ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ THANH QUÝ
TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT
VỚI VIỆC PHẢN ÁNH TRI THỨC DÂN GIAN
(VỀ VĂN HOÁ NÔNG NGHIỆP)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI – 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Lịch sử vấn đề 3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19
5. Những đóng góp của luận án 20
6. Phương pháp nghiên cứu 21
7. Cấu trúc của luận án 22
Chương 1: TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT PHẢN ÁNH TRI THỨC DÂN GIAN VỀ
VĂN HOÁ NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 23
1.1. Đặc thù văn hoá nông nghiệp Việt Nam 23
1.1.1. Khái niệm văn hoá 23
1.1.2. Văn hoá nông nghiệp 26
1.1.2.1. Khái niệm văn hóa nông nghiệp 26
1.1.2.2. Đặc thù của văn hoá nông nghiệp 28
1.2. Nhận diện tri thức tục ngữ về văn hóa nông nghiệp 43
1.2.1. Tri thức tục ngữ 43
1.2.2. Tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp 45
1.2.3. Nhận diện tri thức tục ngữ về văn hoá nông nghiệp 52
1.2.3.1. Về nội dung 52
1.2.3.2. Về hình thức 54
Chương 2: TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT PHẢN ÁNH LỐI ỨNG XỬ NÔNG NGHIỆP
CỦA CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 65
2.1. Lối ứng xử của con người với thiên nhiên trong xã hội canh tác
nông nghiệp 65
trong tác phẩm văn chương 152
3.2.1. Tục ngữ thể hiện ở lời nói của nhân vật trong truyện ngắn
Nam Cao 154
3.2.2. Tục ngữ thể hiện ở lời nói của nhân vật trong tác phẩm "Cái
sân gạch", "Vụ lúa chiêm" của Đào Vũ 159
3.2.3. Tục ngữ thể hiện ở lời nói của nhân vật trong tác phẩm
"Mảnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc Trường 163
3.3. Sự sáng tạo những câu tục ngữ mới 173
3.3.1. Về nguồn gốc 174
3.3.2. Về thời gian 176
3.3.3. Về đề tài 177
3.3.4. Những nội dung mới của tục ngữ về văn hoá nông nghiệp 181
3.3.4.1. Nội dung mới của tục ngữ về nông nghiệp hiện đại với
sự đúc kết những kinh nghiệm sản xuất mới 182
3.3.4.2. Tục ngữ mới về nông nghiệp liên quan đến nhiều hoạt
động khác 183
3.3.4.3. Tục ngữ mới về nông nghiệp đề cập đến mối quan hệ
con người trong xã hội hiện đại 184
KẾT LUẬN 189
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
TS. : Tiến sĩ
PGS. : Phó giáo sư
GS. : Giáo sư
Nxb. : Nhà xuất bản
Tr. : Trang
TT. : Thứ tự
H. : Hà Nội
ngữ. Có lẽ vì thế mà tục ngữ đã được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học
trong những năm qua.
1.2. Tục ngữ người Việt phản ánh tri thức dân gian Việt Nam, mang tư
duy của dân tộc Việt, phản ánh lối nghĩ, lối cảm của người nông dân Việt.
Tục ngữ đúc rút kinh nghiệm của nhân dân ta trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống vật chất và tinh thần. Nó chứa đựng quan niệm của người bình dân về
thế giới tự nhiên và xã hội. Thông qua ngôn từ được chọn lọc gọt rũa, tục ngữ
phản ánh tri thức nhiều mặt của đời sống xã hội. Tri thức dân gian được ứng
dụng hàng giờ, khắp nơi trong cuộc sống của quần chúng nhân dân lao động.
Nó đi qua các thời đại và được bổ sung đúc kết để thế hệ này trao truyền thế
hệ khác. Nó có ý nghĩa sâu xa trong cuộc sống của mỗi con người, mỗi gia
đình trong cộng đồng người Việt. Vì thế việc đi sâu nghiên cứu tục ngữ để
làm giàu có thêm cách tư duy văn hoá mang bản sắc dân tộc trong mỗi người
là một việc làm cần thiết.
