fi
Jl
BO CIAO DUC VA DAO TAO
DAI HOC QUÓ'C GIÀ KÀ NÓI
TRirÒNG DAI HOC KHOA KCC XA HÒI VA NKÀW VÀÌ f
NGU;iH4 VM b/iZfCl
IviGUIi:: r'ò-A^
Ò
VI
0.4.3 Tình lYinh nghiên cứu đối chiếu tục Iisfr
Chương 1 .
14
NHŨNG NHẬN THÚC VỀ TỤC NGỮTL
BÌNH DIÊN NGỔN RGỬHOC
1. 1 Thế nho ]à tục ngữ ?
16
1.2 Tính phổ quát của tục nsữ
27
1.3 Một số đậc thù của tục nsữ
28
1.3.1 Tính dân tộc
28
1.3.2 Nghĩa của tục naff
2.1.1
Về thể xác
37
2.1.2 Về tinh thần
44
2.1.3 Về quan hệ giữa thểxác và t;nh thán
48
2.1.4 Về tính cá nhân
50
2.2
53
Về gia đình
2.2.1
Về thái độ đốivới phụ nữ
72
2.3.2 Về bạn bè và kmg ơiêna
78
2.3.3 Với nsười lớn tuổi và thầy giáo
79
2.3.4
Về đòi SỐI12 làng xã
81
2.3.5
Về pháp lv về quan ỉại
82
2.3.6
vể lao độns và Iiạhénshiệp
84
2.3.7
92
2.5 Nhặn xét chuns
94
2.6 Tiểu kết
98
Chương 3 .
ĐỚI CHIÊU TỤC NGỬVỈỆT - ANH
QUA MỘT SỐ BlỂư HIỆN VỀ TỪVỤNG - NGÌÍNGHĨA
VÀ CẤU TRÚC CÚ PHÁP
3.1
Về từ vựng ngữ nghĩa
3.1.1
Về danh từ chỉ các COI1 vật
3.1.2 Về từ khái quát chỉ nguùi
103
103
ỉ 07
3.2.2 Kết cấu càu phức hơD cân đối
120
3.2.3 Kêt cấu câu không chủ 112Ữ
122
3.2.4 Kết cấu càu chủ vị
124
3.2.5 Kết cấu câu đẳns thức
125
3.2.6 Kết cấu "choi chữ"
126
3.3
127
Tiểu kết
Chưong 4 .
ÚNG DỰNG Đ ối CHIÊU TỤC NGỮ
TÀI L]ỆƯ THAM KHẢO
151
MỞ ĐẦU
Giáo sư Chu Xuân Diên, nhà nghiên cứu tục ngữ Việt Nam, đã khẳng
định là việc nghiên cứu di sản tục ngữ dân tộc có liên quan mật thiết với
những nhiệm vụ phát triển xã hội và văn hoá hiện nay. [ 15; 18]
Tiến sĩ Denis Brutus, giáo sư văn học của Đại học tổng hợp
Pittsburgh, Mỹ, đã cụ thể hoá và mở rọng tính thực tiễn của việc tìm hiểu
tục ngữ: "Qua tục ngữ tôi biết được nhãn sinh quan của bạn, thái độ sống
của tổ tiên bạn. Mỗi lần tôi biết được một cau tục ngữ Việt Nam là tôi trở
thành người Vỉệt Nam thêm một ít. Tôi tin là một khi chúng ta biết được
hết tục ngữ của nhau, chúng ta sẽ là anh em." [Trao đổi cá nhân trên Đại
học Nổi của Mỹ, tháng 3/1995: "Through proverbs I know your points of
view, the attiitudes of you ancestors. Each time I know a new Vietnamese
0 '
proverb, I become Vietnamese a little. I believe when we know all
proverbs of each othertwe are brothers."]
Tục ngữ là một dạng ngôn ngữ được đúc kết cô đọng, mang nhiều đặc
trưng nêng của cộng đổng nhất. Hiểu biết về tục ngữ giúp chứrỊ-g ta hiểu rõ
hơn về một dân tộc và lời ãn tiếng nói của dân tộc đó. Không phải ngẫu
nhiên mà nghiên cứu tục ngữ người Nga, G.L. Permiakov, và Bun-ga-ri. A
Barulin, đã đưa ra nhận xét là người nước ngoài muốn sử dụng thành thạo
tiếng Nga và hiểu sâu người Nga phải nắm chắc một sô lượng tục ngữ Nga
tối thiểu 1.000 câu [16; 55].
