ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÁI PHƢƠNG THẢO TỤC NGỮ NGƢỜI VIỆT VỚI VIỆC PHẢN ÁNH TRI
THỨC DÂN GIAN VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS .TS Nguyễn Xuân Kính Hà Nội, 2013
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
QUY ƢỚC TRèNH BÀY 5
1. Kớ hiệu viết tắt 5
2. Về xuất xứ tài liệu 5
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiờn cứu vấn đề 7
3. Giới thuyết một số khỏi niệm 9
4. Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu 10
5. Đối tƣợng nghiờn cứu 10
6. Phƣơng phỏp nghiờn cứu 11
7. Bố cục của luận văn 11
Chƣơng 1. 12
Chƣơng 3. 70 SO SÁNH CÁC BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUA MẢNG ĐỀ TÀI VỀ THẾ
GIỚI TỰ NHIấN VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI 70
3.1. Xột về mặt nghĩa. 70
3.1.1. Nghĩa của những cõu tục ngữ phản ỏnh tri thức về thế giới tự nhiờn 71
3.1.2. Nghĩa của những cõu tục ngữ phản ỏnh tri thức về cỏc mối quan hệ xó hội 73
3.2. Xột về mặt cấu trỳc 77
3.2.1. Cấu trỳc của những cõu tục ngữ phản ỏnh thế giới tự nhiờn 78
3.2.2. Cấu trỳc của những cõu tục ngữ phản ỏnh cỏc mối quan hệ xó hội 80
3.3. Xột về cỏch gieo vần và nhịp điệu 82
3.3.1. Về cỏch gieo vần : 82
3.3.2. Nhịp điệu : 85
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tục ngữ đƣợc coi là cái “túi khôn” hay hơn thế, là kho báu trí tuệ của
nhân dân. Túi khôn hay kho báu trí tuệ ấy mang tính thực hành, biết để làm,
biết để sửa đổi những sai lầm, những lệch lạc mắc phải.
Tục ngữ đƣợc chia làm 3 loại cơ bản đó là: kinh nghiệm giúp cho ngƣời ta
làm theo, biết định hƣớng công việc và dạy cho con ngƣời biết phân biệt thiệt
hơn, phải trái để sống tốt hơn giữa ngƣời với ngƣời. Đọc tục ngữ ta thấy
muôn mặt của cuộc sống đƣợc phản ánh một cách sinh động, đầy đủ, tỉ mỉ.
1.2. Tục ngữ Việt phản ánh đời sống của các giai cấp và các tầng lớp nhân
dân khác nhau chủ yếu là nhân dân lao động và tình hình đấu tranh giai cấp,
đấu tranh chống áp bức bóc lột của nhân dân trong xã hội phong kiến [5,
tr.250]. Tục ngữ đúc rút mọi kinh nghiệm của nhân dân trong mọi lĩnh vực
của đời sống vật chất cũng nhƣ tinh thần. Nó mang những yếu tố tƣ tƣởng
triết học của cha ông. Giá trị lớn nhất của tục ngữ là những kinh nghiệm sống,
cách sống giữa ngƣời với ngƣời trong xã hội cũng nhƣ cách ứng dụng của con
ngƣời với thế giới xung quanh. Ngƣời nông dân xét đoán con ngƣời qua cách
ứng xử, thái độ ăn ở trong gia đình, bạn bè cũng nhƣ ngoài xã hội nhằm giữ
gìn những truyền thống văn hoá quý giá của dân tộc. Nó phản ánh đầy đủ
những đức tính của con ngƣời Việt với lòng nhân ái, tính vị tha và tinh thần
đấu tranh chung.
Ngƣời nông dân ấy còn biết trông trời, trông đất, dự đoán thời tiết để tìm
cách ứng phó kịp thời với sự thay đổi bất thƣờng của thiên nhiên và từ đó
chinh phục thiên nhiên và vũ trụ. Tất cả những điều ấy đã góp phần giải thích
sức mạnh của ngƣời Việt và những thắng lợi vẻ vang trong cuộc đấu tranh
quá trình đấu tranh với tự nhiên của nhân dân lao động cũng nhƣ cách ứng xử
của con ngƣời trong xã hội cũ.