2
1.3. Thông qua việc nghiên cứu tục ngữ về văn hoá nông nghiệp người
đọc thấy rõ hơn nét bản sắc văn hoá Việt Nam. Chúng ta hiểu để tiếp thu, biểu
hiện văn hoá dân tộc một cách tốt hơn, hiểu để nuôi dưỡng cho “dòng sinh
mệnh văn hoá” [116, tr.26] của dân tộc mình thêm mạnh mẽ, phong phú trong
cuộc hội nhập quốc tế hôm nay.
1.4. Kho tàng tục ngữ người Việt với số lượng đồ sộ, cũng đã được
đề cập ở nhiều phương diện khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy
mảng tục ngữ người Việt với việc phản ánh tri thức dân gian về văn hoá nông
nghiệp chưa thực sự được quan tâm nhiều. Với lý do trên việc nghiên cứu đề
tài “Tục ngữ người Việt với việc phản ánh tri thức dân gian” là một việc làm
cần thiết. Với đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ có sự đóng góp trong việc
giảng dạy, nghiên cứu sâu về tục ngữ ở những khía cạnh mới, góp phần vào
công tác bảo tồn tục ngữ truyền thống và sưu tầm tục ngữ hiện đại.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
người Việt với việc phản ánh tri thức dân gian về văn hoá nông nghiệp cũng
chưa được giáo trình đề cập đến nhiều [119, tr.188].
Chúng tôi cho rằng trong cuốn Văn học dân gian (in lần đầu năm 1972,
1973, in lần hai 1977, in lần ba 1991), tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân
Diên đã đề cập phần nào đến vấn đề tục ngữ người Việt với việc phản ánh tri
thức dân gian về văn hoá nông nghiệp. Điều đó tác giả đã thể hiện trong việc
phác thảo ở nội dung cơ bản của tục ngữ. Thứ nhất tục ngữ về lao động sản
xuất được nảy sinh trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên của nhân dân lao
động. Thứ hai những kinh nghiệm được đúc kết trong tục ngữ, dần dần được
phổ biến rộng rãi và trở thành tri thức khoa học tự nhiên của nhân dân lao
4
động. Thứ ba tục ngữ nói về các hiện tượng thời tiết thể hiện sự nhận xét tinh tế
của người nông dân Việt Nam. Trong kho tàng tục ngữ nói về kinh nghiệm và
kỹ thuật như trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá thì tục ngữ nói về làm ruộng chiếm
đa số.
Trong quá trình triển khai các luận điểm, tác giả đã nêu lên nhận xét:
Những tri thức về sản xuất của nhân dân mới ở trình độ những kinh nghiệm
thực tiễn, chưa nâng lên thành kiến thức khoa học lý luận vững vàng. Một số
kinh nghiệm phản ánh chính xác quy luật của giới tự nhiên, nhưng phần lớn
chỉ là biểu hiện cụ thể của những quy luật diễn ra ở từng địa phương, trong
từng thời gian nhất định. Đồng thời các tác giả đã khẳng định tục ngữ phát
triển, biến đổi theo sự phát triển của trình độ kỹ thuật sản xuất, xã hội. Vì
vậy mà sau Cách mạng tháng Tám, những câu tục ngữ mới ra đời đã phản
ánh được phần nào cuộc cách mạng khoa học ở nước ta. Như vậy đây cũng
là một cuốn giáo trình ít nhiều đã đề cập đến vấn đề tục ngữ và văn hoá nông
nghiệp [72, tr.243].
Hoàng Tiến Tựu trong công trình Văn học dân gian Việt Nam (1990)
tập II, đã đưa ra định nghĩa về tục ngữ, phân biệt tục ngữ với các hình thức
gần gũi khác. Tác giả không đi vào công việc giới thiệu miêu tả nội dung của
Như vậy qua giáo trình, các tác giả đã đề cập đến nội dung phản ánh
của tục ngữ, tri thức dân gian về văn hoá nông nghiệp trong tục ngữ, nhưng
mới chỉ dừng lại ở sự khơi nguồn, chưa đi sâu vào vấn đề cụ thể. Một số tác
giả như Hoàng Tiến Tựu, Lê Chí Quế không đi vào trình bày nội dung mà chủ
yếu đi vào đánh giá, nhận xét về những nội dung được phản ánh trong tục
ngữ. Nhưng thực sự những vấn đề được các giáo trình đề cập là những gợi mở
6
rất lớn để chúng tôi tiếp tục khám phá tìm tòi tục ngữ người Việt với sự phản
ánh tri thức văn hoá dân gian về văn hoá nông nghiệp.
