Tục ngữ người Việt với việc phản ánh tri thức dân gian (về văn hoá Nông nghiệp) - Pdf 12

đại học quốc gia H Nội
trờng đại học khoa học xã hội v nhân văn
Ngô thị thanh quý tục ngữ ngời việt
với việc phản ánh tri thức dân gian
(về văn hoá nông nghiệp) Chuyên ngnh: Văn học dân gian
Mã số: 62.22.36.01
Tóm tắt luận án tiến sĩ văn học
H Nội - 2007

Công trình đợc hon thnh tại:
Trờng Khoa học xã hội nhân văn - Đại học Quốc gia H Nội
văn học dân gian có liên quan đến luận án của tác giả 1. Ngô Thị Thanh Quý (2002), "Tục ngữ ngời Việt với việc
phản ánh tri thức tự nhiên, tri thức ứng xử xã hội", in kỉ yếu
Thông báo văn hoá dân gian, Nxb Khoa học xã hội (tr.812).
2. Ngô Thị Thanh Quý (2005), "Những câu tục ngữ nói về
mối quan hệ thầy trò", Tạp chí nguồn sáng dân gian, số
tháng 4 (tr.61).
3. Ngô Thị Thanh Quý (2007), "Tục ngữ ngời Việt với văn
hoá ẩm thực", Tạp chí Văn hoá dân gian, số tháng1 (tr.63).
4. Ngô Thị Thanh Quý (2007), "Góp phần dạy tốt nội dung
tục ngữ trong chơng trình ngữ văn phổ thông qua tìm hiểu
tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp trong đời sống hiện
đại", Tạp chí Giáo dục, số 171 tháng 9. 1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề ti
1.1. Trong thời đại ngày nay, những vấn đề về tục ngữ vẫn luôn
có tính thời sự, không có một ngành khoa học nhân văn nào từ dân
tộc học đến ngôn ngữ học cũng nh nghiên cứu văn học, thậm chí
ngay kể cả khoa học kỹ thuật lại không cần đến những tài liệu về tri
thức tục ngữ. Có lẽ vì thế mà tục ngữ đã đợc sự quan tâm của nhiều
nhà khoa học trong những năm qua.
1.2. Tục ngữ ngời Việt phản ánh tri thức dân gian Việt Nam,
thể hiện t duy của dân tộc Việt, phản ánh lối nghĩ, lối cảm của ngời
Việt Nam. Vì thế việc đi sâu nghiên cứu tục ngữ để làm giàu có thêm
vốn văn hoá mang bản sắc dân tộc trong mỗi ngời là một việc làm

trong một số chơng mục nh:
3.1. Giáo trình đại học

Trong giáo trình đại học Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 (tác giả
Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Lí Hữu
Tấn, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Trí Viễn, từ năm 1961 đến
năm 1978 in năm lần) khi viết về tục ngữ các tác giả đã đề cập đến
bốn vấn đề về tục ngữ: Định nghĩa về tục ngữ, nguồn gốc và sự phát
triển, nội dung và nghệ thuật của tục ngữ. Với dung lợng của một
cuốn giáo trình về lịch sử văn học nói chung vấn đề tục ngữ ngời
Việt với việc phản ánh tri thức dân gian về văn hoá nông nghiệp cha
đợc đề cập đến nhiều.
Với cuốn Văn học dân gian (in lần đầu năm 1972,1973, in
lần hai 1977, in lần ba 1991), tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân
Diên đã đề cập phần nào đến tục ngữ ngời Việt với việc phản
ánh tri thức dân gian về văn hoá nông nghiệp, điều đó đợc thể
hiện trong phần phác thảo những nội dung cơ bản của tục ngữ.
Hoàng Tiến Tựu trong công trình: Văn học dân gian Việt Nam
(1990), tập II, đã đa ra định nghĩa về tục ngữ, phân biệt tục ngữ

3
với các hình thức gần gũi khác. Chính vì thế mà việc đề cập đến
văn hoá nông nghiệp qua tục ngữ không nhiều.
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (1990), in lại lần 2:
năm 1996, in lại lần 3: năm1998, nhóm tác giả Lê Chí Quế, Võ Quang
Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ đã đề cập đến nguồn t liệu và những công
trình nghiên cứu tiêu biểu về tục ngữ, bản chất thể loại của tục ngữ. Khi
đi vào nội dung phản ánh của tục ngữ, tác giả đi sâu vào kinh nghiệm
trong lao động nông nghiệp, chăn nuôi, chài lới
Giáo trình văn học dân gian của nhóm tác giả Phạm Thu Yến,

Tác giả Hoàng Hữu Triết trong cuốn Bớc đầu tìm hiểu về khí
tợng dân gian Việt Nam (1973) đã nghiên cứu ca dao tục ngữ nói về
khí hậu thời tiết trong năm của nớc ta qua các mùa.
Tác giả Bùi Huy Đáp trong cuốn Ca dao tục ngữ với khoa học
nông nghiệp (1999) đã đi vào phân tích những câu tục ngữ về chủ đề
đất đai và lao động, thời tiết và mùa vụ nông nghiệp trong xã hội.
Các chuyên luận nghiên cứu về tục ngữ cơ bản tập trung vào hai
hớng nghiên cứu chính đó là hớng nghiên cứu của các nhà ngữ văn
học và hớng nghiên cứu của các nhà khoa học kỹ thuật. Cả hai mặt
nghiên cứu đều nhằm mục đích phát hiện những giá trị tri thức đợc
phản ánh trong tục ngữ. Tục ngữ hiện lên với t cách là một phơng
tiện ngôn ngữ, kho văn liệu quý giá đợc nhân dân lao động sáng tạo
tích luỹ từ hàng nghìn năm nay. Trong đó, tục ngữ đã kết tinh đợc cơ
bản nhất lối nói dân gian, lối nghĩ của dân tộc và phần nào đã phản
ánh đợc vẻ độc đáo của văn hoá nông nghiệp Việt nam.
3.3. Các bài báo
3.3.1. Viết về tự nhiên thời tiết, kỹ thuật trồng cấy chăn nuôi
3.3.2. Các bài báo viết về tục ngữ với vấn đề ăn uống
3.3.3. Các bài báo viết về sức sống của tục ngữ
3.3.4. Các bài viết về tục ngữ mới phản ánh văn hoá nông nghiệp
Vấn đề tục ngữ ngời Việt với việc phản ánh tri thức dân gian về
văn hoá nông nghiệp ở khía cạnh này hay khía cạnh khác đã đợc các
bài báo đề cập đến khá phong phú.

5
Đề tài: Tục ngữ với việc phản ánh tri thức dân gian (về văn hoá
nông nghiệp) sẽ đợc kế thừa từ các công trình nghiên cứu của ngời
đi trớc, những thông tin có tính chất gợi mở, những kiến giải sâu sắc
có căn cứ, những phơng pháp tiếp cận tích cực. Đó là tiền đề khoa
học quý báu mà nếu thiếu nó chúng tôi khó có thể thực hiện đợc

6.3. Phơng pháp thống kê, phân tích so sánh tổng hợp
7. Cấu trúc của đề ti
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bài viết của tác giả đã đợc
công bố, tài liệu tham khảo, luận án đợc chia làm 3 chơng.
Chơng 1: Tục ngữ ngời Việt phản ánh tri thức dân gian về
văn hoá nông nghiệp - một số vấn đề lý luận chung.
Chơng 2: Tục ngữ ngời Việt phản ánh lối ứng xử nông nghiệp
của con ngời trong xã hội Việt Nam truyền thống.

Chơng 3: Tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp trong xã hội
hiện đại.

Chơng 1
Tục ngữ ngời việt phản ánh tri thức dân
gian về văn hoá nông nghiệp - một số vấn đề
lý luận chung

1.1. Đặc thù Văn hoá nông nghiệp Việt Nam
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Trong khoa học nhân văn, khái niệm văn hoá là một trong
những khái niệm đã tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú. Tuỳ
theo từng góc độ tiếp cận, các tác giả đã đa ra những cách hiểu
khác nhau về văn hóa.
Từ những định nghĩa về văn hoá, chúng tôi khái quát một cách
hiểu về văn hoá nh sau: Văn hoá là hoạt động nhằm biến đổi tự
nhiên sẵn có trong thế giới thành tự nhiên mang dấu ấn con ngời.
Trong quá trình đó con ngời đã sáng tạo ra những giá trị vật chất và