Trong tinh thần hội nhập, giao lưu văn hoá của nước ta ngày nay,
chúng tôi tiếp cận một số vấn đề trong hệ ván đề nghiên cứu tục ngữ Việt
Bản thán tục ngữ ỉà đôì tượng của việc nghién cứu với các mặt : nội
dung, hình thức, nguồn gốc, v.v...
(1) Chúng tôi đi sáu phân tích, đối chiếu nội dung các chủ đề tục ngữ,
từ vựng - ngữ nghĩa và kết cấu câu của tục ngữ Việt và Anh.
(2) Thông qua đó tìm hiểu các đặc trưng văn hoá cũng như những
quan sát tinh tế về thiên nhiên và các loài vật, về con ngữời và xã hội - và
nhân sinh quan của hai dân tộc.
3
(3) Từ những tiền đề trên, chúng tôi cố gắng phát hiện các quan niệm
về hệ thống giá trị trường cửu đã tác động đến xã hội và quyết định hành
động của chúng ta trong thực tại cuộc sống. Một quan niệm có tính chất
phương châm của chúng tồi là:
Các đặc trưng văn hoá và nhân sinh quan nêu trong nghiên cứu này
knống phải là của một cá nhân người Việt Nam hay người Anh nào, mà của
một cộng đồng, của một dân tộc này so với dán tộc khác. Điều này có
nghĩa là các nhận xét, kết luận chung về các đặc trưng văn hoá và nhấn
sinh quan của người Việt vã người Anh không nhất thiết phù hợp với mọi
cá nhân.
Một điều nữa mà chúng tôi lưu ý là các đặc trưng vãn hoá và nhân
sinh quan của mỗi dân tộc còn thể' hiện qua nhiều sản phẩm văn hoá khác
như thành ngữ, ca dao, câu đố, dân ca, chuyện kể, tiểu thuyết, phim ảnh,
v.v...
Với các giới hạn vừa nêu ở trên, công trình nghiên cứu của chúng tồi
có đề tài: "Ngôn ngữ với việc phản ánh các yếu tố vãn hoả và nhân sinh
quan (thông qua tục ngữ Việt - Anh)
0.3 PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
ABC. Trong tuyển tập này có 5.000 câu tục ngữ Anh. (Và 101 câu tục ngữ
Việt Nam.) Chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ một trên ba, chúng tôi có được
1.666 câu tục ngữ Anh để phân tích, đối chiếu.
Tuy vậy, bén cạnh phương pháp định tính trên đây, chúng tôi cũng
vận đụng phương pháp định lượng trong phân tích hình thức, đối chiếu và
có các thông số để hỗ trợ cho các nhận xét chuns và kết luận.
Ngoài hai tư liệu chính trên đây, chúng tôi còn tham khảomột
số từ
điển tục ngữ Việt, Anh, hoặc từ điển đối chiếu cùng một số sách lý luận
bằng tiếng Việt và tiếng Anh mà chúng tôi đã cố gắng tìm được. (Xin xem
thư mục tham khầơ ở cuối luận án này.)
Các câu tục ngữ Việt Nam và Anh được sỏ dụng để minh họa trong
đối chiếu sẽ có phần tương đương - (tđ.), hoặc dịch - ( d ) nếu khống có
tương đương trong ngổn ngữ kia. Trong các câu dịch chúng tôi cố gắng
chuyển lai nghĩa biểu vật hoặc nghĩa ngữ dụng của câu tục ngữ gốc tùy
6
theo yêu cầu nghiên cứu hơn là tạo ra những câu dịch hay, cỏ vần, nhịp
như tính chất chủ yếu của mỗi câu tục ngữ.
0.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA LUẬN ÁN
Tục ngữ là một mảng đề tài rất phong phú và lý thú ở Việt Nam cũng
như tại nhiều nước trên thế giới.
0.4.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Nhiều công trình sưu tập tục ngữ, thành ngữ, ca dao và dán ca đã thấy
Một số từ điển so sánh, đối chiếu tục ngữ đã được xuất bản như: Tục
ngữ Anh - Việt (Nxb Đại học Cần Thơ, 1986) của Lê Đình Bích - Trầm
Quỳnh Dân, Tục ngữ và thành ngữ Việt Nam (Nxb Thành phố Hồ ChL
Minh, 1992) của Phan Văn Bình, Tục ngữ Anh - Việt tường giải (Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1995) của Bùi Phụng, Chẫm ngôn và tục ngữ thông
dụng Việt - Anh (Nxb Sông Bé) của Hoàng Văn Cang, 100 Tục ngữ tiếng
Anh thồng dụng (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh) của Hoàng Đinh Tứ, Tục
ngữ,; thành ngữ tiếng Anh (Nxb Hải Phòng, 1993) của Phạm Văn Bình,
Selected Vietnamese Proverbs - Tục ngữ Việt Nam chọn lọc íNxb Center
for International Communication and Development, Oakland, New
Zealand, 1990) của Huỳnh Đình Tế, và một số từ điển tục ngữ Việt Nam,
Nga, Việt - Pháp, Pháp - Việt, v.v...
Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã nghiên cứu tục ngữ Việt Nam về các
mặt xã hội học, ngữ văn, và đang khuyến khích một hướng mới là nhận
thức luận. [15; 40]
a. Vê cấc yếu tố văn hoá trong tục ngữ
Một số tác giả có đề cập ngắn gọn trong phần mở đầu các từ điển đối
chiếu tục ngữ của mình, như Lê Đình Bích : "Tục ngữ không chỉ là ngốn
ngữ, tục ngữ còn là dấu tích của một nền văn hoá". Phạm Văn Bình :
"Nhiều câu tục ngữ giống nhau về tư duy, nhận thức cũng như phương
pháp biểu hiện tuy rằng chúng mang đậm nét đặc thù dán tộc". Hoặc
Lương Văn Hồng [27; 12]: "Kho tàng tục ngữ của một dân tộc là kho tàng
trí tuệ và kinh nghiệm quý báu của dân tộc ấy".
b. Về ngữ nghĩa tục ngữ
8
quan trọng vể tục ngữ trên thế giới.
9
Hiện nay đã có Hội quốc tế nghiên cứu tục ngữ, đã có Niên san quốc
tế về tục npfĩ Proverbium : Yearbook o f International Proverb Scholarship,
đăng tải nhiều công trình nghiên cứu quan trọng trên thế giới về tục ngữ.
Niên san này hiện nay do Đại học tổng hợp Vermont, Mỹ, xuất bản, giáơ
sư tiến sĩ Wolfgang Mieder chủ biên. (Wolfgang Mieder được phương Táy
đánh giá là nhà nghiên cứu tục ngữ thế giới số một hiện nay.)
a. Về yếu tố vãn hoấ trong tục ngữ
Về đặc trưng dân tộc trong tục ngữ, F.N. Robinson [19; 284-297] đã
khẳng định rằng đặc trưng văn hoá dãn tộc được thể hiện trong tuc ngữ
thông qua màu sắc, sắc thái địa phương, phong tục tập quán, đức tính tốt,
xấu của địa phương đó. Gyula Paczolay [110; 93; 205-275] so sánh tục nsữ
dựa trên truyền thống vãn hoá khác nhau.
F.N. Robinson đã khảo sát, nghién cứu đặc trưng dán tộc Ái Nhĩ Lan
thông qua tục ngữ của nước này và kết luận : ba vếu tố phản ánh nổi bật
các đặc trưng dân tộc trong tục ngữ là:
1. Màu sắc, sác thái địa phương.
2. Các biện pháp tu từ.
3. Phong tục, tập quán, các nết tốt xuấĩ mà tục ngữ phan ánh.
b. Về câu trúc cú pháp
Geogre B. Milner và Alan Dundes có hai công trinh lớn. được nhiều
nhà nghiên cứu cấu trúc cú pháp tục ngữ phương Tây trích dẫn, để vận
dụng một phần vào cống trình riêng của mình hoặc để phê phán. Hai công
trình này đưa ra các cách tiếp cận mới về cấu trúc tục ngữ, rất gợi mở
+
+
sweep
clean
5quét)
(sạch)
ị
-
A friend
in need
(một người bạn)
(khi cần)
+
+
is a friend
won
(không bao
giờ)
(chinh phục được)
+
+
fair
lady
(đẹp)
(phụ nữ)
11
+
_
+
+
gather
no
moss
(đóng)
(không)
(rêu)
+
+
Rolling
stones
+
+
+
gather
+
Neal R. Norrick [20; 51-55] trong công trình ns;ữ nghĩa học tục ngữ
nổi tiếng của mình - How Proverbs Mean : Semantic Studies in English đã phân tích các định nghĩa truyền thống về tục ngừ và đưa ra định nghĩa
riêng của mình : "Tục ngữ chủ yếu là m ột dạng ngôn ngữ đ ể nói và dùng
trong thoại với chức năng giáo dục, và không liên hệ VỚI m ột đối tượng cụ
thể nào". (The proverb is a typically spoken, conversational form with
didactic function and not associated with any particular source), ông cũng
phân tích các biện pháp tu từ chi phối nghĩa của tục ngữ trong cuốn sách
này.