Năm 1973, Hoàng Hữu Triết trong bài “Bƣớc đầu tìm hiểu về khí tƣợng
dân gian Việt Nam đã nghiên cứu ca dao tục ngữ nói về khí hậu, thời tiết
trong năm ở nƣớc ta qua các mùa.
Năm 1975, nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn Đang, Phƣơng Tri
trong cuốn “Tục ngữ Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội đã đề cập đến một số
vấn đề quan hệ xã hội, gia đình trong tục ngữ và việc quan sát tự nhiên. Tác
giả đã khẳng định tục ngữ Việt biểu hiện lối sống thời đại và lối nghĩ của
nhân dân cũng nhƣ khẳng định và phản ánh các mối quan hệ với thiên nhiên
và quan hệ xã hội đƣợc điểm xuyết một cách sơ lƣợc.
Trong bài viết “Đạo lý và thi pháp dân gian trong tục ngữ Việt Nam” của
tác giả Hồ Tôn Trinh trên tạp chí Văn hoá dân gian, số 2 năm 1985 đã chỉ ra
kinh nghiệm thu thập trong cuộc sống đƣợc tổng kết và khái quát hoá bằng
một số từ theo quy tắc nhằm khẳng định và phủ định từ đó để truyền bá và răn
dạy một điều gì đó.
Năm 1987, trên tạp chí văn học số 5, Nguyễn Đức Dân đã nghiên cứu
“Đạo lý trong tục ngữ” đã đƣa ra những phƣơng pháp nghiên cứu tục ngữ để
xác định đạo lý nhân sinh quan của ngƣời Việt thể hiện trong tục ngữ.
Năm 2002, phần sƣu tầm trong công trình “Kho tàng tục ngữ ngƣời Việt”
do tác giả Nguyễn Xuân Kính chủ biên cùng nhóm biên soạn, nhà xuất bản
Văn hoá thông tin, trong đó, vấn đề tục ngữ phản ánh thế giới tự nhiên và các
mối quan hệ xã hội đƣợc thể hiện đầy đủ và rõ ràng.
Ngô Thị Thanh Quý trong cuốn “Tìm trong tục ngữ nét văn hoá Việt” in
năm 2010 đã chỉ ra nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của bộ phận cƣ dân lúa
nƣớc nhiều nhất trên đất Việt đƣợc đặt ra trong những mối liên hệ hệ thống. Nhìn chung, đã có một số công trình, tài liệu nghiên cứu về sự phản ánh
quan hệ tự nhiên và xã hội trong tục ngữ ngƣời Việt, song chƣa có ai dành
thống phƣơng pháp nhận thức và cải tạo thế giới, là hệ thống giá trị để con
ngƣời đánh giá và điều chỉnh hành vi trong hoạt động của mình.
3.5. Mối quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội là những quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đƣợc hình thành
trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tƣ tƣởng, đạo
đức, văn hóa, v.v…
Quan hệ xã hội đƣợc hình thành từ tƣơng tác xã hội. Những tƣơng tác này
không phải là ngẫu nhiên, mà thƣờng phải có mục đích, có hoạch định.
Những tƣơng tác này phải có xu hƣớng lặp lại, ổn định và tạo lập ra một mô
hình tƣơng tác.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu việc phản ánh tri thức dân gian về thế giới tự nhiên và mối
quan hệ xã hội trong tục ngữ.
- Thống kê, so sánh và đƣa ra nhận xét các biện pháp nghệ thuật thể
hiện qua hai bộ phận tục ngữ phản ánh thế giới tự nhiên và phản ánh các mối
quan hệ xã hội.
5. Đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi sử dụng tƣ liệu
Cuốn “Tục ngữ Việt Nam” do nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lƣơng Văn
Đang, Phƣơng Tri biên soạn năm 1975, Nhà xuất bản khoa học Xã hội.
- Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Thế giới tự nhiên và các mối quan hệ xã hội đƣợc phản ánh trong tục ngữ. 6. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ:
- Thống kê
- Diễn dịch
- Quy nạp
- So sánh
Tục ngữ nói về hiện tƣợng thời tiết thể hiện óc nhận xét tinh tế của nhân
dân Việt Nam. Từ đó có một cái nhìn đầy đủ về thế giới tự nhiên và tìm cách
ứng phó kịp thời, cải tạo và chinh phục thiên nhiên
1.1.1. Dự đoán thời tiết qua việc chiêm nghiệm những triệu chứng báo
trước của thiên nhiên
Đã từ lâu thiên nhiên là đối tƣợng không thể tách rời với cuộc sống lao
động và sinh hoạt của con ngƣời. Việc sản xuất nông nghiệp luôn gắn chặt với
từng sự thay đổi của thiên nhiên. Vì vậy, việc khám phá và tìm hiểu một cách
cụ thể, chính xác tự nhiên để từ đó con ngƣời có những cách ứng xử, biến đổi
và cải tạo thiên nhiên nhằm phát triển cuộc sống của mình ở mức cao hơn.
Ngƣời Việt từ đó có thể cùng chung sống với thiên nhiên mà không hề bị lệ
thuộc vào nó, thông qua những công việc hàng ngày con ngƣời đã quan sát, đúc kết cho mình và những thế hệ đời sau những kinh nghiệm và bài học vô
cùng quý báu để con ngƣời có thể ứng dụng một cách linh hoạt và sáng tạo
trong cuộc sống của mình ở từng thời kỳ và thời điểm khác nhau.
Thời tiết luôn là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến năng
suất và sản lƣợng cây trồng và vật nuôi. Nếu không nắm bắt đƣợc những quy
luật của thời tiết thì dù ngƣời lao động có bỏ ra công sức bao nhiêu cũng
không thể thu về lợi ích cho mình. Và vì thế, từ buổi bình minh của loài
ngƣời, ngƣời Việt đã đúc kết ra những kinh nghiệm dự báo thời tiết cho mình
dựa trên những yếu tố nhƣ chiêm nghiệm bằng thời gian, những triệu chứng
báo trƣớc của thiên nhiên, qua việc quan sát động thực vật để từ đó ứng dụng
và ứng phó với tự thay đổi của thiên nhiên để canh tác nông nghiệp, phát triển
sản xuất.
Trƣớc hết, những câu nói ấy ban đầu là câu nói của một cá nhân trong
cộng đồng. Rồi từ đó, nó đƣợc đúc kết kiếm chứng rồi chuyển từ ngƣời này
sang ngƣời khác, nó đã trở thành câu nói của cả cộng đồng ngƣời, là tri thức
không thể thiếu trong đời sống lao động của con ngƣời Việt.
những bài học kinh nghiệm đúc rút từ muôn đời mà cho đến nay điều đó vẫn
hoàn toàn đúng và có giá trị. Bốn mùa trong năm ứng với những hiện tƣợng
thời tiết khác nhau.
“Đầu năm sƣơng muối, cuối năm gió bấc (nồm, đông).”
Hay:
“Mùa đông mƣa dầm gió bắc, mùa hè mƣa to gió lớn,
mùa thu sƣơng sa nắng gắt.”
Mùa đông gắn liền với hiện tƣợng giá rét, mùa hè oi nóng nắng và
thƣờng có mƣa nhiều.
“Mùa đông chết se, mùa hè chết lụt.” Hiện tƣợng thời tiết mƣa cũng thƣờng xuất hiện và khác nhau ở mỗi
mùa.
“Tháng ba mƣa đám, tháng tám mƣa cơn.”
Các hiện tƣợng thiên nhiên còn thay đổi theo thời gian trong một ngày.
“Sáng ƣớt áo, trƣa ráo thóc.”
Hay:
“Sáng mƣa, trƣa tạnh.”
