Thực trạng hoạt động quảng cáo, xây dựng chiến dịch quảng cáo của Melinh Plaza nhằm thâm nhập thị trường Miền Bắc trong 1 năm chính thức đi vào hoạt động (12/2006-12/2007) - Pdf 83

Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

MỤC LỤC
II.Thị trường vật liệu xây dựng và nội thất cao cấp...............................................7
1.1 Quy mô nhu cầu vật liệu xây dựng ở Hà Nội....................................................7
1.2.Tốc độ phát triển của thị trường VLXD và nội thất cao cấp............................9
III.Thị phần của các doanh nghiệp sản xuất VLXD và nội thất ở khu vực Hà Nội13
IV.Những yếu tố môi trường chi phối đến thị trường VLXD và nội thất cao cấp.14
3.1. Ảnh hưởng của môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa..................................14
3.2. Ảnh hưởng của khoa học công nghệ..............................................................16
3.3.Ảnh hưởng của việc giao lưu hội nhập của các quốc gia trên thế giới..........17
VI.Thực trạng cho thuê mặt bằng ở Melinh Plaza trong 1 năm đi vào hoạt động19
1.1.Số lượng công ty và thành phần các công ty...................................................19
1.2.Diện tích cho thuê...........................................................................................22
VII.Quảng cáo cho các công ty kinh doanh ở Melinh Plaza.................................24
2.1. Quảng cáo chung cho Melinh Plaza..............................................................24
2.2. Quảng cáo cho các công ty kinh doanh ở Melinh Plaza................................24
VIII.Khả năng tiêu thụ hàng hóa của các doanh nghiệp kinh doanh tại Melinh
Plaza........................................................................................................................26
3.1.Khả năng tiêu thụ của các công ty kinh doanh ở Melinh Plaza......................27
3.2.Tác động của quảng cáo đến việc tiêu thụ......................................................27
1.Mục tiêu..............................................................................................................27
2.Phạm vi không gian của quảng cáo trên truyền hình........................................29
3.Thông điệp..........................................................................................................29
5.Ngân sách quảng cáo trên truyền hình..............................................................35
Các doanh nghiệp phải xác định được khả năng có thể đầu tư cho một chiến dịch
quảng cáo và mức đầu tư bao nhiêu là hợp lý. Mặc dù vậy, việc xác định mức ngân
sách tối ưu cho một chương trình quảng cáo là không dễ dàng do không thể xác định
được một cách chính xác hiệu quả các từ ngữ, hình ảnh âm thanh trong các thông
điệp quảng cáo. Được lấy từ thông tin từ phòng quảng cáo của tập đoàn T&M Việt

Bảng 6.1;6.2;6.3;6.4: Lịch phát hành quảng cáo trên các báo và tạp chí của Melinh
Plaza các tháng đã nêu
Bảng 7.1;7.2;7.3;7.4: Ngân sách quảng cáo trên báo và tạp chí của các tháng đã nêu
Bảng 8.1: chi phí quảng cáo mặt ngoài của Melinh Plaza
Hình 3: Xe buýt miễn phí đi Melinh Plaza. Tr 49
Hình 4: Xe buýt đi Melinh Plaza. Tr 49
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Philip kotler (2003), Quản trị Marketing, Nxb Thống kê, Hà Nội.
2. Nguyễn Quốc Thịnh (2005) Thương hiệu với nhà quản lý, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội
3. Vũ Quỳnh (2006) Quảng cáo và các hình thức quảng cáo hiệu quả nhất,
NXB lao động xã hội, Hà Nội
4. Bộ văn hóa thông tin, cục văn hóa, thông tin cơ sở- Các quy định của pháp
luật về hoạt động quảng cáo-Hà Nội 2005
5. Nguyễn Dương (2006) thương hiệu và quảng cáo, NXB lao động xã hội
6. Website: www.melinhplaza.biz ;
7. Tạp chí xây dựng, tạp chí nội thất và vật liệu xây dựng
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