13
ục
Hiên nay một số nhà tục ngữ học, xã hội học, tâm lý học hàng đáu thế
giới như Grigorii L’ovich Permiakok (Nga), Matti Kuus: (Phần Lan),
Garbriel Gheorghe (Rumani), Gyula Paczolay (Hungary), và William Abig,
Read Bain, Aland Dundes, Stanley
s. Marzolf (Mỹ), ... đang nỗ lực nghiên
cứu yếu tố văn hoá, cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ để có thể giảm thiểu
hàng ngàn tục ngữ của mỗi nước xuống còn một số lượng có thể quốc tế
hoá theo cấu trúc được. [16; 41 - 57]
Bước đầu tiên trong nỗ lực này là xác định số lượng các câu tục ngữ
phổ biến nhất ở mỗi nước, sau đó đi vào quốc tế hoá số cấu trúc cú pháp
của lượng tục ngữ tối thiểu này.
Về từ điển tục ngữ Anh, hiên nay cuốn từ điển đầy đủ nhất là The
thống, mà truyền thống đó thì đa cực, trung dung, hướng về sự hoà hợp
[50; 2 4 -3 1 ].
Giáo sư Cao Xuân Hạo [108; 7- 12] dùng thuật ngữ "chủ biệt"vì. "chu
toàn" để chỉ quan niệm "đơn cực" và "đa cực" này. Chúng tôi đồng quan
điểm vói giáo sư Cao Xuãn Hạo khi cho quan điểm chủ toàn đẻ ra phương
pháp tư duy siêu hình và phân tích tính. Luận điểm này sẽ được minh
chứng bằng tục ngữ Việt - Anh trong chương đối chiếu
Từ tât cả những tiền đề trong phần mở đầu, chúng tôi xác định:
(1) Khi đi vào hướng nghiên cứu đối chiếu tục nơữ Việt - Anh, chúng
ta có điều kiện làm sáng tỏ thêm vân đề đạc trưng tâm lý cộng đồng tron2
chiều sáu văn hoá, thông qua nội dung và cấu trúc của một phương tiện
ngôn ngữ đặc biệt giàu tính truyền thống nhất.
(2) Điều này giúp ta hiểu sâu thêm bản chất xã hội của ngôn ngữ tục
ngữ trong ý nghĩa phổ quát cũng như trong sắc thái riêng biệt của nó đối
với cộng đổng người Viột và ngươi Anh.
(3) Và vể một phương diộn nào đó, đấy cũng là cơ sở tốt giúp ta mở
rộng sự hiểu biết, tạo tiền đề cho quá trình mở rộng giao lưu vãn hoá để hội
15
nhập vào thế giới chung — một vấn để đang đặt ra giữa các cộng đồng
trong thời đại hiện nay.
(4)
.
Đồng thời khi nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ tục ngữ Việt - Anh,
Chúng ta hãy xét một số định nghĩa về tục ngữ của các nhà nghiên
cứu Việt Nam:
1. "Tục ngữ là một câu tự nó diễn ẩạĩ trọn vẹn một ý, mộĩ nhận xét,
một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phê phán." (Vũ
Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam , trang 391
2. ''Tục ngữ là những câu nói ngắn, gọn, có ý nghĩa hàm xúc, do nhân
dân ỉao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thê kỷ." (Đinh Gia
Khánh - Chu Xuân Diẻm, Văn học Dân Gian, ữang 11).
3. "Tục ngữ là cảu noi thườỉĩg ngắn gọn, có vần hoặc kỉlông có van, có
nhịp điệu hoặc không có nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm sấn xuất hay đấu
tranh xã hội, rút ra mộỉ chán lý phổ biến, ghi lại một nhận xét vé luân /ý,
phong tục tập quán cún nhân dân'' (Bùi Vãn Nguyên và các tác giả khác.
Lích sử văn học Việt Nam, tập 1, trang 191).
4. "Tục ngữ là thể loại văn hoc dân gian nhầm đúc kết kinh nghiệm ,
tri thức, nêu lên những nhận xét phán đoán, lời khuyên rân của nhan dan
dưới hình thức những cáu nói ngắn gọn, gian dị, súc tích, có nhịp điệu., dễ
nhở, dễ truyền." (Hoàng Tiến Tựu, Văn học dán gian \ iệt Nam , tập 2,
trang 109).