Các hiện tƣợng thời tiết nhƣ thế thƣờng là kiểu hiện tƣờng thời tiết
thƣờng thấy ở khu vực miền bắc nƣớc ta đặc biệt là ở khu vực đồng bằng
sông Hồng và sông Thái Bình.
Hiện tƣợng mƣa là kiểu thời tiết đƣợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong
tục ngữ và gần nhƣ mỗi tháng, mỗi mùa, kiểu hiện tƣợng thời tiết này lại có
sự biến đổi dễ nhận thấy.
“Mùa đông mƣa dầm gió bắc, mùa hè mƣa to gió lớn,
mùa thu sƣơng sa nắng gắt.”
Dựa vào các tháng:
“Tháng ba mƣa đám, tháng tám mƣa cơn”
“Tháng chín mƣa rƣơi, tháng mƣời mƣa cũ”
sát chúng, dự báo dựa vào những triệu chứng báo trƣớc của thiên nhiên.
Trƣớc tiên đó là kiểu thời tiết mƣa. Hiện tƣợng này đƣợc ngƣời bình
dân đề cập bởi nó là yếu tố quyết định đến đƣợc mùa hay mất mùa của sản
xuất. Có mƣa mới có nƣớc cày bừa, cấy hái, chăm bón. Nhƣng mƣa quá nhiều
sẽ dẫn tới lũ lụt, sản xuất mất trắng mà mƣa quá ít sẽ dẫn tới hạn hán, ruộng
đồng khô nứt không canh tác đƣợc. Những hiện tƣợng báo hiệu trời mƣa đƣợc quan sát qua các kiểu hiện
tƣợng báo trƣớc nhƣ: mống, ráng, sấm, chớp, thâm, gió….
Hiện tƣợng “mống” đƣợc nhân dân quan sát với nhiều trạng thái và vị
trí. Kinh nghiệm cho thấy: hễ khi nào có mống thì nhất định sẽ có mƣa thậm
chí có lụt.
“Mống cao gió táp, mống rạp mƣa dầm.”
“Mống cao gió táp, mống áp mƣa rào.”
Khi trời có mống vàng và trắng thì kiểu thời tiết khác nhau. Mống trắng
thì có mƣa còn mống vàng thì không thể.
“Mống vàng trời nắng, mống trắng trời mƣa”.
Ngay cả việc mống xuất hiện ở vị trí nào cũng là đặc điểm để báo trƣớc
cơn mƣa và sự nặng nhẹ của nó
“Mống đông vồng tây, chẳng mƣa dây cũng bão giật.”
Khẳng định khả năng quan sát và óc nhận xét tinh tế của ngƣời bình
dân còn cho ta biết đƣợc khi nào có lũ lụt còn khi nào có mƣa bình thƣờng
dựa vào việc quan sát mống.
“Mống dài thời lụt, mống cụt trời mƣa.”
Rõ ràng, bằng việc quan sát ấy đã giúp cho việc cày cấy, chăm sóc và
phát triển sản xuất của ngƣời dân một cách thuận lợi và dễ dàng hơn. Ngƣời
dân từ đó cũng biết cách đề phòng phản ứng trƣớc những thay đổi thất thƣờng
của thời tiết.
Ngoài hiện tƣợng mống thì hiện tƣợng “ráng” cũng báo trƣớc những
Hay:
“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mƣa.”
“Vàng mây thời gió, mây đỏ thời mƣa.”
Dựa vào các ngôi sao: “Mau sao thì nắng, vắng sao thì mƣa.”
“Một ngôi sao, một ao nƣớc.”
Rõ ràng rằng, theo kinh nghiệm của dân gian, khi mặt trăng có quầng
thì trời sẽ hạn hán, có tán tản ra bên ngoài thì trời sẽ có mƣa. Hay khi có mây
xanh thì trời nắng, mây trắng thì trời sẽ đổ mƣa. Cũng căn cứ vào kiểu thời
tiết này thì cứ trời có ít sao thì sẽ có mƣa lớn, nhiều sao thì không mƣa mà có
nắng to. Dựa theo đó mà ngƣời dân sẽ biết phải phòng chống thiên tai, lũ lụt,
hạn hán nhƣ thế nào và nhắc nhở mọi ngƣời trong việc trồng cây, hoa màu và
con giống để có thể có đƣợc năng suất cao khi gặp phải những thay đổi bất
thƣờng. Từ những kinh nghiệm trông trời, trông đất này mà ngƣời dân đã có
đƣợc những kinh nghiệm trong gieo trồng, chăn nuôi, giúp họ biết trƣớc đƣợc
sẽ đƣợc hay mất mùa.