3.2. Các chuyên luận, công trình nghiên cứu
Từ trước tới nay đã có khá nhiều chuyên luận viết về tục ngữ. Có
chuyên luận chủ yếu viết về nội dung, có chuyên luận chủ yếu viết về nghệ
thuật. Những chuyên luận như: Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp của tác
giả Nguyễn Thái Hoà, hay Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam của tác giả
Phan Thị Đào chủ yếu là bàn về nghệ thuật… Đề tài tục ngữ người Việt phản
ánh tri thức dân gian về văn hoá nông nghiệp có đề cập đến một vài phương
diện nghệ thuật nhưng cơ bản là thiên về nội dung tục ngữ, chính bởi vậy mà
chúng tôi tập trung khảo sát các chuyên luận nghiên cứu chủ yếu về nội dung.
Trước tiên là cuốn sách Tiếng nói của đồng ruộng, ra đời 1949 của tác
giả Nguyễn Trọng Lực [105]. Cuốn sách này đã đề cập đến một số vấn đề về
tri thức trong tục ngữ. Tác giả đã chia những câu ca dao, tục ngữ làm nhiều
nhóm. Nhóm nói về công việc đồng áng của người dân quê. Nhóm nói riêng về
từng hoạt động của người làm nông nghiệp. Nhóm nói về thiên văn khí hậu,
thời tiết để người dân biết điều khiển công việc đồng áng mà không cần phải có
các máy móc tinh xảo. Tất cả các nhóm đó phần nào đã đề cập đến vấn đề tục
ngữ người Việt với việc phản ánh tri thức dân gian về văn hoá nông nghiệp.
Đặc biệt trong nhóm tục ngữ nói về thời tiết khí hậu đối với công việc canh
nông, tác giả đã khẳng định: Người làm ruộng theo lối cổ truyền cho nên mọi
việc đều theo tập quán hay kinh nghiệm của ông cha để lại từ đời này sang đời
phản ánh. Ở đó có những kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân trong lao động,
trong cuộc sống cộng đồng, trong đấu tranh giai cấp và dân tộc.
8
Qua việc phân tích một số câu tục ngữ tiêu biểu, tác giả đã rút ra kết
luận lối nghĩ bằng tục ngữ là lối nghĩ dựa vào kinh nghiệm. Tri thức dân
gian trong tục ngữ là tri thức kinh nghiệm. Trong các thể loại sáng tác dân
gian, tục ngữ là thể loại diễn đạt được một cách trực tiếp đầy đủ kinh
nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử của nhân dân lao động nước ta thời
xưa. Lối nghĩ bằng tục ngữ, tuy về cơ bản là lối nghĩ dựa vào kinh nghiệm,
nhưng đã có mầm mống của tư duy khoa học, tư duy lý luận. Những tư duy
ấy được thể hiện trong một hình thức ngôn ngữ cực kỳ súc tích.
Với chương Tri thức dân gian [44, tr.171], tác giả Nguyễn Đổng Chi
trong trong cuốn Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, đã dành khoảng 120
trang để viết về tri thức dân gian Nghệ Tĩnh, nó nằm trong tổng thể của tri thức
tục ngữ về văn hoá nông nghiệp nói chung. Trong công trình này, phần một tác
giả đã bàn về thiên văn, thuỷ văn dân gian, dự đoán về mưa, về gió, bão lụt
Phần hai, tác giả đề cập đến địa lý dân gian, hình thế đất đai, thổ sản nghề nghiệp
về tính cách con người, thanh điệu ngôn ngữ. Phần thứ ba, tác giả trình bày về kỹ
thuật dân gian như trồng trọt, chăn nuôi, kỹ thuật thủ công đan lát, may vá, đi
biển. Phần bốn, tác giả nói về y dược dân gian. Phần năm là sử dân gian. Phần
sáu là triết lý dân gian. Trong phần nói về thiên văn và thuỷ văn dân gian, tác
giả đã khẳng định: Người nông dân Nghệ Tĩnh đã thấy được quan hệ nhân
quả giữa hiện tượng khí hậu với đời sống thực vật, động vật và thường theo
dõi những phản ứng của chúng trước sự thay đổi của thời tiết, dự kiến mưa
nắng để làm nông vụ. Họ đã tích luỹ được nhiều tri thức về thiên văn, thuỷ
văn và thường đặt thành câu có vần, có khi là bài ca để lưu truyền. Trong
phần trình bày về kỹ thuật dân gian tác giả Nguyễn Đổng Chi đã nhận thấy:
Điều đầu tiên mà người xứ Nghệ quan tâm chính là việc để giống. Cách hái
các thứ hạt để làm giống được trình bày khá cặn kẽ.