5. "Tục ngữ là nhữn° câu cực kỹ bình dị, chắc nịch răn dời bằng
những điều Luân ỉý sâu xa hoặc tổng kết ngắn gọn ĩiỉiũn^ kinh nghiệm vẽ
công việc làm ăn." (Hoàng Trinh, Đối thoại văn học , trang 13).
6. "Tục ngữ là một can khái ơuáí, nghĩa do tổng cộng các thành tố, rất
hàm súc, nổi bật bởi ý nghĩa phán đoán và dược tái kiện trong quá trình
dân tộc): 5 lần; tính giáo dục (luân lv, khuvên răn, đao đức): 5 lần; tính thư
ca (có vần, có nl'ip, vần điệu, phúng dụ): 5 lần; hỉnh thức cô dinh: 2 lần.
Chúng ta hãy xét xem các tính chất trên đây có thể dùng làm tiêu chí
để đĨTih nghĩa tục ngữ hay không.
Càu - phán đoán
18
Tục ngữ dùng chủ yếu trong nói năng, mà các qui ước vể ngôn ngữ
nói năng không giống với các qui ước về ngôn ngữ thông thường. Trong
tục ngữ có nhiều câu thể hiện theo cấu trúc VỊ, không có chủ.
Ví dụ: Câ\ tau, rau cải, nhân ngãi vợ, đay tớ con,
"Câu tục ngữ này gồm bốn vế theo cấu trúc vị ngữ thuẩn tuý và nghía
của nó là: Trong cuộc sống ta phải biết thiết thực: muòn trồng cây thì trồn 2
cây cau ]à có lợi nhất, muốn trong rau thì phải trổns rau cải ]à có lợi nhất,
chạy theo chuyện yêu đương là vô ích, yêu vợ là nhân ngãi chãc chàn nhất,
còn đầy tớ thì con mình là kẻ trung thành nhất. Đâv là chân lý chân quen
thuộc nhất của ông cha ta" [108; 96; 39 ].
Cấu trúc vị ngữ - vị ngữ này là rất khó hiểu và không thể thấ} trong
ngũ' pháp các ngôn ngữ bình thưòng.
Trong tục ngữ Anh cũng có những cấu trúc không thê thá\ trong cãu
trúc câu bình thường:
Aỉì that shakes falls not.
(Khỏns phải cái gì lung lay đều sẽ nsã - d.)
Theo quan niệm của một số tác giả thì trên cấp đo iưi nói khỏníi có su
phù hợp giữa nội dung và hình thức". [14; 205],
nghĩa ngữ ũung.
Nghĩa biểu vật: cây mọc thẳng thì toàn thân được hấp thụ ánh sáng măt
ười nén sống manh mẽ không bệnh tật. Cây nghiêng tàn lá bị cây chung
quanh che khuất, rễ lại khống bám sâu xuống lòng đất nên chậm lớn và
chết dần mòn.
Nghĩa biểu trưng: con người cũn£ vộỵ, nếu cứ sons nsa_\ thane không
hà hi ép ai và cũng khõng nịnh bợ ai, luôn luôn giúp đõ' người khác với tất
cả khả năng sẵn có của mình thì được khoẻ tấm thán, vì vô lo. ăn nson naủ
vén, không sợ kẻ thù nào hãm hại.
Nghĩa ngữ dụng: Khóns nên sống tà tâm mà nén ăn o ngay thãns [ 12: 226]
Như vậy, câu tục nsữ này được xem là súc tích nhờ lớp nshũa biéu
trưng và ngữ dụng cua nó. Nói cách khác, tính có nshĩa biếu trưns chứ
không phải súc tích có thể dùns làm tiêu chí định nahTa.
Bây giờ, chúng ta hãy xét một câu tạc n 2 Ũ' không có cau true rút gọn
và không có nghĩa biểu trưng:
Làm ruộng ba năm không bằng chăn tám mộĩ lứa.
An thịt trau không tỏi như ăn gỏi không rau mơ.
Chắc chắn hai câu tục ngữ này có thể diễn đạt súc tích hơn. như:
20
Một lứa chăn tằm bằng ba năm làm ruộng.
Thịt trâu ĩhiếu tỏi như goi thiêu rau mơ.
Hoặc có thể ngắn gọn hơn, súc tích hơn nữa tuỳ cái tài của neười ứng
tác tục ngữ trong nhân dân lao động.