Luận văn
Tiểu thuyết tâm lý xã hội của
Nam Đình Nguyễn Thế
Phương
MỤc lỤc Dẫn nhập
Chương 1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thế Phương
1.1 Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX
1.1.1 Kinh tế - Chính trị - Xã hội
1.1.2 Văn hóa - Giáo dục
1.1.3 Báo chí - Văn học
1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Thế Phương
1.2.1 Cuộc đời
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Chương 2. Những nội dung chính trong tiểu thuyết của Nguyễn Thế Phương
2.1 Tâm lý, xã hội
2.2 Trinh thám, võ hiệp
Chương 3. Nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Thế Phương
3.1 Kết cấu
3.1.1 Các loại kết cấu
3.1.2 Kết thúc tác phẩm
3.1.3 Điểm nhìn trần thuật của nhà văn
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.2.1 Ngoại hình nhân vật
sinh động trong tác phẩm của họ. Nhân vật và bối cảnh mà các nhà văn Nam
Bộ chú ý tái hiện ở thời kì này là những con người bình thường trong cuộc
đời thường. Nhà văn đã đi sâu vào thế giới tâm hồn của con người với bao
diễn biến tinh vi, phức tạp, có cao thượng, đẹp đẽ nhưng cũng không ít những
xấu xa, đê tiện, mưu mô, thủ đoạn. Đồng thời, họ cũng dành sự quan tâm đặt
biệt với những kiếp người đáng thương, đó là người phụ nữ, người thất
nghiệp nghèo khó, những đứa trẻ lưu lạc
Tác phẩm của Nguyễn Thế Phương được xếp vào nhóm có nội dung thế sự vì
nhà văn đã đặt ra trong tiểu thuyết những vấn đề về “nhân tình thế thái, về
đạo lý trong cuộc đời”
[1]
. Đó là chuyện tình yêu nam nữ, những âm mưu, thủ
đoạn ép duyên (Di hận ngàn thu, Bó hoa lài, Lửa phiền cháy gan), chia rẻ
vợ chồng (Đất bằng sấm dậy), báo thù vì tình (Di hận ngàn thu), mối quan
hệ mẹ ghẻ con chồng (Lửa phiền cháy gan, Đất bằng sấm dậy, Di hận
ngàn thu), cuộc đời của những đứa trẻ lưu lạc, không cha không mẹ (Bó hoa
lài, Chén thuốc độc), tác động của đồng tiền, giết người cướp của( Mộng
Hoa, Giọt lệ má hồng, Lửa phiền cháy gan)…
Trong Bó hoa lài, tác giả xây dựng những nhân vật đầy thủ đoạn, nham hiểm
như Lê Tứ Hải, Trần Phong nhưng đồng thời cũng có những người nghĩa khí,
hào hiệp như Lê Tứ Hải, Nhiêu Tôn. Mối quan hệ tác động qua lại giữa các
nhân vật xoay quanh chuyện tình yêu nam nữ, thủ đoạn ép buộc tình duyên,
giết người, tống tiền, hành hiệp trượng nghĩa, người ngay mắc nạn, kẻ gian
đắc thắng làm cho câu chuyện có một sức hấp dẫn đặc biệt vì nó phần nào tái
hiện lại bộ mặt của cuộc sống hiện thực, mối quan hệ giữa con người với con
người một cách sinh động.
Nhân vật Lê Tứ Hải được miêu tả là một con người “rất nham hiểm, thấy
việc bất bình mà không nói ra lại muốn hại thầm. Thật con người độc địa
dường nào? Dò sông dò biển dễ dò, mấy ai lấy thước mà đo lòng người. Ay
cũng vì tình mà Lê Tứ Hải quyết hại Lý Vân Đình cho đã nư giận, đã hứa lời
không khóa, ôi may cho dì tư biết chừng nào,-mà rủi cho Tấn Phước vô cùng.
Cái hoa ly vừa mở ra, dì tư choá mắt. Oi ! vô số vàng với hột xoàn, lại có một
mớ giấy bạc…giấy một trăm, hai chục, năm đồng…một đồng. Dì mừng
quýnh, mừng cho đến phát run.
Nghĩ ngợi một hồi lâu, dì khoá hoa ly lại, không biết dì nghĩ lẽ nào, mà dì
trở ra nhà sau, lấy khăn đội lên đầu, mặc áo dài, tom góp vài bộ đồ rách, rồi
nhẹ bước ra ngoài, ghé xách cái hoa ly lên đường…bỏ Tấn Phước nằm ngủ
đó.
Lòng dạ con người tham lam thì thường có tánh vậy.” (trang 6)
Không những chiếm đoạt gia tài của người và trở nên giàu có, dì tư Mầu khi
biết chủ nhân của gia tài đó là ông Trần Văn Chí thì dì tư Mầu đã âm mưu
giết người để tránh bị phát giác về sau. Am mưu thâm độc của dì tư Mầu lộ
rõ trong đoạn đối thoại với Đào Hoa :
“ Đào Hoa nóng giận đáp rằng:
-Thì má tuốt gươm đường đường chánh chánh đánh với người ta…chớ
núp lén mà giết người ta thì …ác lắm, má à, huông hồ gí sáu Liệc tàn ác lắm,
hễ ai mướn nó giết ai, thì không bao giờ nó từ chối.
Bà già gạt ngang lời nói của Đào Hoa mà rằng:
-Con sao cứ lạm dự vào việc đó hoài…
-Má làm trái với nhân đạo, rồi má không cho con nói sao? Con lấy làm lạ
lắm: lạ là người…ấy vẫn không phải ngừơi hung bạo, mà giết người …rồi
nào là vợ con, nào là anh em… chịu biết bao nhiêu nõi bi ai, rưới biết bao
nhiêu nước mắt, vì một cái ý muốn của má. Có phải là má để cái sầu cho cả
giòng họ thân tộc của người ta chăng ? ” (trang 30).
Trong một xã thành thị buổi giao thời, đồng tiền đóng một vai trò quan trọng
trong đời sống của con người. Nhà văn để cho nhân vật bà mai của Lê Tứ Hải
nói chuyện bà bà già đóng giả mẹ của Kỹ Loan (Bó hoa lài) về vai trò của
đồng tiền: “Về điệu văn nó cũng là dễ xài; tuy nó không bằng mấy người đỗ
tú tài, đậu còm mi, chớ cũng là bực trung vậy! Oi ! Mà đời này chữ nghĩa có
dùng bao nhiêu, duy có đồng tiền là trọng dụng hơn hết. Phương chi mấy ông
khổ về xác thịt.
Bởi lo sợ quá đổi, nên ăn mất ngon, hình xát càng ngày càng ốm; đôi gò
má thỏm, cặp mắt sụp vô sâu; cái cảnh đau đớn của dì không còn bút mựa
nào tả cho cùng được.” (trang 111)
Trong tác phẩm Mộng Hoa, Duy Hinh tình cờ được tấm bản đồ chỉ nơi cất
giấu kho báu tận bên nước Nhật, chàng định sẽ đi tìm kho báu về giúp ích
cho quốc dân nhưng trên đường đi, chàng bị Huỳnh Long Vân tìm cách hãm
hại để chiếm đoạt kho báu. Duy Hinh được Mộng Hoa cứu thoát khỏi hiểm
nguy, cuối cùng hai người cũng tìm thấy kho báu nhưng một lần nữa Huỳnh
Long Vân xuất hiện để cướp lấy. Kho báu bị chìm xuống đáy biển, Huỳnh
Long Vân phải trả giá bằng chính mạng sống của mình, Duy Hinh và Mộng
Hoa tuy không có được ba rương vàng nhưng vẫn không hối tiếc vì họ đã tìm
thấy điều quý giá trong cuộc đời mình đó là hạnh phúc lứa đôi.