7
những giá trị tinh thần mang yếu tố nhân văn. Văn hoá đồng hành với


8
1.2. Nhận diện tri thức đợc phản ánh trong tục ngữ
về văn hóa nông Nghiệp
1.2.1. Tri thức tục ngữ
Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, giàu tri thức, có
vần, có nhịp và tơng đối bền vững về cấu trúc, đợc sử dụng trong
lời ăn tiếng nói hàng ngày, nhằm nêu lên kinh nghiệm của nhân dân
về mọi mặt đời sống (tự nhiên, xã hội).
Những đúc rút kinh nghiệm của cha ông ta trong tục ngữ
thờng đợc hiểu là tri thức dân gian. Trong quá trình nghiên cứu
chúng tôi gọi tắt là tri thức tục ngữ.
1.2.2. Tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp
Trớc hết phải khẳng định rằng tri thức tục ngữ phản ánh về
văn hoá nông nghiệp chủ yếu là phản ánh về công việc của nhà nông
và lối ứng xử nông nghiệp của con ngời trong xã hội Việt Nam
truyền thống.
1.2.3. Nhận diện tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp
1.2.3.1. Về nội dung
Tri thức dân gian đợc phản ánh trong tục ngữ là những kinh
nghiệm đợc đúc rút từ cuộc sống thực tế của nhân dân lao động. Bên
cạnh những tri thức "học đờng", thì tri thức dân gian trong tục ngữ còn
là tri thức "phi học đờng". Nó là kinh nghiệm mà con ngời đã tích luỹ
đợc trong quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng với môi trờng tự
nhiên và xã hội. Tri thức đó phục vụ trực tiếp cho lợi ích vật chất và tinh
thần của con ngời trong xã hội nông nghiệp, nông thôn truyền thống.
1.2.3.2. Về hình thức
- Cách thức phản ánh tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp
qua kết cấu,vần nhịp.
- Tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp qua cách phản ánh
10
Chơng 2
tục ngữ ngời việt phản ánh lối ứng xử nông nghiệp
của con ngời trong xã hội việt nam truyền thống
Kho tàng tục ngữ ngời Việt phản ánh tri thức ứng xử của con
ngời trong xã hội canh tác nông nghiệp chủ yếu thể hiện ở ba
phơng diện: Đó là ứng xử của con ngời với thiên nhiên, ứng xử của
con ngời trong việc sử dụng sản phẩm canh tác nông nghiệp và ứng
xử của con ngời với cộng đồng thông qua các mối quan hệ: Ngõ,
xóm, họ, giáp, và biểu hiện trong tín ngỡng, lễ hội.
2.1. Lối ứng xử của Con ngời với thiên nhiên trong
xã hội canh tác nông nghiệp
2.1.1. Kinh nghiệm dự đoán tự nhiên thời tiết
Khi cha có khoa học dự báo thời tiết, tục ngữ đã ra đời lãnh
nhận một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của thời điểm con ngời cha
có khoa học dự báo thời tiết giúp ngời nông dân có ý thức "Trông
trời, trông đất, trông mây".
Thời tiết và khí hậu luôn là một trong những nhân tố của ngoại
cảnh có tác động ảnh hởng trực tiếp và quyết định đến năng suất của
mùa vụ. Có giải mã đợc những ký hiệu đằng sau những hiện tợng
thời tiết, ngời nông dân mới yên tâm sản xuất lao động. Để làm đợc
điều đó, họ có cách của riêng mình.
2.1.1.1. Quan sát hiện tợng tự nhiên
Những hiện tợng dự báo thời tiết đợc quan sát chủ yếu nh
gió, mống, ráng, sầm, thâm, chớp
2.1.1.2. Quan sát thực vật
Ngời nông dân chủ yếu quan sát cây cỏ gà, cây chuối, cây tre,
cây sim

Măng
tre, dâu
xoan
Mống
Sấm,
chớp
Trăng,
sao
Cơn,
dông,
gió,
mây
Nắng,
ma
Ráng,
rồng,
thâm
Tháng
Các
hiện
tợng
khác
Số lợn
g

(câu)
18 8 7 3 9 6 9 48 16 39 57 15 97 185
Tỷ lệ
(%)
50 22 19 9 60 40 2 10,3 3,4 8,4 12,3 3,2 20,8 39,6

các loài thực vật nh cỏ gà, rễ si, rễ đa Miền Trung do vị trí địa lý,
điều kiện tự nhiên môi trờng đã làm cho vùng đất này hình thành nền
văn hoá biển. Sự quan tâm của c dân Trung bộ chủ yếu hớng vào
những hiện tợng nh mống chớp, nớc, ráng, rồng. Đối với ngời dân

13
Nam Bộ, trên hành trình khai phá vùng đất mới, họ đã đúc kết đợc
một số kinh nghiệm trong quá trình mở cõi. Tuy nhiên những câu tục
ngữ về kinh nghiệm dự đoán thời tiết không nhiều mà chủ yếu nói về
những khó khăn trên con đờng khai phá vùng đất hoang sơ.
2.1.2. Kinh nghiệm canh tác nông nghiệp
2.1.2.1. Tri thức kinh nghiệm về trồng lúa
Trong những câu tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động thì
chiếm đa số là những câu tục ngữ nói về trồng trọt và chủ yếu là
nghề trồng lúa.
Các kỹ thuật trồng lúa đều đợc đề cập đến: Cày bừa, gieo mạ,
cấy lúa, kỹ thuật chọn giống, chăm sóc.
2.1.2.2. Kinh nghiệm trồng hoa màu
Những kinh nghiệm về trồng chuối, trồng cam, trồng khoai lang,
trồng mía, trồng sắn, trồng cau, trồng dừa đều đợc đề cập đến trong
tục ngữ. Chúng tôi khái quát vấn đề trong bảng thống kê sau:
Bảng thống kê, so sánh tri thức dân gian tục ngữ
về kinh nghiệm canh tác nông nghiệp
Kinh nghiệm canh tác nông nghiệp (478)
Diễn giải
Lm
đất
Cy
bừa
Gieo


Lợn G Chó Cá
Bồ
câu
Tằm
Các
loại
khác
Số lợng (câu) 35 33 28 16 29 6 18 124
Tỷ lệ (%) 12 11 10 6 10 2 6 43
Nh vậy số câu tục ngữ nói về trâu, bò nhiều hơn cả: 35 câu, sau
đó đến lợn, gà: 33 câu, nuôi thả cá là: 29 câu. Có những câu tục ngữ
trong hai vế đều diễn tả tri thức chăn nuôi ở cả hai loại con nh chó
và gà, gà - lợn, lợn - tằm, cá - lợn.
Công việc chăn nuôi đối với các gia đình nhà nông là việc tất
yếu để phục vụ cho cuộc sống tự cấp tự túc trớc đây.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy số lợng câu tục
ngữ phản ánh kinh nghiệm chăn nuôi ít hơn nhiều so với số lợng câu
nói về trồng trọt (Trồng trọt, làm ruộng, làm vờn 478 câu) điều đó
nó cũng phản ánh một thực tế: Địa hình Việt Nam phù hợp với canh
tác trồng trọt. Việt Nam không có những đồng cỏ lớn để chăn thả gia
súc. Những gia súc, gia cầm đợc chăn nuôi, chỉ trong phạm vi gia
đình, với tính chất của nền kinh tế tự cấp, tự túc. Nó là thực tế của xã
hội canh tác nông nghiệp Việt Nam.
2.2. Con ngời trong việc sử dụng sản phẩm canh tác
nông nghiệp
2.2.1. Chất liệu và cách chế biến, sử dụng của ngời Việt
2.2.1.1. Chất liệu thức ăn
Sản phẩm của nền canh tác nông nghiệp truyền thống trớc hết là
lúa, gạo.

hài hoà biểu trng cho lối ở của ngời Việt Nam.
Những tri thức tục ngữ quan niệm về nhà ở đều là những nhận
xét đánh giá chủ yếu dựa trên sự quan sát và kinh nghiệm của nhân
dân ta trong cuộc sống canh tác nông nghiệp. Những vật liệu để xây
cất một ngôi nhà đều là tranh, tre, nứa lá đợc tận dụng từ đồng ruộng
thiên nhiên.

16
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi áp dụng
phơng pháp thống kê
phân loại và nhận thấy trong 1573 câu tục ngữ viết về vấn đề ăn uống, ăn
mặc, y phục, nhà cửa thì số lợng câu dành cho mỗi loại nh sau:
Bảng thống kê, so sánh tri thức tục ngữ phản ánh về ăn,
về mặc, về ở
Diễn giải
Tri thức tục ngữ
về ăn
Tri thức tục ngữ
về mặc
Tri thức tục ngữ
về ở
Số lợng (câu) 1238 151 189
Tỷ lệ (%) 78,5 9,5 12
Qua bảng thống kê phân loại tri thức về ăn, tri thức về mặc, tri
thức về ở thì vấn đề thức ăn, cách ăn đợc đề cập nhiều nhất.
Giữa vấn đề ăn và mặc thờng có tính chất đối xứng nhau.
Những tri thức đó có liên quan chặt chẽ với giới tự nhiên, nó phản
ánh sự vận dụng linh hoạt của con ngời trớc tự nhiên.
Sự ứng xử của con ngời Việt đợc thể hiện trong tục ngữ thờng
thiên về các giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ.

