Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
bởi thế nguồn vốn đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng chung
của nền kinh tế. Nếu như vốn là nguồn gốc cho sự phát triển thì các dự án Đầu tư Phát
triển lại là phương thức phối hợp các hoạt động sử dụng các nguồn vốn đó tạo ra sự tăng
trưởng cho nền kinh tế. Bởi thế có thể thấy rõ được sự liên quan chặt chẽ, mật thiết giữa
nguồn vốn cho phát triển và các dự án đầu tư phát triển.
Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, các khoản chi từ Ngân sách Nhà nước
(NSNN) dành cho việc duy trì bộ máy quản lý, an ninh quốc phòng cũng như phát triển
kinh tế - xã hội đều quá lớn mà các nguồn thu hạn hẹp của NSNN không cáng đáng nổi.
Điều đó dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách trong khi nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất
kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tăng lên. Chính vì vậy, Nhà nước không thể không
thực hiện các dự án đầu tư phát triển bằng con đường bao cấp (cấp phát), Nhà nước đầu
tư thông qua kênh tín dụng đầu tư phát triển. Bằng cách này, chủ đầu tư được vay vốn
với một số điều kiện ưu đãi nhưng phải sử dụng các nguồn thu từ dự án để hoàn trả nợ
vay. Ngoài việc nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư đối với dự án, khả năng điều tiết
nền kinh tế của Nhà nước cũng được cải thiện do ảnh hưởng tich cực của nguồn vốn tín
dụng đầu tư phát triển cao hơn nhiều so với nguồn vốn ngân sách.
NHPTVN với hoạt động chủ yếu là tín dụng đầu tư phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội của Nhà nước đã thể hiện vai trò to lớn trong chặng đường phát triển kinh tế
của đất nước. Hoạt động của NHPTVN góp phần tạo ra sự phát triển dài hạn cho nền
kinh tế. NHPTVN đã tham gia vào các dự án phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng, các
chương trình phát triển nông nghiệp – nông thôn, các dự án phục vụ chiến lược xuất
khẩu….
Tuy nhiên, hiệu quả tín dụng đầu tư tại NHPTVN chưa được đánh giá cao thể hiện
như tình trạng nợ xấu, nợ quá hạn… vẫn còn khá nhiều. Nhằm đáp ứng đòi hỏi nâng cao
hiệu quả tín dụng đầu tư tại NHPTVN, việc nghiên cứu thực trạng hoạt động tín dụng
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
1
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT

“ Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo
mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng
trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc
dịch vụ trong một khoảng thời gian xác định”.
Ngân hàng Thế giới đưa ra định nghĩa: “Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động
và các chi phí liên quan được hoạch định một cách có bài bản nhằm đạt được những mục
tiêu nhất định trong một khoảng thời gian xác định”.
Nói chung về mặt hình thức có thể coi: Dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu
trình bày một cách chi tiết và hệ thống các hoạt động sẽ được thực hiện với các nguồn
lực và chi phí, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ nhằm đạt được những mục tiêu
kinh tế - xã hội nhất định
Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực
và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm xác
định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những
mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. Như vậy, một dự án đầu tư bao gồm các yếu tố cơ
bản sau:
- Các mục tiêu của dự án: Đó là những kết quả và lợi ích mà dự án mang lại cho nhà
đầu tư và xã hội.
- Các hoạt động (các giải pháp về tổ chức kinh tế, kỹ thuật) để thực hiện những mục
tiêu của dự án.
- Các nguồn lực cần thiết để thực hiện hoạt động của dự án và chi phí về các nguồn
lực đó.
- Thời gian và địa điểm thực hiện các hoạt động của dự án.
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
- Các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra của dự án.
- Các nguồn vốn để tạo nên vốn đầu tư của dự án.
Như vậy, dự án không phải là một ý định hay phác thảo mà có tính cụ thể và mục
tiêu xác định, nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định.

dầu khí, hoá chất, phân bón…
Từ 20 tỷ đồng đến 200 tỷ đồng đối với các dự án: Thuỷ lợi, giao thông, cấp thoát
nước và công trình kỹ thuật hạ tầng…
Từ 15 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng đối với các dự án: BOT trong nước, dự án hạ tầng,
khu đô thị mới trong nước
Từ 7 tỷ đồng đến 75 tỷ đồng thuộc các ngành: Y tế, giáo dục, văn hoá…
1.2.3. Dự án nhóm C:
Dưới 30 tỷ đồng đối với các dự án thuộc các ngành: Công nghiệp điện, dầu khí, phân
bón, hoá chất, chế tạo máy…
Dưới 20 tỷ đồng đối với dự án thuộc ngành: Thuỷ lợi, giao thông (khác với điểm
trên), cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng…
Dưới 15 tỷ đồng đối với dự án: BOT trong nước, dự án hạ tầng, khu đô thị mới trong
nước…
-Dưới 7 tỷ đồng đối với các dự án không thuộc các mục trên của các dự án nhóm C.
1.3. Dự án đầu tư của Nhà nước
1.3.1. Khái niệm
Dự án đầu tư của Nhà nước có thể được hiểu là: Dự án sử dụng vốn của Nhà nước để
thực hiện những chương trình, kế hoạch của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định.
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
5
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
Trong đó vốn Nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: Vốn Ngân sách Nhà nước,
vốn viện trợ. vốn vay nước ngoài và các nguồn vốn khác của Nhà nước.
1.3.2. Đặc điểm
Dự án đầu tư của Nhà nước có các đặc điểm sau:
- Nguồn vốn đầu tư chủ yếu là nguồn vốn của Nhà nước. Đó có thể là nguồn vốn cấp
phát từ Ngân sách Nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp hoặc nguồn vốn từ
tín dụng ưu đãi thông qua hệ thống ngân hàng ĐTPT, thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả
trực tiếp.
- Các dự án được thực hiện theo kế hoạch chặt chẽ của Nhà nước, các ngành và địa

phải thanh toán vốn gốc và lãi cho ngân hàng.
- Tín dụmg còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp
cho khách hàng.
- Trong một số ngữ cảnh cụ thể, thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho
vay. Ví dụ: tín dụng ngắn hạn đồng nghĩa với cho vay ngắn hạn.
Với cách tiếp cận tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngân hàng, tín dụng
được hiểu là: Tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng vốn tự có, nguồn vốn huy động
để thoả thuận cho khách hàng sử dụng một khoản tiền trong thời gian nhất định với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Từ khái niệm chung nhất về tín dụng, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về tín dụng
ĐTPT như sau:
Tín dụng ĐTPT là việc Nhà nước thực hiện ưu đãi đối với các dự án đầu tư
phát triển theo kế hoạch của Nhà nước như các chương trình mục tiêu phục vụ lợi
ích quốc gia, các dự án đầu tư quan trọng trong từng thời kỳ kế hoạch, các dự án
đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan
trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững thông qua các hình thức cho vay, bảo
lãnh…
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
7
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
2.2. Đặc điểm của tín dụng ĐTPT
Qua khái niệm trên, tín dụng ĐTPT có những đặc điểm sau:
- Nguồn vốn cho vay là nguồn vốn của ngân sách Nhà nước hoặc nguồn vốn huy
động theo kế hoạch của Nhà nước để phục vụ ĐTPT theo chủ trương của Nhà nước.
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý và cho vay là hệ thống những đơn vị, cơ quan
chuyên môn của Nhà nước, được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ.
- Đối tượng cho vay của tín dụng ĐTPT là những dự án đầu tư lớn, trọng điểm,
chương trình mục tiêu theo định hướng và chủ trương đầu tư của Nhà nước, nhằm phát
triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời

các dự án, chương trình có mức sinh lời thấp, khả năng hoàn vốn chậm, chịu nhiều rủi ro
nên không hấp dẫn các kênh vốn này. Đặc biệ tại các nước đang phát triển, cả hai loại thị
trường này đều bị hạn chế do thị trường chứng khoán đang trên đà sụt giảm, môi trường
đầu tư chưa hấp dẫn… nên nguồn vốn thu hút từ các kênh này cũng không đáng kể.
- Hơn nữa, mặc dù các nước trên thế giới đã thường xuyên dành cho ĐTPT nguồn
vốn lớn từ Ngân sách Nhà nước hàng năm nhưng cũng không thể đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của ĐTPT.
Từ những lý do trên dẫn đến tính mất cân đối giữa nguồn vốn và nhu cầu ĐTPT của
nền kinh tế. Chính vì vậy, việc hình thành tín dụng ĐTPT là hết sức cần thiết, đáp ứng
nhu cầu vốn trung và dài hạn có hiệu quả cho các dự án.
Hai là, tín dụng ĐTPT thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội: Bên cạnh mục tiêu
hiệu quả tài chính, phát triển kinh tế còn đòi hỏi thực hiện đồng bộ các mục tiêu kinh tế -
xã hội như: thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ
môi trường… nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Đây là mục tiêu
mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải quan tâm và tìm mọi giải pháp để thực hiện. Tín dụng
ĐTPT là một công cụ để các nước thực hiện mục tiêu này. Vì thế, những công cuộc đầu
tư thực hiện nhiều mục tiêu lồng ghép như vậy, có thể phải chấp nhận mục tiêu sinh lời
trực tiếp thấp so với các công cuộc đầu tư khác.
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
Các dự án ĐTPT là rất cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế. Các dự
án này có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao, đặc biệt là các dự án trong các ngành công
nghiệp mũi nhọn và vùng nông thôn rộng lớn cần nhiều vốn. Chính vì thế, các NHTM
không sẵn sang đầu tư vào các dự án này do phần lớn các khoản tín dụng của NHTM đòi
hỏi phải có tài sản thế chấp và phải đạt được hiệu quả tài chính theo cơ chế thị trường.
Chính sự khan hiếm nguồn vốn nói chung và nguồn vốn dài hạn nói riêng đã làm cho lãi
suất của các nguồn tài chính này trở lên rất đắt, không thích hợp với các dự án dài hạn có
tỷ lệ sinh lời thấp, song lại đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế. Để hỗ trợ
các dự án đặc thù này, tín dụng ĐTPT thực hiện chính sách ưu đãi lãi suất, điều kiện tài

DANH MỤC
Các dự án vay vốn tín dụng đầu tư.
STT NGÀNH NGHỀ, LĨNH VỰC
I Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (không phân biệt địa bàn đầu tư)
1 Dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt.
2
Dự án đầu tư xây dựng công trình xử lý nước thải, rác thải tại các khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu chế suất, khu công nghệ cao, bệnh viện và các cụm
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
công nghiệp làng nghề.
3
Dự án xây dựng quỹ nhà ở tập trung cho công nhân lao động làm việc trong
khu công nghiệp, khu chế suất, khu kinh tế; ký túc xá sinh viên.
4
Dự án đầu tư hạ tầng, mở rộng, nâng cấp, xây dựng mới và thiết bị trong
lĩnh vực xã hội hoá: giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể dục thể
thao, môi trường thuộc danh mục hưởng chính sách khuyến khích phát triển
theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
II Nông nghiệp, nông thôn (không phân biệt địa bàn đầu tư)
Dự án xây dựng mới và mở rộng cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm
tập trung.
Dự án phát triển giống thuỷ, hải sản.
Dự án phát triển giống cây trồng. giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp.
III Công nghiệp (không phân biệt địa bàn đầu tư)
1
Dự án chế biến sâu từ quặng khoáng sản:
- Sản xuất Alumin có công suất tối thiểu 300 nghìn tấn/ năm; sản xuất nhôm
kim loại có công suất tối thiểu 100 nghìn tấn/ năm;

trình do Chính phủ quyết định trong từn thời kỳ.
- Danh mục các dự án trên đã hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy đinh của Nhà nước.
- Chủ đầu tư là các tổ chức và cá nhân có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự
đầy đủ.
-Chủ đầu tư có dự án, phương án sản xuất, kinh doanh bảo đảm trả được nợ; được
NHPT Việt Nam thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ và chấp thuận cho
vay.
- Đối với các dự án đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ thiết bị, chủ đầu tư
phải có tình hình tài chính bảo đảm thanh toán.
- Chủ đầu tư phải đảm bảo đủ nguồn vốn để thực hiện dự án và các điều kiện tài
chính cụ thể của phần vốn đầu tư ngoài phần vốn vay tín dụng đầu tư của Nhà nước.
c. Mức vốn cho vay đầu tư
- Mức vốn cho vay đối với từng dự án do NHPT quyết định, tối đa bằng 70% tổng
mức vốn đầu tư của dự án đó (không bao gồm vốn lưu động).
- Phần vốn còn lại của dự án, chủ đầu tư phải sử dụng các nguồn vốn hợp pháp khác
như vốn chủ sở hữu, vốn vay các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật để đầu tư.
Các nguồn vốn này phải được xác định cụ thể và bảo đảm tính khả thi của từng nguồn
vốn.
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
13
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
- NHPT thực hiện giải ngân theo đúng cơ cấu nguồn vốn đã được xác định trong hợp
đồng tín dụng; chủ đầu tư phải sử dụng vốn chủ sở hữu, vốn tự huy động để tham gia
đầu tư theo dự án theo đúng cam kết.
d. Thời hạn cho vay đầu tư
- Thời hạn cho vay các dự án vay vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước được xác định
trên cơ sở khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh của từng dự
án và khả năng trả nợ của chủ đầu tư, nhưng tối đa không quá 12 năm.
- Một số dự án đặc thù có thời gian thu hồi vốn dài, mức vốn đầu tư lớn được xem
xét cho vay với thời hạn tối đa là 15 năm, gồm: Dự án trồng rừng tập trung làm nguyên

+ Dự án thuộc đối tượng hỗ trợ sau đầu tư, nhưng chủ đầu tư không được NHPTVN
bảo lãnh tín dụng đầu tư và không vay vốn của NHPTVN mà vay vốn tín dụng thương
mại của các tổ chức tín dụng (TCTD) hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để đầu tư.
+ Dự án đầu tư đã hoàn thành đưa vào sử dụng và đã trả được nợ vay và được
NHPTVN thẩm định ký kết hợp đồng hỗ trợ sau đầu tư.
+ Dự án được NHPTVN thẩm định.
Các dự án đã được các Quỹ đầu tư hoặc NSNN các cấp hỗ trợ đầu tư bằng cách cấp
vốn ngân sách đầu tư xây dựng, cấp bù một phần lãi suất, giảm, xoá lãi tiền vay….
không thuộc đối tượng được hỗ trợ sau đầu tư.
c. Mức hỗ trợ sau đầu tư
Nguồn vốn để thực hiện hỗ trợ sau đầu tư được bố trí trong kế hoạch tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước hàng năm và được NSNN cấp hàng năm trên cơ sở duyệt dự
toán của quốc hội và thuộc nhóm nguồn vốn khác của NHPTVN.
- Mức hỗ trợ sau đầu tư được tính cho từng dự án.
- Mức hỗ trợ sau đầu tư được tính trên tổng số nợ gốc thực trả theo hợp đồng tín
dụng đã ký với tổ chức tín dụng nhưng không vượt quá 70% tổng số vốn đầu tư tài sản
cố định theo quyết toán vốn đầu tư được duyệt của dự án.
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
15
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
- Chỉ hỗ trợ sau đầu tư đối với số vốn vay chủ đầu tư trả nợ tổ chức tín dụng kể từ
ngày có văn bản phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án của cấp có thẩm quyền.
- Đối với các khoản vay chủ đầu tư trả nợ trước hạn, mức hỗ trợ sau đầu tư được tính
theo thời hạn thực vay của khoản vay đó theo hợp đồng tín dụng đã ký.
- Đối với các dự án được khoanh nợ thì thời gian khoanh nợ không được tính vào
thời hạn thực vay để tính hỗ trợ sau đầu tư.
- Thời hạn tính hỗ trợ sau đầu tư tối đa bằng thời hạn vay ghi trong hợp đồng tín
dụng đã ký lần đầu. Thời hạn cấp hỗ trợ sau đầu tư được kéo dài một quý kể từ khi hết
hạn vay ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký lần đầu.
- Không hỗ trợ sau đầu tư đối với các khoản nợ quá hạn, nợ trả trong thời gian gia

cho vay trong năm đó.
e. Trách nhiệm tài chính khi chủ đầu tư không trả được nợ
Khi NHPTVN phải trả nợ thay cho chủ đầu tư theo yêu cầu của tổ chức tín dụng, chủ
đầu tư phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm trả nợ cho NHPTVN về số tiền trả nợ
thay với lãi suất phạt bằng 150% lãi suất vay vốn của tổ chức tín dụng.
3. Hiệu quả tín dụng ĐTPT (thông qua hình thức cho vay).
3.1. Khái niệm
Hiệu quả tín dụng ĐTPT được xem xét trên cả hai mặt:
- Hiệu quả kinh tế: Hoạt động tín dụng được xem là có hiệu quả về mặt kinh tế khi
nó mang lại hiệu quả cho cả cơ quan tác nghiệp, các đối tượng khác trong quan hệ tín
dụng và cả nền kinh tế quốc dân. Nghĩa là, bên cho vay bên cho vay tăng trưởng dư nợ,
thu nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng và bù đắp được chi phí hoạt động. Còn đối với
khách hàng vay vốn, nhờ có vốn tín dụng được vay đã góp phần tăng năng lực sản xuất
kinh doanh, hoạt động hiệu quả và thu được nhiều lợi nhuận, thực hiện tốt nghĩa vụ với
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
17
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
Ngân sách Nhà nước. Trên cơ sở đó, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng trưởng, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đã định…
- Hiệu quả xã hội: Hiệu quả về mặt xã hội là mục tiêu hết sức quan trọng mà bất kỳ
quốc gia nào cũng tìm mọi giải pháp để đạt được. Đây là hai mặt của một vấn đề. Nếu
một quốc gia hoạt động chỉ mang lại hiệu quả về mặt kinh tế mà không mang lại hoặc
không chú trọng đến hiệu quả về mặt xã hội thì hoạt động đó không bền vững và không
đạt mục tiêu đề ra. Hiệu quả về mặt xã hội trong tín dụng ĐTPT được hiểu là thông qua
tín dụng ĐTPT sẽ tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xoá
đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cân bằng mức sống giữa thành thị và nông thôn, cải
thiện môi trường…
3.2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng ĐTPT
3.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế
3.2.1.1. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh quy mô, cơ cấu tín dụng