Những âm mưu, toan tính của các nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Thế
Phương hoặc vì tình hoặc vì tiền, điều đó cũng cho người đọc thấy được
những thế lực tác động đến đời sống con người trong cuộc đời thực giai đoạn
này. Nhà văn đã viết trong Bó hoa lài: “Đời này khác hẳn với đời xưa, hễ
muốn điều gì mà không được thì sanh ra mối oán thù, nhiều khi phải giết lẫn
nhau mới vui lòng” (trang 72). Miêu tả con người cá nhân trong cuộc đời
thường, nhà văn không né tránh những mặt khuất lấp, u tối trong tâm hồn con
người và nhà văn chỉ ra chính những âm mưu, thủ đoạn ấy là nguyên nhân
gây nên bao số phận đau thương, bao gia đình tan nát cho những người lương
thiện.
Phải chăng hiện thực về sự suy đồi trong đời sống đạo đức của con người
đang là một hiện tượng phổ biến trong xã hội, nó có ở khắp nơi, với nhiều
biểu hiện, những toan tính vị kỉ, những tính cách đê tiện? Cùng thời với
Nguyễn Thế Phương, nhà văn Nguyễn Chánh Sắt cũng đã phơi bày những
hiện thực đen tối trong tâm hồn con người với những âm mưu xấu xa. Trong
Nghĩa hiệp kì duyên, Lâm Trí Viễn bày kế cho Đào Phi Đáng đóng giả làm
con gái của Trịnh Kế Xương để chiếm đoạt gia tài: “Vả chăng ông đó là
Ngọc Điệp gạt lụy, kể chuyện rằng:
-Giết một cách tàn nhẫn, xưa nay dễ mấy người sâu độc
-Giết cách nào?
-Cha tôi ham săn bắn, dì tôi cho người đi theo lên rừng sâu rồi thì giữa
chốn vắng vẻ quạnh hiu, tư bề cây cao bóng mát, nào có một ai lai vãng chốn
này nên kẻ vô lương kia chĩa súng vào đầu cha tôi mà bắn.
-Thế thì ngừơi ấy bị xử chém sao?
-Không, nó ở ngoài vòng pháp luật.
-Sao vậy?
-Viện lẽ rằng người ấy là bạn, đi săn gặp việc rủi ro là việc thường nên
quan trên tha bổng.
-Uý, trời ơi…
- Chuyện vậy chỉ có một tôi biết mà thôi. Dì tôi hưởng hết gia tài của cha
tôi để lại nhưng hoàng thiên đâu có phụ người ngay. Cha tôi có để lại chút
ngôn trên phòng quan Nôbe.
-Chút ngôn để lại gia tài lại cho cô phải chăng?
-Phải, nhưng tôi không được hưởng.
-Sao lạ vậy?
-Trong chút ngôn cha tôi dặn rằng sau khi cha tôi măn phần thì gia tài sự
nghiệp này để lại tôi nhưng bao giờ tôi lớn lên, kết hôn với một nhà ngôn luận
có tên tuổi.
Ong Bang chặn lại mà rằng:
-Thiếu gì mấy ông chủ bút đó. Vô số chủ bút ở Sài Gòn mà.
Ngọc Điệp đáp rằng:
-Trong chút ngôn nói rành rẽ lắm, cha tôi chọn nhà ngôn luận nào biết
bênh vực quyền lợi cho quốc dân, biết trọng danh dự ngòi viết, ít nữa là chỉ
ròng rã một nghề viết báo mà thôi.” (Công luận báo số 2523). Cuối cùng, trải
qua bao nhiêu sóng gió, có lúc nàng đã đứng bên bờ vực của cái chết thì hạnh
phúc mới đến với nàng khi Lưu Ai Nghĩa vì yêu nàng mà đứng ra viết báo, trở
thành một nhà ngôn luận như ý nguyện mà cha của Ngọc điệp mong muốn.