10
đến năng suất mùa màng. Cần phải biết những đặc điểm của thời tiết và khí
hậu địa phương thì mới chủ động tận dụng được những mặt thuận lợi và hạn
chế những mặt bất lợi. Từ đó có kế hoạch cải tạo, điều chỉnh khí hậu theo
hướng có lợi cho sản xuất và đời sống. Những dự đoán theo kinh nghiệm có
nhiều điểm phù hợp với lý luận khoa học sẽ có một tác dụng nhất định trong
việc đấu tranh với những điều kiện bất lợi của thiên nhiên để bảo vệ đời sống,
sản xuất. Mây, mưa, gió, dông, ráng… là một trong những yếu tố thời tiết có
ý nghĩa quyết định trong công tác nông nghiệp. Vì thế mà những yếu tố đó rất
được quan tâm chú ý.
Từ những hiện tượng thực tế, tác giả đi đến những kết luận: Ca dao tục
ngữ của dân tộc ta nói về khí tượng có một giá trị nhất định về mặt khoa học.
Nó chứng tỏ rằng: Trong thực tiễn lao động sản xuất đấu tranh gian khổ với
thiên nhiên, dân tộc ta đã có một nhận thức tương đối vững vàng về quy luật
khí hậu và thời tiết. Những câu ca dao tục ngữ mà tác giả trình bày, được vận
dụng tương đối phổ biến ở các vùng nông thôn và duyên hải nước ta để đoán
thời tiết. Nhưng việc vận dụng ca dao tục ngữ để dự đoán thời tiết phải có sự
phân tích khoa học, chọn lọc và kiểm nghiệm nhiều trong thực tế và bằng các
số liệu quan sát khí tượng. Phải chú ý tới tính địa phương, tính quy luật theo
mùa, phải phân tích tổng hợp nhiều nguyên nhân gây nên một hiện tượng.
Tác giả Bùi Huy Đáp trong cuốn Ca dao tục ngữ với khoa học nông
nghiệp (1999) đã đi vào phân tích những câu tục ngữ về chủ đề đất đai và lao
động, thời tiết và mùa vụ nông nghiệp trong xã hội. Thông qua những câu tục
ngữ cụ thể, tác giả nhằm chứng minh cho một kho tàng kinh nghiệm về nông
nghiệp được đúc kết trong kỹ thuật sản xuất. Ở chuyên luận này, tác giả đã
đưa ra những nhận xét về cây trồng, vật nuôi và hoàn cảnh sản xuất về mùa
vụ, thời tiết và cả vị trí của nông nghiệp trong đời sống kinh tế xã hội nước ta
từ hàng vạn năm trước.
11
nông nghiệp.
3.3. Nhóm các bài nghiên cứu
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khoa nghiên cứu văn học
dân gian nước ta chưa ra đời. Chỉ đến khi Cách mạng tháng Tám thành
công, đặc biệt là sau hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn
toàn giải phóng, trong khung cảnh ổn định các nhà nghiên cứu có điều kiện
cần thiết xây dựng bộ môn khoa học về văn học dân gian. Từ cuối những
năm 1950 việc giảng dạy văn học dân gian một cách hệ thống được triển
khai ở bậc đại học, đến những năm 70 của thế kỷ XX phương pháp nghiên
cứu văn học dân gian đã có những bước trưởng thành rõ rệt. Chính vì lẽ đó
mà một loạt các bài nghiên cứu về tục ngữ cũng đã được ra đời. Trong số
những bài nghiên cứu các tác giả cũng phần nào đã đề cập tới nét văn hoá
nông nghiệp được thể hiện trong tục ngữ.
