Thực trạng hoạt động can thiệp giảm tác hại dành cho nhóm nghiện chích ma túy và nữ mại dâm tại tỉnh Thanh Hóa năm 2009 pot - Pdf 12

46 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Thực hiện Chiến lược quốc gia Phòng chống HIV/AIDS năm 2004, chương trình can thiệp giảm tác
hại đã được triển khai trên đòa bàn nhiều tỉnh của Việt Nam. Mặc dù vậy, các can thiệp này vẫn chưa
được đánh giá đầy đủ và toàn diện. Do đó, năm 2009, đánh giá thực trạng các hoạt động can thiệp
giảm tác hại trên đòa bàn tỉnh Thanh Hóa đã được thực hiện nhằm đưa ra các khuyến nghò cho giai
đoạn tiếp theo. Đối tượng đích của đánh giá này là người nghiện chích ma túy (NCMT) và nữ mại
dâm (NMD) cùng một số bên liên quan khác. Kết quả đánh giá cho thấy, kênh truyền thông hiệu quả
nhất là qua các giáo dục viên đồng đẳng với hoạt động tiếp cận, tư vấn, phát tờ rơi cho đối tượng
đích. Mặc dù tình trạng sử dụng chung bơm kim tiêm trong nhóm nghiện chích ma túy đã giảm
(khoảng 5%) song tỷ lệ thu gom bơm kim tiêm đã sử dụng còn thấp (dưới 70%). Hoạt động cấp phát
bao cao su miễn phí được thực hiện chủ yếu thông qua đội ngũ giáo dục viên GDVĐĐ (GDVĐĐ) tuy
nhiên số bao cao su được phân phát và số lượt nữ mại dâm tiếp cận chưa tương xứng. Việc huy động
sự ủng hộ của chính quyền và các bên liên quan cùng với việc giảm kỳ thò sẽ góp phần thúc đẩy hiệu
quả các hoạt động đang triển khai.
Từ khóa: HIV/AIDS, can thiệp giảm tác hại, nghiện chích ma túy, nữ mại dâm
Real situation of harm reduction intervention
activities for IDVs and CSWs in Thanh Hoa
province in 2009
Nguyen Minh Hoang(*), Do Mai Hoa(*), Le Bao Chau(*),
M. Suresh Knumar (**), Nguyen Ba Can(***), Mai Van Khoa (***)
A rapid assessment on harm reduction was conducted by Thanh Hoa Provincial AIDS Center under
the scope of HIV/AIDS program in 2009 to evaluate activities of this program and develop a work
plan for the next period. The target populations of this study are injecting drug users (IDUs) and
Thực trạng hoạt động can thiệp giảm tác hại
dành cho nhóm nghiện chích ma túy và nữ mại
dâm tại tỉnh Thanh Hóa năm 2009
Nguyễn Minh Hoàng (*), Đỗ Mai Hoa (*), Lê Bảo Châu (*),
M. Suresh Knumar (**), Nguyễn Bá Cẩn (***), Mai Văn Khoa (***)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 47

Nguyên nhân chủ yếu là họ không thuyết phục được
khách hàng sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
hoặc do áp lực từ phía khách hàng cũng như việc
muốn duy trì mối liên hệ lâu dài với khách hàng [4].
Năm 2004, chương trình can thiệp giảm tác hại
đã được đưa vào Chiến lược quốc gia Phòng chống
HIV/AIDS - khung chính sách toàn diện về dự
phòng, chăm sóc và điều trò HIV của Việt Nam [6].
Luật phòng chống HIV ra đời năm 2006 và quyết
đònh số 108/2007 đã tạo ra khung pháp lý trong việc
triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại [2].
Bộ Y tế Việt Nam đã hợp tác với nhiều nhà tài trợ,
tổ chức quốc tế và Liên Hợp Quốc để triển khai can
thiệp giảm tác hại trên đòa bàn nhiều tỉnh trong cả
nước. Mặc dù vậy, các can thiệp này vẫn chưa được
đánh giá đầy đủ và toàn diện tại các điểm triển
khai. Nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Y tế
Công cộng và Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam
với sự hỗ trợ của trung tâm Phòng chống HIV/AIDS
tỉnh Thanh Hóa đã triển khai điều tra đánh giá thực
trạng các hoạt động can thiệp giảm tác hại trên đòa
bàn tỉnh năm 2009 và đưa ra khuyến nghò về việc
xây dựng một chương trình can thiệp thích hợp trong
giai đoạn tiếp theo.
48 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Thanh
Hóa và thò xã Bỉm Sơn trong năm 2009 với việc sử
dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu đònh tính và

3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Theo kết quả điều tra, phần lớn đối tượng
NMCT trong nghiên cứu là nam giới và chỉ có 03
trường hợp là nữ. Gần một nửa các đối tượng nghiện
ma túy đều đã kết hôn (40,5%). Phần đông số họ
(72%) chưa được đào tạo bất cứ nghề nào và chỉ gần
một nửa số đối tượng nghiên cứu đã học hết cấp 2.
Đối với nhóm NMD, rất ít người đã kết hôn (3,6%)
trong khi đó tỷ lệ đã ly dò là 28,7% và có đến 67,5%
các đối tượng chưa kết hôn. Gần 1/4 các đối tượng
hiện vẫn đang sống với người thân (cha
mẹ/chồng/con cái) và gần 1/3 số này hiện sống một
mình. Đáng lưu ý là có khoảng 16% các đối tượng
này không có nơi ở ổn đònh. Về trình độ học vấn,
42,5% NMD đã học hết cấp hai và có gần 24% đối
tượng đã học hết cấp 3.
3.2. Hành vi nguy cơ và kiến thức phòng lây
nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu
Với nhóm NCMT, chỉ có một tỷ lệ nhỏ (khoảng
2%) sử dụng lại bơm kim tiêm (BKT) mà người khác
đã sử dụng trong tháng trước và trong lần tiêm chích
gần nhất. Mặc dù không có nhiều trường hợp dùng
chung BKT một cách trực tiếp nhưng cũng có
khoảng 13% đối tượng cho biết thi thoảng cũng dùng
chung các dụng cụ tiêm chích trong tháng trước đó.
Mặt khác, có khoảng 3/4 số đối tượng trả lời rằng họ
vẫn có quan hệ tình dục (QHTD) trong tháng trước
thời điểm nghiên cứu, trong đó có hơn 1/3 số họ đã
có QHTD với NMD. Tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD

| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 49
đang triển khai trên đòa bàn tỉnh
Chương trình can thiệp giảm tác hại được triển
khai tại Thanh Hóa từ năm 2004, trong đó thành phố
Thanh Hóa và thò xã Bỉm Sơn là một trong những
đòa bàn triển khai. Các hoạt động này nhận được sự
hỗ trợ từ nhiều nguồn như Chương trình mục tiêu
Quốc gia, dự án Ngân hàng thế giới, dự án
LIFE/GAP và dự án Quỹ toàn cầu đã được triển
khai trên đòa bàn tỉnh Thanh Hóa với nhiều cấu
phần như: thông tin, giáo dục, truyền thông (IEC),
tiếp cận cộng đồng và giáo dục đồng đẳng cho các
nhóm nguy cơ cao bên cạnh tư vấn xét nguyện tự
nguyện (VCT). Ở thành phố Thanh Hóa đã có
83,3% (12/18) các xã/phường được triển khai hoạt
động can thiệp giảm tác tác hại trong khi tỷ lệ này
ở thò xã Bỉm Sơn là 85,7% (6/7) [2]. Bảng 1 cho thấy
số lượng các GDVĐĐvà cán bộ y tế tham gia vào
các hoạt đông can thiệp giảm tác hại tại 02 đòa bàn
nghiên cứu trong khi bảng 2 cho thấy một số kết quả
chính trong các hoạt động can thiệp giảm tác hại đã
đạt được trong năm 2008.
Truyền thông thay đổi hành vi: Kết quả TLN và
PVS cho thấy hiện tại hoạt động truyền thông qua
các phương tiện truyền thông đại chúng được thực
hiện nhiều nhưng hiệu quả chưa cao với các lý do
liên quan đến thời điểm truyền thông chưa phù hợp
hoặc khó khăn về ngôn ngữ truyền thông do có một
bộ phận không nhỏ người dân tộc trên đòa bàn tỉnh

tại trạm y tế (TYT) tỏ ra không mấy hiệu quả. Hình
thức phân phát BKT hiệu quả và được ưa thích nhất
là trao đổi trực tiếp qua GDVĐĐ . Bên cạnh đó, việc
tiếp cận các đối tượng mới chưa đạt yêu cầu do kỹ
năng GDVĐĐ còn hạn chế và sự kỳ thò và phân biệt
đối xử của xã hội đã tồn tại từ nhiều năm.
“Do tâm lý của người chơi, lúc mới nghiện họ
vẫn giấu nên họ thường hay ra mua tại các cửa hàng
thuốc, không dám ra TYT để lấy”(TLN NCMT TP
Thanh Hóa)
Phân phát BCS: Hoạt động cấp phát BCS miễn
phí được thực hiện chủ yếu thông qua đội ngũ
GDVĐĐ và đối tượng nhận là NMD và chủ các nhà
hàng, khách sạn, cơ sở vui chơi giải trí. Một số TYT
Bảng 1. Nhân lực của chương trình can thiệp giảm
tác hại ở thành phố Thanh Hóa và thò xã
Bỉm Sơn
Bảng 2. Các hoạt động can thiệp giảm tác hại tại
thành phố Thanh Hóa và thò xã Bỉm Sơn
năm 2008
50 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
cũng là điểm cấp phát BCS. Ngoài ra, trong quá
trình tiếp cận các đối tượng nghiện chích ma túy,
các GDVĐĐ đôi khi cũng phát cả BKT và BCS.
Tuy nhiên số BCS được phân phát và số lượt NMD
được tiếp cận và nhận BCS chưa tương xứng. Đối
tượng không tiếp cận được chủ yếu là nhóm NMD
đường phố do tính di biến động của nhóm này.
Các hoạt động khác: Hiện trên đòa bàn có triển