Lê Tứ Hải lợi dụng thuê người đóng giả mẹ nàng, âm mưu dùng tình mẫu tử
để ép buộc nàng lấy Lê Tứ Hải, Kỷ Loan rơi vào cảnh ngộ buộc lòng phải lấy
người mà nàng không yêu. Vì thất lạc mẹ cha nên Đào Hoa (Giọt lệ má
hồng) được dì tư Mầu nhận làm con, trái ngang thay khi dì tư Mầu chính là
kẻ đã chiếm đoạt gia tài của mẹ cha nàng, đẩy nhà nàng vào cảnh tan nát,
chia lìa. Không chỉ có vậy, dì tư Mầu ép gả nàng cho Bạch Mai Xuân trong
khi lòng nàng nặng tình voi Tấn Phước. Nàng chịu nhiều đau buồn, uất ức mà
trở nên điên loạn và cuối cùng là cái chết thương tâm, đó là hoàn cảnh của
Nhiêu Tôn (Bó hoa lài) “Qua vốn không cha không mẹ hồi mới lên ba tuổi,
qua ở đậu với chủ của em mà lo việc đèn sách” (trang 87)
Nhưng bi kịch nhất cho số phận những đứa trẻ lưu lạc có lẽ là Cẩm và Vân
(Chén thuốc độc). Hai đứa vốn là anh em ruột cùng mẹ cha nhưng vì người
cha là Nhiêu Tôn nghi ngờ Cẩm là con riêng của vợ nên gởi hai đứa trẻ cho
một người lão bộ nuôi với hai thân phận khác nhau. Vân được nuôi dạy và
chăm sóc như một tiểu thư giàu có còn Cẩm thì phải chịu thân pậhn kẻ ăn
người ở trong nhà. Hai đứa bị ngăn cấm không được tiếp xúc với nhau nhưng
có lẽ vì mối quan hệ thâm tình nên giữa hai đứa nảy sinh sự quyến luyến, lo
lắng cho nhau. Một lần tình cờ người cha bắt gặp hai đứa nói chuyện với
nhau và hăm doạ sẽ giết Cẩm, Vân tình cờ biết được sự thật nên tìm cách báo
cho Cẩm biết và khuyên Cẩm bỏ trốn.Vân cũng bỏ nhà để đi tìm Cẩm. Trải
qua nhiều sóng gió Cẩm thành một vị công tử giàu có vì hưởng được gia tài
cuả bà huyện Hiền để lại, Vân nghèo khó lam lũ nhưng vẫn đi tìm Cẩm khắp
nơi. Hai đứa gặp lại nhau, tình cảm ngây thơ của ngày xưa vẫn còn nên chúng
quyết định cứơi nhau. Nhiêu Tôn biết được sự thật, đến ngăn cản nhưng đã
muộn, Cẩm và Vân đau khổ, hối hận nên quyết định tự tử bằng chén thuốc
độc.
Bước sang đầu thế kỉ XX, những ảnh hưởng từ văn hoá phương Tây đã thổi
luồng gió mới vào sinh hoạt văn hoá trong nước. Các trí thức Tây học nhanh
chóng tiếp thu và vận dụng sáng tạo những tư tưởng mới trong sáng tác văn
học. Một trong những bước chuyển quan trọng để văn học Việt Nam bước
Tình yêu tự do bắt đầu từ sự gặp gỡ, hiểu biết, tôn trọng nhau về tài năng,
nhân cách hơn là tiền tài, địa vị. Đó là chuyện tình giữa Duy Hinh và Mộng
Hoa (Mộng Hoa), Lưu Ai Nghĩa và Ngọc Điệp (Lửa phiền cháy gan), có
những câu chuyện tình vượt qua ranh giới về thân phận như những cô gái là
gái giang hồ, như chuyện tình giữa thầy giáo Thanh và Bạch Tuyết (Khối
tình), thầy tư Sơn và cô ba Tràng (Lửa phiền cháy gan), giữa chàng trai còn
độc thân với người phụ nữ đã có chồng con như Trần Thanh Thuỷ và Hồng
Hoa (Khép cửa phòng thu) như lời độc thoại nội tâm của Trần Thanh Thuỷ:
“Chồng chết để lại một con, cái bổn phận làm người chơn chánh trượng phu
không nên vì việc gãy gánh giữa đường mà miệt thị người, ta chưa biết phải
dùng lời gì mà nói cho nàng rõ rằng ta sẽ thương nàng cho đến mãn đời cuối
cùng của ta để hưởng cái lạc thú chồng chồng vợ vợ” (Công luận báo số
2255) , Lê Trọng Hậu và Bích Liên (Giọt lệ má hồng)… Thêm vào đó, trong
một vài tác phẩm, tình yêu được miêu tả không chỉ là những tình cảm tinh
thần mà nó còn đượm màu sắc xác thịt như Lưu Minh Đức với Châu Mung
(Khép cửa phòng thu), thầy giáo Thanh và Bạch Tuyết (Khối tình), đây là
cái nhìn mới về tình yêu trong xu hướng văn học được hiện đại hoá khi nhà
văn chú ý miêu tả cuộc sống thực như nó vốn có và đang tồn tại, khi ý thức
cá nhân được hình thành cũng là lúc con người muốn sống trọn vẹn với cái
tôi cá nhân của mình.