Nợ xấu
Tổng dư nợ
Hoạt động tín dụng nào cũng bao hàm rủi ro, hoạt động tín dụng đầu tư càng ẩn chứa
nhiều rủi ro hơn. Do vậy, phát sinh nợ xấu là không thể tránh khỏi đối với hệ thống các
tổ chức tín dụng. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ ngân hàng đang phát triển vững chắc dựa
trên khả năng kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng đối với các khoản vay. Ngược lại, tỷ lệ
này cao tức là hoạt động của ngân hàng đang ẩn chứa đầy rủi ro. Chỉ tiêu này là một chỉ
tiêu rất quan trọng đối với hoạt động của một ngân hàng nói chung. Đối với NHPT, nó
còn thể hiện đường lối, chính sách đầu tư của Nhà nước.
b. Tỷ lệ xoá nợ
Tỷ lệ xoá nợ =
Số nợ xoá
Tổng dư nợ
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
19
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
Xoá nợ gồm có xoá nợ gốc hoặc xoá nợ lãi. Xoá nợ là biện pháp không thu nợ gốc,
nợ lãi đối với chủ đầu tư gặp rủi ro không còn khả năng trả nợ sau khi đã áp dụng mọi
biện pháp để tận thu và xử lý nợ theo quy định.
Các dự án được xoá nợ gốc hoặc lãi do các cơ quan giám sát NHPT quyết định trên
cơ sở báo cáo của NHPT.
c. Tỷ lệ trích lập quỹ DPRR
Tỷ lệ trích lập Quỹ
DPRR
=
Số trích lập Quỹ DPRR
Tổng dư nợ
Quỹ dự phòng rủi ro được sử dụng trong trường hợp xoá nợ gốc cho các dự án hoặc
giá bán nợ thấp hơn giá trị gốc.
Nhìn vào số đã trích dự phòng rủi ro với số bù đắp rủi ro hàng năm cũng có được

của ngân hàng với khả năng huy động vốn đồng thời xác định hiệu quả của một đồng
vốn huy động. Hiệu quả sử dụng vốn càng cao chứng tỏ ngân hàng không xảy ra tình
trạng đọng vốn đồng thời rủi ro tín dụng càng lớn.
Ngoài ra, tín dụng ĐTPT là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận như tín dụng của
các Ngân hàng thương mại mà chỉ cần thu hồi đủ vốn và bù đắp được chi phí hoạt động.
Mục đích chính là hỗ trợ các dự án ĐTPT thuộc các thành phần kinh tế của một số
ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần
khuyến khích đầu tư nhằm đạt được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh
tế - xã hội bền vững. Do đó, có thể đánh giá hiệu quả trên phương diện các dự án sử
dụng vốn tín dụng ĐTPT và trên phạm vi tổng thể nền kinh tế thông qua một số chỉ tiêu
đó là:
- Tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, của nền kinh tế nói chung và các ngành được tài
trợ như: công nghiệp, nông nghiệp…
- Tăng trưởng kinh tế của các ngành có liên quan do tác động thúc đẩy của ngành
kinh tế mũi nhọn. Các ngành mũi nhọn có tác động thúc đẩy các ngành sản xuất hàng
tiêu dung, phát triển giao thông vận tải, góp phần kết nối thị trường, giảm chi phí sản
xuất và tiêu thụ.
- Phát triển nông nghiệp nông thôn: Sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn có ý
nghĩa quan trọng không những đối với phát triển kinh tế mà còn đối với sự ổn định chính
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
21
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
trị, xã hội của đất nước. Hiệu quả của tín dụng ĐTPT được đánh giá qua các mặt như:
tăng thu nhập bình quân/hộ, thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hướng phát
triển hàng hoá và tăng sức cạnh tranh.
- Tăng trưởng xuất khẩu: Tín dụng ĐTPT tài trợ cho các ngành có khả năng xuất
khẩu nhằm làm giảm bớt thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, đặc biệt là các nước
nghèo.
- Ngoài ra còn có các chỉ tiêu như: năng lực sản xuất tăng them, tăng thu ngân sách
hàng năm từ dự án được tài trợ, thu hút đầu tư nước ngoài…