3.3.1. Viết về tự nhiên thời tiết, kỹ thuật trồng cấy, chăn nuôi
Tác giả Hoàng Hữu Triết trong bài viết: "Tìm hiểu về giá trị của tư duy
triết học duy vật trong tục ngữ cao dao Việt Nam"(1997) đã khẳng định:
Trong thực tiễn sản xuất, ông cha ta đã tích luỹ được nhiều kiến thức về thiên
nhiên thời tiết (khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, động vật thực vật…). Những
kiến thức này là những viên gạch đầu tiên xây nền cho các ngành khoa học tự
nhiên của dân tộc. Điều đó cũng phù hợp với nhận định của chủ nghĩa Mác
khoa học được bắt nguồn từ khái niệm lao động [180, tr.73].
Nguyễn Quốc Siêu (1997) trong bài viết: "Qua một câu tục ngữ viết về
thời tiết", tác giả giải thích câu tục ngữ "Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời
mưa". Người viết đã đưa ra kinh nghiệm: Khi giải thích những câu tục ngữ về
13
thiên nhiên cần phải liên hệ đối chiếu với hiện tượng. Từ sự giải thích về cách
hiểu đúng câu tục ngữ, chúng ta sẽ vững tin vào những kinh nghiệm của cha
ông để từ đó có thể ứng dụng hữu hiệu trong lao động sản xuất [146, tr.12].
Tác giả Trần Quang Nhật (1997) trong bài viết "Con trâu đi vào tục
thích hợp với nền nông nghiệp hiện đại của chúng ta hôm nay [16, tr.15].
Tác giả Đỗ Kim Liên (2006) trong bài viết "Trường ngữ nghĩa về cây
lúa và các sản phẩm từ lúa phản ánh đặc trưng văn hoá lúa nước trong tục
ngữ người Việt", đã đi vào tìm hiểu ngữ nghĩa của các phát ngôn tục ngữ phản
ánh văn hoá lúa nước. Tác giả đã đưa ra những số liệu cụ thể trong việc khảo
sát. Trong tục ngữ Việt Nam chọn lọc của Vương Trung Hiếu với 96 chủ đề,
và 2400 phát ngôn tục ngữ, tác giả đã thống kê có đến 446 phát ngôn chứa các
từ ngữ xuất hiện thành trường đề cập đến cây lúa và sản phẩm cây lúa cũng
như kinh nghiệm trồng lúa. Trong cuốn Kho tàng tục ngữ Việt Nam, do
Nguyễn Xuân Kính chủ biên, trong số 9000 phát ngôn có 609 phát ngôn viết
về cây lúa. Con số này nói lên người Việt trồng lúa và canh tác lúa nước từ
lâu đời, để lại dấu ấn qua lớp từ ngữ, chúng phản ánh nền văn hoá lúa nước
của người Việt. Tác giả đã tìm hiểu ngữ nghĩa của các phát ngôn tục ngữ phản
ánh văn hoá lúa nước như: Các từ gọi tên cây lúa và sản phẩm từ cây lúa, các
từ gọi tên thực phẩm chế biến từ hạt lúa, các từ gọi tên các thời kì phát triển
của cây lúa, các từ gọi tên thời tiết, thời vụ gắn với việc trồng lúa, các từ gọi
tên kinh nghiệm trồng lúa và canh tác lúa nước, các từ gọi tên giá trị hàng hoá
lấy thóc lúa làm đơn vị so sánh. Khảo sát các phát ngôn tục ngữ Việt, tác giả
đi đến kết luận: Đây là những từ ra đời từ sớm, đa số đơn tiết, phản ánh đặc
thù văn hoá lúa nước của người Việt khá rõ mà qua nhiều biến đổi của thời
15
gian, chúng được lưu giữ như những nhân chứng in đậm dấu ấn lịch sử [96, tr.
34].