LỜI MỞ ĐẦU


Chương 3: Những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động
quảng cáo nhằm thâm nhập thị trường Miền Bắc của Melinh Plaza
Em Xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS Lưu Văn Nghiêm
cùng sự giúp đỡ của các anh, chị trong phòng Marketing Trung tâm thương mại
VLXD Melinh Plaza !
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG VẬT LIỆU XÂY DỰNG VÀ NỘI THẬT
CAO CẤP CỦA HÀ NỘI VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
MELINH PLAZA
I. Phân tích thị trường vật liệu xây dựng của Hà Nội
II. Thị trường vật liệu xây dựng và nội thất cao cấp
1.1 Quy mô nhu cầu vật liệu xây dựng ở Hà Nội
Hiện nay nhu cầu xây dựng nhà ở đang tăng cao ở Hà Nội, nhiều khu đô thị
mới, nhiều ngôi nhà biệt thự đang được xây dựng ở khu ngoại thành Hà Nội, tuy
nhiên do nhiều yếu tố chi phối nên giá cả của các mặt hàng vật liệu xây dựng đang có
xu hướng tăng giá. Mặt khác hiện nay nước ta đều xuất khẩu những mặt hàng thô ra
nước ngoài rồi lại nhập các nguyên vật liệu đã qua xử lý về nước vì vậy mà chi phí
lại càng cao. Theo bảng thống kê giá trị xuất nhập khẩu một số vật liệu xây dựng của
các mặt hàng năm 2004 và 2005 như sau:
Giá trị xuất- nhập khẩu một số vật liệu xây dựng ( triệu USD)
Vật liệu 2004 2005
Xuất khẩu
Vôi, xi măng, VLXD 22,5 32,7
Đất sét, VLXD chịu
lửa
35,7 53,7

Thép thô 70% công suất thiết kế
Thép cán dài 50% công suất thiết kế
Gia công sau cán 90% công suất thiết kế
Bảng 1.2: Các chỉ tiêu mà ngành VLXD đạt được
(Nguồn tin từ Bộ xây dựng)
b. Tiềm năng
+ Định hướng phát triển của nhà nước: Phát triển ngành thép Việt Nam nhanh
chóng trở thành một ngành phát triển hoàn chỉnh theo công nghệ truyền thống, sử
dụng tối đa nguồn quặng sẳn có trong nước, trên cơ sở xây dựng khu liên hợp luyện
kim công suất 4-5 triệu tấn thép /năm, sử dụng tối đa và có hiệu quả nguồn nguyên
liệu khoáng trong nước, áp dụng các công nghệ mới hiện đại đang được sử dụng trên
thế giới, cố gắng thoả mãn tối đa nhu cầu trong nước về thép cán (cả về số lượng,
chủng loại, quy cách và chất lượng sản phẩm). Từ thay thế nhập khẩu tiến tới xuất
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

khẩu sản phẩm thép. Phấn đấu đến 2020 sẽ có một ngành thép phát triển bền vững
với tốc độ tăng trưởng cao, bảo đảm tốt về chất lượng, đầy đủ về số lượng và chủng
loại sản phẩm thép, đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
+Bộ Thương mại dự báo, năm 2008, nhu cầu tiêu thụ thép cả nước ước khoảng 4
triệu tấn, tăng 11% so với năm 2007. Phôi thép tự sản xuất trong nước khoảng 2,3
triệu tấn, đã đáp ứng 50% nhu cầu sản xuất, phải nhập khẩu phôi trên 2 triệu tấn. Giá
phôi thép nhập khẩu năm 2008 dự báo dao động quanh mức 400-420 USD/tấn (CIF)
nên giá bán thép xây dựng dự báo quay quanh mức 8.000 đồng.
+ Dự kiến của Ngành về nhu cầu thép trong những năm tới: 2010: 10 triệu tấn, 2015:
16 triệu tấn; 2020: 20 triệu tấn
- Ngành xi măng
a. Thực trạng
• Sản xuất và tiêu thụ: 27 triệu tấn/2004

lực, nhất là gạch granite chỉ khai thác 60% - 65% năng lực.
Giống như ngành xi măng, ngành VLXD còn thiếu vật liệu mới, cao cấp nên hàng
năm vẫn phải nhập khẩu thêm khoảng 100 - 150 triệu USD. Đây là hậu quả của việc
các ngành, các địa phương không đầu tư theo quy hoạch, nhu cầu thị trường mà chỉ
chạy theo phong trào và lợi nhuận trước mắt, dẫn đến tình trạng mất cân đối, khủng
hoảng thừa và thiếu.
Suất đầu tư cho sản xuất VLXD ở VN còn quá cao cũng là một nguyên nhân khiến
giá thành VLXD của Việt Nam thường cao hơn 15% - 20% so với mức trung bình
trên thế giới. Do vậy, các chuyên gia kinh tế dự báo, nếu tình trạng này kéo dài thì
ngay cả khi các hiệp định mậu dịch tự do được áp dụng đầy đủ, VLXD của VN cũng
rất ít có ưu thế để vươn ra thị trường thế giới.
Đâu là giải pháp phát triển bền vững?
Muốn làm được điều này, ngành xi măng cần chọn lựa các công nghệ hiện đại và nên
ưu tiên chọn các dự án xây dựng nhà máy xi măng lò nung công suất lớn từ 4.000 –
8.000 tấn/ngày, hạn chế đầu tư xây dựng các nhà máy xi măng lò quay nhỏ, công
nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường và cho chất lượng sản phẩm kém sức cạnh
tranh.
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

Trong quá trình phát triển cần phải đặc biệt ưu tiên các dự án sản xuất xi măng cao
cấp, xi măng trắng, xi măng màu, xi măng bền sulfat, xi măng giếng khoan và xi
măng đóng rắn nhanh… vì đây là hầu hết các sản phẩm mà chúng ta đang phải nhập
với giá cao.
Với tốc độ tăng trưởng mạnh về xây dựng, ngành xi măng cũng phải theo kịp nhu cầu
thị trường để tránh bị mất thị phần trong nước. Nếu có đủ vốn và thực hiện đúng tiến
độ, thì đến năm 2008, 16 nhà máy này sẽ đi vào sản xuất, đưa công suất xi măng của
cả nước lên 45 triệu tấn, đủ sức đáp ứng nhu cầu xi măng trong nước cho đến năm
2010.

Định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng đến năm 2010:
+Triển khai mới đầu tư xây dựng 31 dự án xi măng lò quay với tổng công suất thiết
kế là 39 triệu tấn, với sự tham gia của nhiều chủ đầu tư thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau và các dự án được phân bổ ở nhiểu vùng trên cả nước
+ Có 21 dự án xi măng lò đứng đang và sẽ thực hiện chuyển đổi công nghệ sang lò
quay với công suất 8,04 triệu tấn trong đó 4 dự án đã hoàn thành là: Kiện Khê; X77;
La Hiên; Lam Thạch với công suất 1,04 triệu tấn
+Dự kiến 2010, sẽ có 50 nhà máy quay hoạt động
Năng lực sản xuất (theo dự đoán của Hiệp hội xi măng Việt Nam)
+ Cung: 60 triệu tấn vượt cầu khoảng 10-12 triệu tấn.
+ Vị trí thị trường: Việt Nam sẽ trở thành nước có công suất và sản lượng xi măng
lớn nhất trong khối các nước ASEAN
VN có tài nguyên, có lợi thế nhưng lại không khai thác được thế mạnh. Cả ngành
xi măng và thép đều xây dựng kế hoạch phát triển ngành mang tính chiến lược cho
riêng mình nhưng những dự án trọng điểm đều chưa đạt tiến độ. Chúng ta có những
mỏ sắt trữ lượng lớn, nguồn nguyên liệu sản xuất clinker cũng khá dồi dào nhưng lại
phải đi nhập phần lớn nguồn nguyên liệu này từ nước ngoài. Nếu phát huy được lợi
thế khai thác triệt để thế mạnh sẵn có của mình thì việc bình ổn thị trường dễ dàng
hơn và hiệu quả hơn rất nhiều. Còn như hiện nay, các DN phải nhập khẩu nguyên
liệu trong khi xu hướng thế giới vẫn tiếp tục tăng thì những biện pháp kỹ thuật kìm
hãm giá sẽ khó khả thi. Không phát huy được nội lực thì khó có thể tạo ra sự ổn định
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

và phát triển bền vững cho nền kinh tế. Nhất là khi chúng ta đã bước ra sân chơi
chung, tham gia những định chế toàn cầu.
Theo đánh giá, tình hình sản xuất của ngành gốm sứ xây dựng của Việt Nam đang
trong giai đọan phát triển mạnh, nhất là ở thời gian khoảng 7 năm nay trở lại đây.
Như nghiên cứu của Hiệp hội gốm sứ Việt Nam, trong giai đọan từ năm 2000 - 2005,