ánh lối ứng xử của con ngời trong xã hội canh tác nông nghiệp đợc
thể hiện rất rõ trong mối quan hệ với thiên nhiên, lối ứng xử của con
ngời trong việc sử dụng sản phẩm canh tác, ứng xử của con ngời
trong cộng đồng xã hội canh tác nông nghiệp. Tất cả những ứng xử đó
đã nói lên phần nào vẻ đẹp tri thức văn hoá của con ngời Việt Nam.
Với thiên nhiên con ngời ứng xử trên tinh thần coi trọng
thiên nhiên. Thế giới tự nhiên mà con ngời quan tâm trong tục
ngữ đều liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, ng nghiệp,
cuộc sống con ngời ở mọi lĩnh vực. Tri thức tục ngữ về ứng xử
với thiên nhiên là thế ứng xử nhiều chiều.
Bên cạnh đó, việc ứng xử với sản phẩm canh tác nông nghiệp
của con ngời Việt Nam thờng là nơng theo tự nhiên, tận dụng tự
nhiên để có thể nhận đợc những điều kiện thuận lợi nhất trong
cuộc sống sinh hoạt vật chất. Từ tình cảm gia đình, đến mối quan hệ
láng giềng, mối quan hệ cộng đồng là cả một nền tảng vững chắc để
con ngời, dân tộc Việt Nam đến với mối quan hệ đất nớc tổ quốc
nhân dân.

18
Chơng 3
Tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp
trong xã hội hiện đại

3.1. Tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp trong
đời sống hiện đại
Tìm đến với tri thức tục ngữ phản ánh văn hoá nông nghiệp,
ngời ta có thể thoả mãn đợc những hiểu biết về quy luật tự nhiên,
về quan hệ ứng xử xã hội, những kinh nghiệm đối nhân xử thế trong
cuộc sống cộng đồng.
Do trạng thái "tĩnh" của công cụ lao động đã đa đến trạng

có đợc những dấu ấn riêng.
Khi tục ngữ đi vào nghệ thuật ngôn từ, nó cho ta thấy sự am hiểu
sâu sắc của nhà văn đối với cuộc sống của ngời lao động. Tục ngữ
đã góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ tác giả: Trong sáng, giản
dị, giầu triết lý.
Chỉ với việc khảo sát lời văn trong tác phẩm của các tác giả Nam
Cao, Đào Vũ, Nguyễn Khắc Trờng, số lợng khảo sát không nhiều,
nhng chúng ta cũng thấy rằng tục ngữ - một thể loại văn học dân
gian truyền thống đã làm phong phú thêm nội dung và hình thức của
tác phẩm văn học hiện đại. Qua việc khảo sát và phân tích một số câu
tục ngữ trong các tác phẩm viết về nông thôn, luận án phần nào đã
chứng minh đợc: Tục ngữ có một đời sống phong phú trong cuộc
sống hiện đại. Hay nói một cách khác, văn xuôi hiện đại đã tiếp thu
và phát huy một cách tốt nhất những tinh hoa tốt đẹp của truyền
thống sáng tác dân gian dân tộc Việt Nam.
Khi nêu và trình bày những vấn đề chính về sự hiện diện của tục
ngữ truyền thống trong xã hội hiện đại, chúng tôi đã chỉ ra bằng
những cứ liệu cụ thể thông qua lời nói của các nhân vật trong tác
phẩm văn học viết về đề tài nông thôn, nông nghiệp. Qua đó chúng
tôi thấy đạo đức truyền thống, kinh nghiệm và triết lý dân gian đợc
đúc kết một cách cô đọng trong tục ngữ. Khi các nhà văn nh Nam

20
Cao, Đào Vũ, Nguyễn Khắc Trờng sử dụng tục ngữ dân gian là các
tác giả đã kế thừa, tiếp thu luôn cả triết lý dân gian, lối cảm, lối nghĩ,
cách nói phơng pháp t duy của dân gian.
Đa tục ngữ vào trong tác phẩm văn xuôi không đơn thuần chỉ là
việc sử dụng một thể loại văn học dân gian truyền thống trong tác
phẩm văn học hiện đại mà còn làm tăng tính hình tợng của văn học
dân gian đối với phong cách văn xuôi của các nhà văn. Những câu tục

