MỤC LỤC
Phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
Phụ bìa i 1
Lời cam đoan ii 1
Lời cảm ơn iii 1
PHỤ LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
1. Tính cấp thiết của đề tài 7
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 8
* Mục tiêu của đề tài 8
3. Phạm vi nghiên cứu 9
4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 10
6. Cấu trúc đề tài 12
NỘI DUNG13
Chương 1 13
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 13
1.1. Quan niệm về chất lượng cuộc sống 13
1.2. Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư 15
1.2.1. HDI - một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống 15
1.2.2. Chỉ số GDP 16
1.2.3. Chỉ số về giáo dục 18
1.2.4 Chỉ số tuổi thọ 20
1.2.5. Các tiêu chí khác 21
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của dân cư 22
1.3.1. Vị trí địa lí 22
2.4. Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư ở Đắk Lắk 66
2.4.1. Nguyên nhân từ phía các yếu tố mang tính cá nhân 66
2.4.2. Nguyên nhân từ phía xã hội 67
Chương 3 69
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG 69
CỦA DÂN CƯ TỈNH ĐẮK LẮK 69
3.1. Căn cứ xây dựng giải pháp 69
3.2. Các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội [38] 71
3.2.1. Mục tiêu kinh tế 71
3.2.2. Mục tiêu xã hội 72
3.3. Định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội với vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống
của dân cư tỉnh Đắk Lắk 74
3.3.1. Về giáo dục đào tạo 74
3.3.2. Y tế và chăm sóc sức khỏe 75
3.3.3. Dân số, lao động, việc làm và xóa đói giảm nghèo 75
3.3.3.1. Dân số 75
3.3.3.2. Định hướng bố trí sử dụng lao động 76
3.3.3.3. Công tác định canh định cư cho đồng bào các dân tộc và nâng cao chất lượng
công tác xóa đói giảm nghèo 77
3.3.4. Phát triển văn hóa thông tin, thể dục thể thao 77
3.3.4.1. Văn hóa thông tin 77
3.3.4.2. Thể dục - thể thao 77
3.4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk 78
3.4.1. Nhóm giải pháp về kinh tế 78
3.4.2. Nhóm giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe 83
3.4.3. Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo 85
3.4.4. Các giải pháp khác 87
KẾT LUẬN91
91
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm khá phức tạp và thay đổi theo từng giai đoạn phát
về đảm bảo trật tự an toàn xã hội và vệ sinh môi trường. Đặc biệt cần chú ý
hơn nữa việc khắc phục sự phân hóa CLCS đang diễn ra trong các tầng lớp
dân cư và các địa bàn trong tỉnh 91
6. Kết quả đạt được của đề tài: 92
- Đề tài đã vận dụng cơ sở khoa học về dân cư và chất lượng cuộc sống vào địa bàn tỉnh
Đắk Lắk để phân tích các nhân tố ảnh hưởng và làm sáng tỏ thực trạng chất
lượng cuộc sống của dân cư trong tỉnh từ năm 2003-2006 qua một số tiêu chí
cụ thể: thu nhập bình quân đầu người, tỉ lệ hộ đói nghèo, chỉ số về giáo dục,
chỉ số về y tế và chăm sóc sức khỏe, điều kiện được sử dụng nguồn nước sạch
và được sử dụng điện. Đề tài đã có sự so sánh CLCS của dân cư của các
huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh 92
- Đề tài đã dựa trên kết quả nghiên cứu được và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLCS của dân cư tỉnh Đắk Lắk
trong thời gian đến 92
7. Hạn chế của đề tài: 92
3
- Do hạn chế về thời gian nên đề tài chỉ phân tích một số tiêu chí chủ yếu trên diện rộng
toàn tỉnh, chưa đi phân tích sâu sự khác biệt trong địa bàn từng huyện, thành
phố 92
- Một số thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đánh giá CLCS cuộc sống của dân cư
chưa được công khai hóa, nên việc đánh giá CLCS chỉ được thực hiện trên
một số tiêu chí cụ thể, chưa phản ánh được toàn diện các khía cạnh của CLCS
dân cư 92
92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBYT : Cán bộ y tế
CLCS : Chất lượng cuộc sống
Bảng 2.19 . Số hộ dùng điện, sản lượng điện tiêu thụ bình quân qua các năm của các huyện
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 59
Bảng 3.2. Lao động tham gia trong các ngành kinh tế quốc dân đến năm 2020[38] 76
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu kinh tế theo ngành của tỉnh Đắk Lắk năm 2000 và 2006 37
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nền kinh tế
phát triển nhanh chưa từng có, nhiều quốc gia đạt được tỉ lệ tăng trưởng thần kỳ và
đời sống nhân dân đang được nâng cao rõ rệt. Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước trở thành
một chủ đề tranh cãi quan trọng trên thế giới. Theo báo cáo phát triển con người của