Hiện nay, Melinh Plaza chiếm thị phần 1/5 vật liệu xây dựng và nội thất kinh
doanh ở khu vực Hà Nội
Melinh Plaza là nơi mua sắm hàng hóa có giá cao và chất lượng tốt vì vậy mà khi
phân theo thu nhập của các khách hàng mua sắm tại Melinh Plaza có mức như sau:
11%
15%
36%
38%
0%0%
Thu nhập
trung bình
Thu nhập
trung bình -
khá
Thu nhập khá
Thu nhập cao
Biểu
đồ 1: Mức mua sắm phân theo thu nhập tại Melinh Plaza
IV. Những yếu tố môi trường chi phối đến thị trường VLXD và nội thất cao cấp
3.1. Ảnh hưởng của môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa
Theo dự báo sản lượng thép tiêu thụ năm nay có thể tăng 13-15% so với cùng kỳ năm
ngoái giá thép đã tăng 130 USD/tấn. Việc tăng giá thép không chỉ ảnh hưởng đến
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

người tiêu dùng mà còn tác động trực tiếp đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của các
DN. Tuy nhiên với việc Chính phủ điều tiết giá bằng cách giảm thuế nhập khẩu phôi
thép từ 5% xuống 3% và giảm thuế nhập khẩu thép thành phẩm từ 10% xuống 8% thì
khả năng tiếp tục tăng giá thép từ nay đến cuối năm khó xảy ra, nhưng về lâu dài rất

pháp tình thế mang tính kỹ thuật, chẳng hạn đối với thép là giảm thuế. Nỗ lực bình ổn
giá hàng thiết yếu trước các biến động ngắn hạn là công việc mà hầu hết các chính
phủ trên thế giới, ngay cả những nước phát triển đều phải làm nhưng xác định biện
pháp để bình ổn giá mà không vi phạm thô bạo các luật chơi của thị trường không
phải là chuyện đơn giản. Kìm giữ giá trong nước thì sự bình ổn giá chỉ là tạm thời và
giả tạo. Khi không có sự điều chỉnh giá kịp thời, cái lò xo bị nén trước sau sẽ phải bật
ra, dẫn đến những cú sốc lớn gây mất ổn định thị trường. Nhìn lại hai mặt hàng xi
măng và thép những năm gần đây không khó nhận ra đâu là nguyên nhân chính để
đảm bảo cho việc bình ổn giá trong nước. Đối với thép, lâu nay, VN luôn phụ thuộc
vào việc nhập khẩu phôi thép từ Trung Quốc. Hiện các nhà sản xuất thép trong nước
vẫn nhập từ 70 đến 80% lượng phôi thép.
Đối với xi măng cũng tương tự: liên tiếp những năm gần đây than, điện, dầu đốt lò
MFO, clinker, vỏ bao, thạch cao, xăng dầu và giá cước vận chuyển tăng liên tục từ
7,4% đến 30% đối với từng loại vật liệu. Đặc biệt là đối với clinker, giá tăng khá cao
trong khi chúng ta phần lớn vẫn phải nhập khẩu. Chính vì vậy nếu không tăng giá thì
đương nhiên DN sẽ phải đối mặt với nguy cơ lỗ vốn, điều mà không DN nào chờ đợi.
Vì vậy với mức tăng như thời gian vừa qua sẽ không bảo đảm được mục tiêu duy trì
lợi nhuận để tái đầu tư phát triển trong bối cảnh giá cả tăng như hiện nay.
3.2. Ảnh hưởng của khoa học công nghệ
Đến nay, cả nước có khoảng 500 dây chuyền sản xuất gạch, ngói bằng công nghệ
Tuynel, đây là công nghệ được xem là tiên tiến nhất trong ngành sản xuất gốm sứ
hiện nay của Việt Nam, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nguyên liệu sản xuất, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường. Hơn 1/2 sản phẩm gạch, ngói tiêu thụ trên thị trường cả
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

nước đã được sản xuất từ dây chuyền lò nung Tuynel. Ước tính năm 2006, cả nước
đã tiêu thụ khoảng 16 tỷ viên gạch và trên 20 triệu m2 ngói.
Qua khảo sát của hiệp hội, hiện nay, các doanh nghiệp trong ngành đang chuẩn bị mở

nguyên liệu, nguồn nhân lực dồi dào và Việt Nam nay đã là thành viên của WTO nên
thị trường giao thương đã được mở rộng. Vì vậy, Chủ tịch Hiệp hội gốm sứ xây dựng
cho rằng các doanh nghiệp cần đẩy mạnh song song với việc tận dụng những lợi thế
và kết hợp với việc cải tiến công nghệ, dây chuyền sản xuất để nâng cao chất lượng
sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu.
Chủ động được nguồn nguyên liệu là điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất. Với
đặc điểm ấy, hiện nay, các cơ sở sản xuất gốm, sứ xây dựng đang tập trung tại các địa
phương có điều kiện thuận lợi về nguồn nguyên liệu như tại phía Bắc có Vĩnh Phúc,
Bắc Ninh, Thái Bình, Hưng Yên; tại phía Nam là tập trung tại Bình Dương, Đồng
Nai và trong tương lai chuyển về một khu vực mới là Bà Rịa - Vũng Tàu.
Với một nền kinh tế phát triển từ rất sớm như vậy, tốc độ đô thị hoá và xây dựng
tại Mỹ nở rộ từ những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và luôn duy trì ở tốc độ cao.
Năm 2002, thị trường xây dựng ở Mỹ đạt 842,3 tỉ đô la Mỹ thì một năm sau, con số
này đã tăng 4,9% đạt 883,6 tỉ đô la Mỹ. Nhu cầu về vật liệu xây dựng và thiết bị nội
thất cũng vì thế mà tăng rất nhanh. Ban đầu chỉ là các cửa hàng vật liệu xây dựng và
trang thiết bị nội thất quy mô nhỏ, hoạt động bó hẹp trong các bang, dần dần, các
trung tâm thương mại ở Mỹ bắt đầu mở rộng cả về diện tích trưng bày cũng như
phạm vi hoạt động sang các nước xung quanh.
Nhìn chung, tuy các công ty tại nước Mỹ có hệ thống trung tâm và cửa hàng rộng
khắp nhưng các công ty này thường đặt các trung tâm thương mại tại vị trí khá xa
thành phố và khu dân cư, gần nhất thường là cách 60km, còn trong thành phố thường
chỉ đặt các cửa hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm với diện tích nhỏ.
Sau hơn 20 năm tiến hành cải cách kinh tế, Trung Quốc giờ đây đã trở thành quốc
gia đứng đầu thế giới về phương diện tiêu thụ các mặt hàng nông nghiệp và công
nghiệp cơ bản. Theo báo cáo của Viện Chính sách Địa cầu: quốc gia đông dân nhất
thế giới này đã đạt được một dấu mốc quan trọng trong quá trình hiện đại hóa, có
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing


Khoa Marketing

Sản phẩm gạch men, gạch granite, gạch bông, sơn nước và thiết bị
vệ sinh của công ty gạch Đồng Tâm.
Gian hàng tại tầng 1 Nhà A2Sản phẩm nội thất của hãng Eurota Đài Loan với các sản phẩm nội
thất mang phong cách đồng quê.
Gian hàng tại tầng 3 Nhà AThiết bị nhà bếp cao cấp FABER nhập khẩu từ Italy, được phân
phối bởi công ty TNHH Mạnh Dũng.
Gian hàng tại tầng 2 Nhà B.Sản phẩm nội thất Gỗ Việt được cung cấp bởi công ty TNHH An
Thái.
Gian hàng tại tầng 2 Nhà A.Siêu thị nội thất gia đình và văn phòng HOMEMART với các sản
phẩm nội thất được cung cấp bởi công ty TNHH Siêu Chung Kỳ.
Gian hàng tại tầng 2 Nhà A
/>
Ngân hàng Công thương Việt Nam
Gian hàng tại tầng 1 Nhà A
Profi.

Siêu thị nội thất S.B. Furniture với các sản phẩm nội thất nhập
khẩu từ Thái Lan được phân phối bởi công ty TNHH Việt Bắc.
Gian hàng tại tầng 2 Nhà A
/>
Đồ điện và đồ gia dụng thương hiệu TEFAL CHLB Đức được
Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

phân phối bởi Đại siêu thị Melinh qua hệ thống siêu thị EMV-
Profi.

Sản phẩm sắt nội thất gia đình, mỹ thuật Tùng Thư của công ty
TNHH Tùng Thư.
Gian hàng tại tầng 3 Nhà A

1.2. Diện tích cho thuê
Khu trưng bày, kinh doanh VLXD & thiết bị nội thất
Khu trưng bày, kinh doanh VLXD và thiết bị nội thất bao gồm: Toà nhà trung tâm A
và 3 toà nhà vệ tinh A1, A2, B, là nơi chuyên trưng bày, giới thiệu và kinh doanh sản
phẩm Vật liệu xây dựng hoàn thiện và trang thiết bị nội thất cao cấp của các nhà sản
xuất, kinh doanh trong và ngoài nước.
1. Tầng 1
+ Đại siêu thị VLXD hoàn thiện, dụng cụ điện, dụng cụ cầm tay và đồ dùng dụng
cụ gia đình.
+ Cửa sổ, cửa đi, vách ngăn, Gạch ốp lát, gỗ ván sàn, thảm trang trí, Thiết bị vệ
sinh, bồn tắm, buồng massage...
+ Quần áo thời trang, đồ trang sức, kính mắt...

(Phục vụ công cộng)
- Diện tích sàn tầng 2,3,4: 1.370 x 3 = 4.110m
2
Hình 1: Hình ảnh mô phỏng khu văn phòng và căn hộ cho thuê
(Văn phòng cho thuê)
- Diện tích sàn tầng 5,6,7,8,9,10: 1.370 x 6 = 8.220m
2
(Khu văn phòng & Căn hộ cho thuê)
Khu Nhà hàng
Khu nhà hàng cho thuê với diện tích sàn trên 1000m
2
là nơi cung cấp dịch vụ ăn
uống, giải khát thuận tiện và thoải mái phục vụ Trung tâm Melinh PLAZA.

Bùi Thị Thơ Quản trị quảng cáo 46
Chuyên đề tốt nghiệp
Khoa Marketing

Hình 2: Hình ảnh mô phỏng khu nhà hàng
Khu tổng kho Melinh PLAZA:
Tổng kho Melinh PLAZA nằm tại Khu công nghiệp Quang Minh trên diện tích đất
60.000m
2
với 30.000m
2
mặt sàn.
Hiện nay, khu nhà ăn vẫn chưa có doanh nghiệp nào thuê lý do ở vị trí mà
Melinh Plaza đang đặt thì rất ít người có thể có thể mở tiệc chiêu đãi ở đó, các công
ty thuê kinh doanh ở mặt bằng Melinh Plaza chủ yếu để trưng bày sản phẩm là chính,
để khách hàng có thể tham quan Melinh Plaza nhận biết được tên tuổi của họ, còn

- Nâng cao hình ảnh, vai trò và vị thế của Trung tâm Thương Mại Melinh Plaza,
một trung tâm thương mại chuyên nghiệp và đẳng cấp hàng đầu về vật liệu
xây dựng và trang thiết bị nội thất ở Việt Nam.
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu xây dựng ấn phẩm là toàn bộ các thông tin, dữ
liệu công bố về hoạt động của Trung tâm Thương mại Melinh Plaza và các
doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng, trang thiết
bị đang đăng ký hoạt động tại Trung tâm Thương mại Melinh Plaza
TT Nội dung công việc Đơn vị tính Khối lượng Đơn giá VNĐ Thành tiền
VNĐ
A Xây dựng đề cương nội dung sách
Xây dựng đề cương chi tiết nội dung sách (Dự kiến
mục lục sách; tên bài viết; tác giả; danh mục các
công ty, các sản phẩm được giới thiệu…)
Đề cương 2,000,000
B Chuẩn bị thủ tục pháp lý
Hoàn thiện hồ sơ và xin giấy phép xuất bản của Bộ
Văn Hóa Thông tin
Giấy phép 1 3,300,000 3,300,000
C Công tác ngoại nghiệp
Chi phí phương tiện đi lại, thông tin liên lạc 4,500,000
D Thu thập thông tin (Chuẩn bị nội dung ảnh và bài
viết cho ấn phẩm)
Tác nghiệp ảnh tại Melinh và 80 đơn vị 01 số 9,500,000
Tập hợp và đặt bài viết, tin tức 01 số 10,000,000
E Biên tập nội dung
Kiểm tra, chỉnh sủa nội dung bài viết, ảnh; Biên tập
nội dung sách; đọc duyệt bản bông
ấn phẩm 1 8,800,000 8,800,000
F Thiết kế ấn phẩm
Thiết kế trang bìa Bìa 4 1,000,000 4,000,000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status