Ngời sáng tạo tục ngữ mới đã nắm bắt hiện thực đời sống một
cách nhanh chóng, phát hiện và lựa chọn những mảng hiện thực tiêu
biểu tạo thêm những đề tài mới trong quá trình sáng tạo tục ngữ hiện
đại. Các đề tài xuất hiện nhiều nh: Đề tài về cuộc đấu tranh cách
mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tục ngữ mới phê phán những thói
h tật xấu, phản ánh nhịp sống của các tầng lớp nh công nhân, học
sinh, sinh viên và đặc biệt tục ngữ mới đã đi vào phản ánh cuộc sống
nông thôn mới ngày nay.
3.3.4. Những nội dung mới của tục ngữ về văn hoá nông nghiệp
Nội dung mới của tục ngữ về nông nghiệp hiện đại đi vào đúc
kết những kinh nghiệm sản xuất mới.
Tục ngữ luôn thể hiện đợc chức năng thực hành sinh hoạt. Nó
vừa là nghệ thuật vừa khác nghệ thuật. Nó là thứ nghệ thuật ích dụng,
giúp con ngời cải tạo hiện thực.
Tục ngữ mới về nông nghiệp liên quan đến nhiều hoạt động
khác. Thực ra đây cũng là một mảng tục ngữ rất có ý nghiã trong lịch
sử, bởi nó đã ghi lại kinh nghiệm sản xuất của một thời kỳ vừa phải
sản xuất, vừa phải chiến đấu: vững tay cày, hay tay súng, Tay cày
tay súng, tay búa tay súng. Trong ba mơi năm đất nớc có chiến
tranh, cuộc sống của nhân dân luôn luôn phải song hành nhiều nhiệm
vụ cùng lúc, vừa phải sản xuất vừa phải bảo vệ Tổ quốc.
Tục ngữ mới về nông nghiệp đề cập đến mối quan hệ giữa con
ngời với con ngời trong xã hội hiện đại.

22
"Tục ngữ là bộ luật không thành văn của cộng động". Tuy chỉ
truyền miệng nhng tục ngữ là thể loại ghi giữ đợc nếp sống văn hoá
tinh thần vật chất, cách nghĩ cách cảm của dân tộc một cách rõ nét.
Bên cạnh đó tục ngữ mới về nông nghiệp đã phản ánh rất rõ mối
quan hệ giữa nhân dân với Đảng. Trong tục ngữ hình ảnh Đảng, hình

thuật ngôn từ. Nó là nơi thể hiện tập trung mối quan hệ đặc biệt, quan
hệ: Ngôn ngữ - Văn hoá - T duy.

Kết luận

1. Có thể nói tục ngữ phản ánh tri thức dân gian về văn hoá nông
nghiệp vẫn còn là mảng đề tài thú vị cho những ai muốn tìm hiểu sâu
về cội nguồn, truyền thống văn hoá dân tộc.
2. Với những vấn đề nghiên cứu ở luận án, chúng ta có thể thấy
ngời bình dân xa đã tích luỹ đợc một kho tàng tri thức vô cùng
phong phú trong cuộc sống bằng một hình thức ngắn gọn, cô đúc dễ
nhớ, dễ truyền là tục ngữ.
3. Trong nền văn hoá nông nghiệp lúa nớc, ngời bình dân đã
khái quát đợc nhiều vấn đề về thiên nhiên. Họ đã nhận thức đợc ở
thiên nhiên đó không phải chỉ là hiện tợng đơn lẻ mà giữa chúng
luôn có mối quan hệ qua lại. Vì quan tâm tới thiên nhiên mà ngời
bình dân đã nhận ra ở thiên nhiên những ký hiệu thời tiết vô cùng
phong phú sinh động, muôn màu muôn sắc. Những tri thức ứng xử
với tự nhiên trong tục ngữ thờng khuyên con ngời tranh thủ tận
dụng những thuận lợi của mây, gió, đất, trời để phát triển đời sống và
cũng tìm cách đối phó, ứng xử với những điều kiện thời tiết khí hậu
không thuận lợi trong ăn, mặc, ở.
4. Lối ứng xử của con ngời đợc phản ánh trong tục ngữ thể
hiện rất rõ tổ chức cộng đồng của con ngời Việt Nam. Họ luôn sống

24
theo nguyên tắc trọng tình làng xóm, sống cố định lâu dài với nhau
tạo nên một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu.
5. Tri thức đợc phản ánh trong tục ngữ về nông nghiệp, nông
thôn là những tri thức thực tiễn của nhân dân lao động đợc chắt lọc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status