kiệm được chi ngoại tệ do không phải nhập khẩu mà sử dụng hàng hoá trong nước và
xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài để thu ngoại tệ.
Hơn nữa, các dự án cơ sở hạ tầng chủ yếu được tài trợ thông qua tín dụng ĐTPT
như: thông tin liên lạc, các công trình giao thông đường không, bộ, thuỷ, khu công
nghiệp… có ý nghĩa vô cùng quan trọng làm tiền đề phát triển cho các ngành kinh tế
khác.
Thứ hai: Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng lựa chọn
Với đặc điểm tập trung ưu đãi vào một số ngành nghề, lĩnh vực thuộc đối tượng
khuyến khích đầu tư trong từng thời kỳ, do đó tín dụng ĐTPT góp phần quan trọng thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đã đề ra, như thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Nội dung cơ bản của công nghiệp hoá-hiện đại hoá của nước ta là
đặc biệt quan tâm tới công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn,
đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại; Nâng cấp cải tạo và xây dựng mới có trọng
điểm kết cấu hạ tầng kinh tế; Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng
trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi bức bách phải có điều kiện về vốn,
công nghệ, thị trường, phát huy tác dụng nhanh và hiệu quả.
Thứ ba, Khi hiệu quả tín dụng ĐTPT được nâng cao thì vấn đề hết sức quan trọng sẽ
được giải quyết đó là: hiệu quả sử dụng nguồn vốn dành cho ĐTPT ngày càng cao, các
dự án đầu tư phát huy hiệu quả tốt, khắc phục được tình trạng nợ quá hạn…
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
23
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa KH & PT
Thứ tư: giải quyết được các vấn đề xã hội
Đây là vấn đề hết sức quan trọng mà bất cứ Nhà nước nào cũng đều phải quan tâm.
Thông qua hoạt động tín dụng ĐTPT, khi hiệu quả của nó được nâng cao và phát huy thì
các vấn đề xã hội sẽ ngày càng được cải thiện: Giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời
sống, xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện môi trường…
3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả tín dụng ĐTPT
3.4.1. Nhân tố thuộc về môi trường kinh tế, chính trị - xã hội
Môi trường chính trị - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của bất kỳ doanh

khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng số nguồn vốn sử dụng. Năng lực
tài chính của doanh nghiệp càng cao thì khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng càng
lớn thì càng có điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng.
- Sự đáp ứng các điều kiện của tín dụng ĐTPT đối với dự án đầu tư: Dự án đầu tư
phải thuộc đối tượng đầu tư cần được khuyến khích đầu tư theo quy định của Nhà nước.
Dự án phải chứng minh được sự cần thiết, mục đích, kết quả của đầu tư. Chủ đầu tư phải
có đủ vốn tự có tham gia đầu tư theo quy định, có khả năng hoàn trả nợ từ bản thân dự
án và từ các khoản thu nhập hợp pháp khác của doanh nghiệp
3.4.3. Nhân tố thuộc về phía cơ quan tác nghiệp
- Năng lực thẩm định và giám sát tín dụng: Năng lực thẩm định trước khi cho vay là
yếu tố đảm bảo chất lượng của khoản vay và dự án. Năng lực thẩm định cao sẽ loại trừ
được sai lệch trong cung cấp thông tin của doanh nghiệp, việc dự đoán tương lai của
hoạt động, khả năng sinh lời và rủi ro càng chính xác thì hiệu quả tín dụng mang lại càng
lớn
Việc theo dõi chặt chẽ tiền vay là biện pháp quan trọng cho để đảm bảo cho việc sử
dụng vốn đầu tư đúng mục đích, có hiệu quả.
- Tình hình huy động, cho vay và quản lý nguồn vốn ĐTPT: Nguồn vốn tín dụng
ĐTPT chủ yếu là nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước và nguồn vốn tự huy động. Do vậy,
Sinh viên: Vũ Thị Lan Lớp: KTPT A - QN
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status