu phi còn có cách thức đảm
bảo mang tính phát huy sự nhận thức về quyền con người cho khu vực.
Chính vì vậy bên cạnh các chức năng báo cáo, xem xét đơn kiện, các ủy
ban nhân quyền Châu mỹ và Châu phi còn tiến hành các hoạt động như
19
nghiên cứu, hội thảo, giáo dục về quyền con người. Tòa nhân quyền Châu
mỹ và UB nhân quyền Châu phi còn có thẩm quyền đưa ra ý kiến tư vấn
về nhân quyền cho các quốc gia tham gia cơ chế.
Khi giải quyết các đơn kiện cá nhân, quốc gia, không phải cơ quan
đảm bảo thực thi của khu vực nào đó cũng có quyền ra quyết định có sự
vi phạm nhân quyền ở một quốc gia nào đó. UB nhân quyền Châu phi
không có thẩm quyền này. UB chỉ dừng lại ở việc xem xét đơn kiện,
khuyến khích các giải pháp thân thiện chứ không có quyền ra quyết định.
Trong khi đó, Tòa án nhân quyền, UB Bộ trưởng Châu âu và Tòa án nhân
quyền Châu mỹ lại có thẩm quyền quyết định xem có vi phạm nhân
quyền xảy ra hay không.
Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa án nhân quyền Châu âu và Tòa án
nhân quyền Châu mỹ trong lĩnh vực này không hoàn toàn giống nhau.
Tòa nhân quyền Châu mỹ có quyền đưa ra các biện pháp tạm thời trong
trường hợp khẩn cấp còn Tòa án nhân quyền Châu âu không có quyền đó.
Hơn nữa, Tòa án nhân quyền Châu âu chỉ có quyền ra quy định yêu cầu
đòi bồi thường cho bên thiệt hại chứ không có quyền đưa ra các biện
pháp bắt các quốc gia phải thi hành. Trong khi đó, Tòa án nhân quyền
Châu mỹ có quyền yêu cầu nước vi phạm phải phục hồi quyền lợi cho
bên bị hại và đền bù các hệ quả của sự vi phạm nhân quyền. Các nước bị
mới, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một trong những mục tiêu
quan trọng hàng đầu của Liên hợp quốc. Có thể coi, sự ra đời và phát
triển của Luật quốc tế về quyền con người là một trong những thành tựu
lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ XX.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được cơ chế bảo đảm quyền con
người đã bộc lộ những hạn chế lớn. Các cơ quan quyền con người được
thành lập theo điều ước quốc tế và các thủ tục hiện nay đang tạo ra một
mạng lưới phức tạp và cồng kềnh. Gánh nặng về nghĩa vụ báo cáo đang
tạo nên nhiều áp lực về nguồn lực cho các quốc gia thành viên và ban thư
ký. Kết quả là, hiệu quả của cơ chế giám sát hiện hành còn thấp. Điều này
dẫn đến những hiện tượng như chậm chễ trong việc đệ trình và xem xét
báo cáo quốc gia, thậm chí có quốc gia không nộp báo cáo. Vì vậy nâng
cao tính hiệu quả của cơ chế giám sát điều ước quốc tế về quyền con
người đang là mối quan tâm lớn của Liên hợp quốc. Bên cạnh đó, trong
bối cảnh nền chính trị quốc tế vẫn đang còn nhiều sự khác biệt giữa các
quốc gia về hệ tư tưởng , truyền thống, lịch sử, trình độ phát triển và văn
hóa…, cơ chế này khó tránh khỏi những bất cập, một phần do bị tác động
của cuộc đấu tranh chính trị, một phần do chính sự trì trệ của hệ thống
của tổ chức nhân quyền trong một thời gian dài, không được cải cách
tương ứng với sự phát triển của tình hình. Do đó, cải cách các cơ quan
nhân quyền cùng với cải cách phương thức giám sát quốc tế trên lĩnh vực
này là một tất yếu. Vì vậy cần phải hoàn thiện hơn nữa những cách thức
đảm bảo thực thi các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc. Theo đề xuất
cải tổ cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc của cựu Tổng bí thư Liên hợp
quốc - Kofi Annan thì cho rằng hai biện pháp có thể giúp để loại bỏ
những yếu kém của hệ thống hiện nay:
- Các ủy ban nên nhanh chóng có cách tiếp cận mới, kết hợp các
hoạt động của mình như xem xét báo cáo giám sát thông qua giám
sát viên và các thủ tục khác và tiêu chuẩn hóa khuôn mẫu của báo
cáo.
đóng vai trò động thực thúc đẩy việc chấm dứt hoặc giảm bớt, thậm chí
ngăn ngừa những vi phạm về nhân quyền đồng thời có tác động rất tích
cực đến luật nhân quyền quốc tế.
Ngày nay, các cơ quan này đang dần dần giảm bớt tính chính trị, trở
nên công bằng hơn và hoạt động tích cực hơn cho mục tiêu nhân quyền.
KẾT LUẬN
Như vậy cơ chế giám sát thực thi quyền con người của các cơ chế
nhân quyền Liên hợp quốc và khu vực đã chiếm giữ vị trí đặc biệt quan
trọng trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Hơn một nửa thế
kỷ qua, cơ chế này đã phát huy tác dụng tích cực góp phần quan trọng
trong việc quốc tế hoá lĩnh vực quyền con người. Tuy nhiên trong bối
cảnh nền chính trị quốc tế hiện nay, cơ chế này khó tránh khỏi những bất
cập, không tương ứng với sự phát triển của tình hình. Do vậy, cải cách
các cơ quan nhân quyền cùng với cải cách phương thức giám sát quốc tế
trên lĩnh vực này là một tất yếu. Chỉ có như vậy, việc bảo đảm và thúc
đẩy quyền con người mới phù hợp với xu thế phát triển chung của cộng
đồng quốc tế và nền văn minh cho nhân loại trong thiên niên kỷ thứ ba. 22