Trong Bó hoa lài, Kỷ Loan là một cô đào tài sắc vẹn toàn của gánh hát xiệc
“Góc trời Nam”, nhiều người giàu có say mê muốn kết thân tình với cô
nhưng cô đều từ chối vì cô nghĩ “Quan thầy, đốc công, nhiều người cậy mai
nói ta, song ta vẫn không ưa, vì ta thấy người ta giàu, người ta ỷ thế, người
ta muốn cưới ta là tại đồng tiền của người ta, chớ nào phải người ta có tình
với ta” (trang 6). Người mà Kỷ Loan sẽ lựa chọn là “Ta quyết lựa một người
bất hạng, sang hèn giàu nghèo, miễn ta khắc ý ta thương là đủ”. (trang 6)
Mỗi đêm biểu diễn xong, Kỷ Loan đều nhận được biết bao nhiêu là quà tặng
đắt tiền của các công tử giàu có, nhưng cô chú ý đến một món quà tặng đặc
biệt là một bông hoa lài của Lê Văn Hảo gởi tặng. Lê Văn Hảo giấu mặt thật,
muốn gả con cho nhà nghèo, ông còm mi Thảo tìm đến cô ba Tràng-một gái
làng chơi-để tiêu tiền mà không có một chút tình cảm nào với cô, ngược lại
cô ba Tràng yêu ông còm mi sâu đậm…Rõ ràng câu chuyện không mang một
nội dung tư tưởng gì thật sự nổi bật, nó chỉ chú ý đến nhu cầu giải trí của một
bộ phận công chúng thích sự gay cấn, ly kỳ trong chuyện tình yêu nam nữ mà
thôi.
Có đôi khi tư tưởng mà nhà văn thể hiện trong tình yêu theo xu hướng hiện
đại nhưng nhân vật, bối cảnh dẫn đến một tình yêu vẫn còn dáng dấp của nền
văn học trung đại. Đó là chuyện tình giữa người anh hùng, nghĩa hiệp cứu
người đẹp, sau đó người con gái cảm ơn cứu giúp và tình yêu nảy nở như
trong Bó hoa lài, Di hận ngàn thu, Mộng Hoa…Điều đó cho thấy sự đan
xen, dung hoà giữa cái mới và cái cũ trong tiểu thuyết của các nhà văn Nam
Bộ đầu thế kỉ XX mà Nguyễn Thế Phương không phải là một ngoại lệ.