Ngay từ buổi bình minh con ngƣời đã khẳng định đƣợc khả năng về trí
tuệ của mình. Những kinh nghiệm ấy xét trên lĩnh vực khoa học thì nó chỉ là
việc dự báo thời tiết một cách đơn thuần nhƣng xét trên một góc độ khác thì
đó là cả cách nhìn, nhận xét, đánh giá, nhận xét tinh tƣờng của thế hệ trƣớc
mà cho tới ngày nay nó vẫn còn nguyên vẹn giá trị. Nó thể hiện cách nhìn,
cách cảm, cách nhận biết của ngƣời nông dân về hiện tƣợng diễn ra quanh
mình.
1.1.2. Dự đoán thời tiết qua việc quan sát động vật
Ngƣời xƣa đã có câu
“Kiến dọn tổ, trời mƣa.”
Hay:
“Cóc nghiến răng đang nắng thì mƣa.”
“Quạ tắm thì nắng, sáo tắm thì mƣa.” Hay:
“Én bay thấp, mƣa ngập cầu ao.”
“Én bay cao mƣa rào lại tạnh.”
Ngƣời nông dân trong quá trình làm việc đã rút ra đƣợc những kinh
nghiệm quý báu cho mình. Khi làm việc trên đồng ruộng họ nhìn thấy những
hiện tƣợng thƣờng xuyên diễn ra và đúc rút đƣợc những kinh nghiệm quý báu
ấy. Loài vật có mối quan hệ mật thiết với việc sản xuất của ngƣời dân. Từ đó,
họ dựa vào những loài vật ấy để dự báo thời tiết nhằm sản xuất cho kịp thời
vụ tránh đƣợc những thiệt hại cho việc chăm bón và nuôi trồng. Kinh nghiệm
ấy là những bài học không thể nào thiếu đƣợc trong việc sản xuất của ngƣời
dân.
1.1.3. Dự đoán thời tiết qua việc quan sát thực vật
Ngoài một số loài vật đƣợc nhân dân quan sát nhƣ là một đối tƣợng để
dự báo thời tiết, ngƣời nông dân còn căn cứ vào một số loài thực vật, cây cỏ.
Ngƣời nông dân ấy nhận biết một cách sâu sắc cần chú ý đến thời tiết, hiện
tƣợng mƣa nắng để có biện pháp ứng phó kịp thời trong sản xuất. Trong khi
không có các dụng cụ chuyên nghiệp để dự báo thì ngƣời nông dân chỉ có
biện pháp là căn cứ vào những dấu hiệu xung quanh mình.
Nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, rất thuận lợi cho
việc sinh trƣởng và phát triển của những loại động thực vật vì thế ngoài việc
căn cứ vào những loài động vật ngƣời dân còn dựa vào những loài thực vật có
những thay đổi nhạy cảm với các loại hiện tƣợng thời tiết. Một số loài thực
vật đƣợc nhân dân để ý đến nhiều có thể kể đến nhƣ cỏ gà, rễ si, lá tre ….
Trong đó, cây cỏ gà đƣợc nhắc đến nhiều hơn cả
“Trời đƣơng nắng cỏ gà trắng thì mƣa.”
“Cỏ gà màu trắng điềm nắng đã hết.”
nhiều thời kỳ, nhân dân ta đã tích lũy đƣợc những kinh nghiệm và tổng hợp
tƣơng đối chính xác diễn biến khí hậu trong cả năm. Những kinh nghiệm ấy
có phần phù hợp với khoa học và thực tiễn đã có những tác dụng nhất định
trong quá trình đấu tranh với thiên tai, đảm bảo sản xuất có kết quả.