nhiều công tác khác nên cũng là một khó khăn khi
triển khai chương trình. Bên cạnh đó, kinh phí dành
cho nhóm GDVĐĐ đi tiếp cận còn thấp, chưa
khuyến khích được tinh thần làm việc của GVD
đồng đẳng.
“Dưới xã phường chỉ có vài ba nhân viên y tế,
mỗi TYT giỏi lắm có một bác sỹ, một số y tá. Một
người làm y tế ở cộng đồng phải tham gia hết các
hoạt động dự phòng và chữa bệnh nên cũng quá tải”
(PVS Chi cục Phòng chống Tệ nạn xã hội tỉnh).
4. Bàn luận
Với cách tiếp cận đối tượng theo phương pháp
quả bóng tuyết, nghiên cứu đã cố gắng tiếp cận được
đúng các đối tượng và đảm bảo tính chính xác và
chân thực của các câu trả lời. Tuy nhiên, cũng do áp
dụng phương pháp trên mà nghiên cứu cũng có một
hạn chế đó là số lượng người nghiện ma túy trong
nghiên cứu rất ít và không đáp ứng được yêu cầu cần
thiết để đánh giá được đầy đủ và có ý nghóa đối với
nhóm này. Bên cạnh đó, số người sử dụng ma túy
tham gia nghiên cứu không đảm bảo tính đại diện về
mặt kinh tế - xã hội. Để hạn chế sai số gây ra từ việc
chọn mẫu điều tra, nhóm nghiên cứu đã kết hợp
nhiều phương pháp thu thập số liệu với nhiều đối
tượng khác nhau (kết hợp cả đònh tính, đònh lượng),
các kết quả thu được từ nghiên cứu đánh giá này vẫn
có ý nghóa rất quan trọng trong việc xây dựng kế
hoạch nhằm triển khai các hoạt động can thiệp giảm
tác tại Thanh Hóa được phù hợp.
Hiệu quả can thiệp: Can thiệp giảm tác hại cho

Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 51
vấn đề cần phải cải thiện, trong đó có việc nâng cao
nhận thức của cộng đồng. Chính vì sự hạn chế này
nên chưa nhiều nhà hàng, khách sạn, cơ sở vui chơi
giải trí đồng ý tham gia chương trình. Điều này ảnh
hưởng trực tiếp đến việc đưa hoạt động BCS đến
nhóm NMD.
Tính duy trì: Mặc dù có những hạn chế nói trên
nhưng một số cơ sở vui chơi giải trí khi đã hiểu lợi
ích thì tham gia rất nhiệt tình từ việc nhận BCS để
phân phát cho NMD, khách làng chơi và người
NCMT đồng thời tạo điều kiện cho nhân viên đi
khám, xét nghiệm đònh kỳ và tham gia các buổi
truyền thông, tập huấn. Mặt khác, tất cả đối tượng
được phỏng vấn và thảo luận đều cho rằng các hoạt
động giảm tác hại rất cần được tiếp tục duy trì.
Thuận lợi: Sau một thời gian triển khai, chương
trình giảm tác hại đã vận động và có được sự ủng
hộ, quan tâm và hỗ trợ của chính quyền, các ban
ngành đoàn thể tại đòa phương. Trong đó, sự ủng hộ
của ngành công an đóng một vai trò rất lớn trong
việc triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại.
Mặc dù ban đầu ngành công an không ủng hộ các
hoạt động của chương trình giảm tác hại với việc
không đồng ý để đối tượng phân phát bơm kim tiêm
cho nhau bởi cho rằng họ có thể lợi dụng việc này
để buôn bán ma túy. Nhưng sau khi đã hiểu được
mục đích của chương trình, ngành công an đã tạo
điều kiện thuận lợi hơn để cho các GDVĐĐ thực
hiện công việc.

khách hàng như nhà nghỉ, khách sạn, điểm vui chơi
giải trí. Một điều quan trọng là cần quan tâm tới tất
cả các bên liên quan bao gồm NMD, khách hàng,
chủ nhà nghỉ, khách sạn, cơ sở vui chơi giải trí,
người môi giới khi thiết kế và triển khai các can
thiệp.
- Tiếp tục duy trì và tăng cường hiệu quả hoạt
động của nhóm GDVĐĐ
- Hỗ trợ việc ban hành các văn bản pháp lý để
tạo điều kiện cho các nhà hàng và khách sạn có thể
cung cấp bao cao su và trao đổi BKT cho nhóm có
hành vi nguy cơ cao
- Khuyến nghò cung cấp các thiết bò thiêu hủy
BKT đã sử dụng tại các TYT
- Cán bộ làm công tác cai nghiện cần được tập
huấn về can thiệp giảm tác hại; cần có sự thay đổi
về mặt chính sách để các hoạt động cai nghiện có
hiệu quả hơn.
52 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Bộ Y tế - Cục Phòng chống HIV/AIDS (2008), Báo cáo
quốc gia công tác Phòng, chống HIV/AIDS năm 2008
2. (2004), Quyết đònh số 36/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia phòng,
chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn
2020
3. Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Thanh Hóa
(2008), Báo cáo công tác Phòng, chống HIV/AIDS năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status