Người phụ nữ thường được xây dựng trong tác phẩm văn học cả ở văn học
dân gian và văn học viết, cả ở văn học trung đại và văn học hiện đại. Họ là
hình ảnh phải chịu nhiều đau khổ, bất công trong cuộc sống không chỉ dưới
thời phong kiến mà ngay trong thời điểm xã hội có những bứơc chuyển sang
hiện đại. Nỗi đau khổ mà họ phải gánh chịu là những nỗi khổ tâm về tinh
thần, những đau khổ trong tình yêu, họ là nạn nhân của cường quyền, đồng
tiền trong gia đình và cả ngoaì xã hội. Đó là Hồng Hoa và Hồng Nhi (Giọt lệ
má hồng), Hoàng Minh Nguyệt, Thanh Hương (Di hận ngàn thu) bị ép buộc
về duyên nợ bởi thế lực của đồng tiền và quyền lực; số phận long đong đầy
nước mắt của Bích Liên (Giọt lệ má hồng ) bị người hãm hại làm cho tan
nhà nát cửa, thất lạc con, chồng chết rồi con cũng chết; bị ngừơi vu oan, đặt
tiếng xấu và bị chia rẻ vợ chồng như Ngọc Chất (Đất bằng sấm dậy); người
phụ nữ cũng là nạn nhân của những cạm bẫy trong cuộc sống, bị ép buộc vào
lầu xanh như Vân (Chén thuốc độc), hay đã trở thành những cô gái giang hồ
như Bạch Tuyết (Khối tình), cô ba Tràng (Lửa phiền cháy gan).
Trong Cô ba Trà của Nguyễn Ý Bửu, số phận của người phụ nữ bị đẩy đến
bước đường cùng, phải vào chốn thanh lâu khó có thể sống một cụôc đời bình
miêu tả trong tiểu thuyết của Nguyễn Thế Phương mang nhiều bi kịch, đau
thương. Cũng chính trong những trái ngang, bi kịch, những thử thách gian
truân của cuộc đời mà con người mới thể hiện được bản chất thật của mình,
có kẻ lọc lừa, giả dối, mưu mô, thủ đoạn, hám danh hám lợi nhưng cũng có
người ngay thẳng, thuỷ chung, hiếu nghĩa vẹn toàn. Chính vì Nguyễn Thế
Phương đi sâu khai thác cuộc sống đời tư của con người với những chi tiết cụ
thể trong những cảnh đời riêng, giải quyết mối quan hệ giữa con người với
con người như cha mẹ với con cái, vợ chồng, tình yêu lứa đôi, mối quan hệ
giữa con người với đồng tiền và quyền lực, Nguyễn Thế Phương đã thực sự
miêu tả cuộc sống trong như nó đang tồn tại, đang vận động. Đây là một hiện
thực mới mà nhà văn và những người cùng thời với ông đã mở đường để hình
thành nên hướng đi cho văn học Việt Nam hiện đại và tiểu thuyết của ông đã
có những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại.
Là một trí thức Tây học nhưng vốn xuất thân từ phương Đông, ảnh hưởng
nhiều từ nền tảng Nho giáo, trong buổi giao thời ở những năm đầu thế kỉ XX,
cái nhìn của nhà văn trong sự dung hoà giữa yếu tố mới và cũ. Những tư
tưởng tự do, tiến bộ của phương Tây vẫn còn xen lẫn với quan điểm trung,
hiếu, tiết, nghĩa của Nho giáo. Tôn Thất Dụng đã nhận xét về tính phức tạp
của nội dung văn học Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX như sau: “khi đi
vào phân tích các tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ thời kì
này chúng ta sẽ thấy biên bị giao động giữa cái mới và cái cũ còn nhiều điểm
chưa thật rõ ràng, ranh giới giữa các phạm trù có khi còn chưa phân định
được. Điều này cũng chứng tỏ là giai đoạn giao thời của văn học Nam Bộ
còn nảy sinh những vấn đề mang tính trung gian”. (số 10 trang 31)
Trong số tiểu thuyết của Nguyễn Thế Phương ở những năm đầu thế kỉ XX thì
Chuyện lạ ở Hy Mã được nhà văn đề tựa là nhi đồng tiểu thuyết. Câu
chuyện có dáng vẻ của truyện cổ dân gian đặt trong không gian hiện đại với
những địa danh xác định là “Gần chợ Tân Mỹ, tại thôn Lý Bính, hai anh em
họ Trường cất nhà ở gần nhau” (trang 1). Người em là Trường Cang thông
minh, chịu khó làm ăn nhưng nghèo khó, người anh là Trường Khanh giàu