3.3.2. Nhóm bài nghiên cứu viết về tục ngữ với vấn đề ăn uống
Nói đến vấn đề ăn uống cũng là nói đến cách ứng xử của con người với
sản phẩm nông nghiệp. Khi viết về vấn đề này đáng chú ý là bài viết của tác
giả Nguyễn Xuân Kính "Qua tục ngữ ca dao tìm hiểu sự sành ăn khéo mặc
của người Thăng Long Hà Nội" (1990). Ở bài viết này, tác giả đã đề cập đến
hai nét văn hoá ăn và mặc rất đặc trưng của người Hà thành. Từ đó tác giả đã
những đối tượng cần được giữ gìn và phát huy. Bởi vì tục ngữ không chỉ là
một kho tàng kinh nghiệm sống, mà còn là ngữ nghệ (Nghệ thuật ngôn ngữ)
của dân tộc. Rất nhiều câu đã trở thành mẫu mực của ngôn ngữ văn học. Tác
giả cho rằng muốn cho lời nói, câu văn của chúng ta ngày nay có được cái
dáng điệu, bản sắc, cái chất Việt Nam thì mỗi người chúng ta không thể
không trau dồi sự hiểu biết về vốn liếng tục ngữ dân tộc [36, tr.58].
Bùi Văn Nguyên trong bài "Sức sống dân tộc và tục ngữ Việt Nam"
(1983), tiếp tục khẳng định những giá trị của tục ngữ. Tục ngữ Việt Nam có
màu sắc Việt Nam, mang tiếng nói, vần nhịp thơ ca Việt Nam, đậm đà tâm hồn
Việt Nam, in sâu trí tuệ Việt Nam từ thuở rạng đông của loài người. Tục ngữ
đã thể hiện được một vùng đất nước với sức sống kỳ diệu và phi thường nơi
cửa ngõ Đông Nam Á. Tục ngữ ấy không riêng gì là vốn quý của dân tộc ta,
mà còn là thành tố đáng kể trong kho tàng văn hoá thế giới hiện nay [118,
tr.88].
Trong bài viết "Đạo lý và thi pháp dân gian trong tục ngữ Việt Nam"
(1985), tác giả Hồ Tôn Trinh dưới góc độ thi pháp đã cho rằng: Khi nói đến tục
17
ngữ là nói đến một hình thức phán xét, đề xuất "một đạo lý". Đó là những kinh
nghiệm thu thập được trong cuộc sống, và được tổng hợp, khái quát hoá bằng
một số từ theo những quy tắc nào đó, nhằm khẳng định hay phủ định và cuối
cùng là để truyền bá, để răn dạy một điều gì đó trong cuộc sống [184, tr.13].
Với bài viết "Đạo lý trong tục ngữ" (1987), tác giả Nguyễn Nghĩa Dân
đã khẳng định: Nhân sinh quan, đạo lý tồn tại trong thể loại tục ngữ một cách
đặc sắc. Nó đề cao phạm trù tập thể, phạm trù trí tuệ, tri thức được xếp cao
hơn nhiều phạm trù khác như của cải, địa vị, số lượng…, đề cao những phạm
trù biểu hiện giá trị tinh thần như đạo đức, ân nghĩa, trung thực… Trong cuộc
sống, tục ngữ luôn đề cao quan hệ tốt với lân bang, xóm giềng… [30, tr.58].
Tác giả Vũ Quang Hào trong bài viết "Thành ngữ, tục ngữ cũ với lớp
người mới" (1993) đã khẳng định nội dung của tục ngữ cần phải được hiểu
nhân sinh quan truyền thống thì tục ngữ kinh nghiệm có mục đích thuần tuý
phổ biến tri thức thông thường và truyền thụ kinh nghiệm về mục đích sản
xuất. Trong tục ngữ kinh nghiệm tác giả đã đề cập đến những câu tục ngữ mới
về văn hoá nông nghiệp. Người nông dân tập thể đi lên sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa với đòi hỏi ngày một lớn về trình độ quản lý và kỹ thuật canh tác
mới đã lấy khẩu hiệu Sản xuất là khoá, văn hoá là chìa làm phương châm xây
dựng nông thôn trong giai đoạn mới [106, tr.102].
Tác giả Trần Gia Linh liên tiếp có những bài báo viết về thể loại tục
ngữ mới, bài đầu tiên là "Những biến đổi quan trọng của thể loại tục ngữ
trong thời đại mới" (1991). Trong bài viết này, tác giả đã khẳng định những
vấn đề quan trọng của tục ngữ mới. Tục ngữ mới đã sử dụng tục ngữ cổ
truyền gắn với việc thông tin những tư tưởng cách mạng, tục ngữ xuất hiện