1.2.1. Ứng dụng trong trồng lúa
Trong bộ phận câu tục ngữ nói về kinh nghiệm lao động thì phần lớn là
những câu tục ngữ nói về nghề trồng trọt, mà chủ yếu là nghề trồng lúa nƣớc.
Nhƣ chúng ta đã biết suốt thời kỳ phong kiến, lao động sản xuất của nhân dân
ta vẫn là sản xuất nông nghiệp. Cho tới ngày nay, nƣớc ta vẫn là một nƣớc
nông nghiệp, cƣ dân ngƣời Việt sinh sống chủ yếu trên dải đồng bằng sông và
đồng bằng ven biển. Vì thế, nghề trồng lúa nƣớc là một nghề chiếm ƣu thế.
Dựa vào các điều kiện tự nhiên sẵn có mà nhân dân ta đã biết áp dụng trong
lao động sản xuất để thu lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Điều này thể hiện rõ
ràng trong tục ngữ, nó đƣợc chứng minh bằng việc số lƣợng của những câu
tục ngữ nói về nghề trồng lúa chiếm đại đa số, trong đó mọi mặt của việc
trồng lúa nƣớc đều đƣợc đề cập một cách đầy đủ và rõ nét từ việc nhận thức
về đặc tính của những loại lúa khác nhau cho đến kinh nghiệm làm mạ, cày
bừa, cấy lúa và chăm bón… tất cả đều đƣợc thể hiện một cách đầy đủ và sinh
động trong tục ngữ của ngƣời Việt.
Trƣớc hết đó là những kinh nghiệm về nhận thức những đặc tính của
những loại lúa khác nhau ở Việt Nam.
“Lúa chiêm là lúa bất nghì, cấy trƣớc trổ trƣớc chẳng thì đợi ai.”
“Chiêm xấp xới, mùa đợi nhau.” “Lúa ré là mẹ lúa chiêm.”
“Lúa chiêm bóc vỏ, lúa mùa xỏ tay.”
“Chiêm cứng ré mềm.”
“Chiêm hơn chiêm sít, mùa ít mùa nở.”
Kinh nghiệm làm mạ
“Mạ úa thì lúa chóng xanh.”
Mạ đủ ngày đủ tháng cứng cây thì cấy xuống, lúa chóng bén rễ, chóng
lên. Muốn cho lúa trổ bông vào đúng thời gian thì phải gieo mạ vào thời
gian thích hợp. Việc gieo mạ cũng phải căn thời gian đúng, nếu không
cũng không thể có đƣợc mạ đẹp.
Gieo mạ phải căn vào thời gian là buổi trƣa trong ngày còn những thời
gian khác cũng không phải là thời gian tốt nhất để gieo:
“Ƣớp dƣa phải dằn đá, vãi mạ phải soạn trƣa.”
Trong vụ, thời gian xuống mạ là lúc:
“Lúa trỗ ngả mạ, vàng rạ thời mạ xuống dƣợc”
Sau khi đã xuống mạ lấy giống để cấy, ngƣời nông dân bắt đầu chăm
chút cho khu ruộng để chuẩn bị cấy lúa. Khâu cày bừa là khâu tiếp theo
nhƣng vô cùng quan trọng. Với ngƣời nông dân “Tấc đất tấc vàng” khi
khoa học còn chƣa phát triển thì ngƣời nông dân dùng chủ yếu là sức kéo
của động vật là chính để làm việc. Con vật luôn gắn liền với công việc cày
bừa của họ chính là con trâu. Hình ảnh con trâu đi vào cuộc sống lao động
nhƣ là một phần không thể thiếu đƣợc. Nó tạo nên hình ảnh biểu trƣng của
nền văn hóa lúa nƣớc nông nghiệp ở nƣớc ta. Họ quan niệm:
“Làm ruộng không trâu làm giàu không thóc.”
Họ cũng cho rằng “Cày sâu tốt lúa”, “ăn kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa”