Bướu giáp đơn thuần - Pdf 12

Bướu giáp đơn thuần
1. Đặc điểm giải phẫu - sinh lý bệnh bướu giáp đơn thuần
Bướu giáp đơn thuần là bướu giáp lan toả có chức năng bình thường. Bướu
giáp hình thành là do tăng số lượng và sự phì đại các tế bào tuyến giáp, được
xem là hậu quả của quá trình thiếu hụt tương đối do tăng nhu cầu hay thiếu
tuyệt đối do tổng hợp không đầy đủ hocmôn giáp. Tăng tiết TSH (Thyroid
stimulating hormon) thứ phát do cơ chế kiểm soát ngược. Tuyến giáp bị kích
thích dẫn tới tăng sản phì đại toàn bộ, những thay đổi ở giai đoạn này có thể
phục hồi .
Tích tụ chất keo trong lòng nang giáp, thay đổi ở mô kẽ, những thay đổi này
không thể phục hồi được. Có khi giai đoạn tăng sản xảy ra đồng thời với
những biến đổi vĩnh viễn của tuyến giáp.
2. Bệnh nguyên bệnh bướu giáp đơn thuần
2.1. Các nguyên nhân
2.1.1. Bướu giáp địa phương do thiếu hụt Iod
Là nguyên nhân quan trọng ở những vùng có bệnh bướu giáp địa phương .
Theo Tổ chức Y tế thế giới những vùng mà tỷ lệ bướu giáp trên 10% so với
toàn dân và Iod niệu thấp thì gọi là vùng có bướu giáp địa phương. Thiếu hụt
iod , ngoài việc gây bướu giáp còn dẫn tới nhiều biến chứng năng nề khác
gọi là những rối loạn do thiếu hụt Iod ( Iodine thời kỳ đầu của đời sống có
thể đưa đến các rối loạn tinh thần. Rối loạn thiếu I-od là vấn đề Y tế có tầm
quan trọng toàn cầu. Những vùng núi cao,ở xa biển, giao thông khó khăn
thường là những vùng thiếu dễ rối loạn thiếu I-od. Theo tổ chức Y tế thế giới
(OMS) năm 1996 , khoảng 30% dân số thế giới # hơn 1 tỷ rưỡi người có
nguy cơ rối loạn thiếu I-od và 750 triệu người bị bướu cổ.
Tại Việt nam có từ 9-10 triệu người sống ở vùng núi và cao nguyên có nguy
cơ rối loạn thiếu I-od. Tỷ lệ bệnh bướu giáp địa phương ở các tỉnh đó là 34,2
%(16,2-55,2%). Rối loạn thiếu Iod không chỉ gây bướu giáp địa phương.

Do các chất hoà tan trong nước, một số vùng cao có nhiều canxi, magie,
fluo làm cho nước có độ cứng cao, ảnh hưởng việc tổng hợp hocmôn tuyến
giáp, gây bướu giáp.
Các loại thuốc như muối Lithium, kháng giáp tổng hợp, thuốc chứa iod (các
loại thuốc hen, thấp khớp, amiodaron, thuốc cản quang), có thể gây bướu
giáp vì ức chế tập trung Iod và rối loạn tổng hợp hocmôn giáp.
2.1.4. Các bệnh mãn tính
Khi mắc các bệnh mạn tính như hội chứng thận hư, đái nhiều protein có thể
làm giảm các protein vận chuyển hormon giáp.
2.1.5. Các nguyên nhân khác gây bướu giáp tản phát
2.1.5.1. Tuổi
Trẻ em trong giai đoạn dậy thì có nhu cầu tăng cao T3, T4 do đó dễ mắc
bệnh bướu giáp.
2.1.5.2. Giới
Trẻ gái hay mắc bướu giáp tản phát trong giai đoạn dậy thì do tăng cao nhu
cầu hocmôn giáp. Hơn nữa do hoạt động của chu kỳ kinh nguyệt, estrogene
đã ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá hocmôn giáp.
2.1.5.3. Bướu giáp có tính chất gia đình
Cũng thuộc nhóm bướu giáp tản phát này.
3. Triệu chứng lâm sàng

Bướu giáp địa phương có các biểu hiện lâm sàng như bướu giáp đơn thuần.
Trẻ nhỏ bướu giáp có dạng lan toả, to dần lên đến tuổi dậy thì thành bướu
giáp dạng keo. Khi bướu giáp quá to có thể thấy dấu hiệu chèn ép thực quản,
khí quản gây khó thở khó nuốt. Trí tuệ phát triển bình thường. Không có
triệu chứng toàn thân khác trừ khi có suy giáp. Khám lâm sàng, nhìn kết hợp
với sờ nắn cho phép phân loại bướu giáp. Cần đo vòng cổ để theo dõi về sau.
Bảng 2: Cách phân loại của OMS
Độ Đặc điểm
0 Không có bướu giáp

Bệnh Besedow có lồi mắt. Các xét nghiệm chức năng giáp thay đổi.
5.2.Viêm tuyến giáp cấp
Bướu giáp có tính chất viêm sưng nóng, đỏ, đau . Chọc hút tuyến giáp có mủ
. Chức năng tuyến giáp bình thường. Điều trị bằng kháng sinh.
5.3. Viêm tuyến giáp mạn Hashimoto
Bướu giáp có tổ chức không đồng đều, thường kèm theo suy hay cường giáp
trạng .
Chẩn đoán bằng chọc hút tuyến giáp và tìm thấy kháng thể kháng tuyến
giáp.
5.4. Ung thư tuyến giáp
Rất hiếm gặp ở trẻ em, bệnh tiến triển nhanh, bướu giáp có mật độ rắn chắc
có nhiều hạch ở xung quanh.
6.Tiến triển và biến chứng
Nếu bướu giáp được điều trị sớm diễn biến thuận lợi , một số trường hợp có
thể khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên cũng có thể một số biến chứng nhất là bướu
chìm trong lồng ngực. Chèn ép vào khí quản gây khó thở, ngạt thở. Chèn ép
vào thực quản gây khó nuốt. Chèn ép vào dây thần kinh quặt ngược làm thay
đổi tiếng, phát âm khó và 2 giọng. Rối loạn chức năng tuyến giáp như suy
giáp hay cường giáp do điều trị không đúng.
7. Điều trị
Điều trị phụ thuộc vào loại và thời gian xuất hiện bướu giáp .
- Bướu giáp lan toả mới :
+ Dùng hocmôn trị liệu, nhằm ức chế tiết TSH.
+ Dùng L T4 từ 50-100 mg/ngày trong liên tục 6 tháng đầu và tốt nhất nên
kéo dài đến 2 năm. Khi bướu giáp giảm thể tích có thể giảm liều LT4 .
+ BG có thể nhỏ lại tới mức bình thường trong 60% trường hợp.
- Bướu giáp lan toả đã lâu ngày: Điều trị như trên nhưng ít khi khỏi hẳn, nếu
có biến chứng chèn ép hay bướu giáp to nhanh phải chỉ định phẫu thuật.
8. Phòng bệnh
- Đối với bướu giáp địa phương phải dự phòng và điều trị các rối loạn thiếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status