Liên Hiệp Quốc, sự phân hóa giàu nghèo trên thế giới đang ở mức khó có thể chấp
nhận: 20% dân số thế giới thuộc nhóm giàu nhất chiếm giữ 86% GDP toàn thế giới,
trong khi đó 20% thuộc nhóm nước nghèo nhất chỉ có 1%; tài sản của 3 nhà tỉ phú
giàu nhất thế giới còn hơn cả GDP của các nước nghèo nhất với số dân hơn 600
triệu người cộng lại [7]. Trên thực tế, trong khi một số nước có nền kinh tế phát
triển có chất lượng cuộc sống dân cư rất cao thì một bộ phận dân cư còn lại đang có
nguy cơ bị suy giảm và luôn luôn đối mặt với cảnh đói nghèo.
Con người là vốn quý nhất, là chủ nhân của thế giới, là động lực để phát triển
xã hội và cũng là mục tiêu để mọi hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng
như cả thế giới hướng tới. Việc nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) của con
người đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của hầu hết các nước. Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta thời kỳ 2001 - 2010 đã khẳng định: “Phát triển con
người phải được coi là chiến lược trung tâm của Việt Nam”. Chương trình phát triển
của Liên hiệp quốc đưa ra các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển con người đều
nhằm vào chất lượng cuộc sống dân cư. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng
cuộc sống cho người dân và tạo điều kiện để mọi người đều được sống trong tình
thương và trách nhiệm? Đó là những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi phải
giải quyết. Mỗi quốc gia đều phải xây dựng chương trình nâng cao chất lượng cuộc
bàn tỉnh Đắk Lắk để làm sáng tỏ thực trạng chất lượng cuộc sống và tìm ra các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chất lượng cuộc sống.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đắk Lắk.
- Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đắk Lắk thời kì 2003-2006.
8
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống
của dân cư tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020.
3. Phạm vi nghiên cứu
Chất lượng cuộc sống là vấn đề phức tạp đa dạng và thường xuyên thay đổi
nhưng thời gian thực hiện đề tài có hạn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên đề tài
nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn khảo sát, nghiên cứu một số tiêu chí cơ bản của
chất lượng cuộc sống là: tiêu chí về kinh tế, giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe.
Đề tài chỉ nghiên cứu trên phạm vi tỉnh Đắk Lắk từ năm 2003 đến nay. Đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư trên địa bàn
nghiên cứu đến năm 2020.
4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề CLCS và các tiêu chí đo CLCS đã được các
nhà khoa học trong và nước đặc biệt quan tâm nghiên cứu.
- Trên thế giới: đã có nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu về
CLCS. Vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, một nhà dân số học
người Ấn Độ (R.C Sharma) đề cập đến CLCS trong tác phẩm “Dân số, tài nguyên,
môi trường và chất lượng cuộc sống” (Population, resources, environment and
quality of life), ông nghiên cứu mối tương tác giữa chất lượng cuộc sống dân cư với
quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Theo ông,
CLCS là sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân. Năm
1990, UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) đã đưa ra hệ thống các chỉ
tiêu đánh giá về phát triển con người - HDI (Human Development Index). Hệ thống
trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc chuyên ngành khác nhau về lĩnh vực
phát triển con người ở Việt Nam. Như vậy, đã cho thấy sự quan tâm ở tầm vĩ mô
của Nhà nước về các khía cạnh khác nhau có liên quan đến CLCS của dân cư, trong
đó đặc biệt lưu tâm đến HDI. Tuy nhiên, HDI không bao quát được tính phong phú,
nhiều mặt của sự phát triển con người. Mặt khác, vấn đề CLCS ở cấp tỉnh cụ thể ít
được nghiên cứu, đặc biệt là ở tỉnh Đắk Lắk.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
10
5.1. Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
CLCS của dân cư ở từng tỉnh, thành phố trong mỗi quốc gia cần phải được đặt
trong mối quan hệ cụ thể với toàn bộ hệ thống lãnh thổ quốc gia. Đó là cơ sở đầu
tiên giúp cho việc tiếp cận và phân tích vấn đề một cách có hệ thống. Vì vậy, việc
nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk phải được đặt trong mối
liên hệ với vùng Tây Nguyên và cả nước. Bản thân CLCS của dân cư tỉnh Đắk Lắk
cũng là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua lại.
- Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ
CLCS không chỉ là cuộc sống vật chất mà còn tập hợp nhiều yếu tố như dân
trí, văn hóa, giáo dục Do vậy, nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đắk
Lắk cần phải dựa trên phân tích, đánh giá tổng hợp của nhiều yếu tố liên quan.
Các yếu tố về tự nhiên và kinh tế xã hội của từng khu vực, từng huyện, quận
có bản sắc riêng. Vì vậy, nghiên cứu CLCS của dân cư tỉnh Đắk Lắk phải tìm hiểu
trên quan điểm tổng hợp - lãnh thổ, qua đó làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt để
phân tích và đánh giá thực trạng của người dân ở tỉnh Đắk Lắk đúng đắn hơn. Mặt
khác, cũng cần phải thấy được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện, thành
phố mà đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội một
cách có hiệu quả trong thời kì tới vì nó gắn liền với CLCS của dân cư.
- Quan điểm sinh thái - phát triển bền vững
Môi trường sống và CLCS của dân cư có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ
với nhau. Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS của dân cư, đặc biệt là
dụng phương pháp phỏng vấn sâu để nhận biết quan điểm, thái độ và nguyện vọng,
ý kiến của người dân về vấn đề CLCS của dân cư.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học về chất lượng cuộc sống dân cư.
Chương 2. Thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
tỉnh Đắk Lắk.
12
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
1.1. Quan niệm về chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau. Chất
lượng cuộc sống thường được lưu ý phân biệt với mức sống. Mức sống là thước đo
về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật chất và
giá trị tinh thần.
Trong các tác phẩm của C.Mác hay của các nhà kinh tế chính trị cổ điển khác
như A.Smith, D.Ricardo, R.Malthus, J.S.Mill đã có tư tưởng mở rộng và đề cao
các giá trị về CLCS của con người. CLCS như là mục đích trong việc tạo điều kiện
thuận lợi giúp con người có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú.
Theo R.C.Sharma thì CLCS là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa
mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ
bản của chính bản thân xã hội. Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân số, tài nguyên, môi
trường và chất lượng cuộc sống”, ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự
cảm giác được hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc
sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con
người. Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con
sống theo 3 mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao).
Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những
nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người.
Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càng cao. Bên cạnh đó, CLCS còn được gắn
liền với môi trường và sự an toàn của môi trường. Một cuộc sống sung túc là một
cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết như cơ sở hạ tầng hiện đại,
các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ. Đồng thời, con người phải được sống
trong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi
trường xã hội lành mạnh và bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các vấn nạn xã hội.
Từ những phân tích trên, chúng tôi có thể quan niệm về chất lượng cuộc sống
như sau: CLCS là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh thần và vật chất của
con người, là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của mọi quốc
14
gia. CLCS càng cao thì con người càng có nhiều khả năng lựa chọn trong việc phát
triển cá nhân và trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội đã tạo ra.
1.2. Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư
1.2.1. HDI - một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống
Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải hướng tới của mọi hoạt động kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia và thế giới. Việc lựa chọn các tiêu chí phản ánh sự phát
triển con người có ý nghĩa rất quan trọng. Từ những năm 1990, Chương trình Phát
triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đưa ra chỉ số phát triển con người HDI (Human
Development Index). HDI phản ánh các thành tựu phát triển con người trong ba lĩnh
vực cơ bản: [4]
- Sức khỏe được đo bằng tuổi thọ trung bình (năm).
- Học vấn được đo bằng tỉ lệ biết chữ của người lớn từ 15 tuổi trở lên (%) với
quyền số (trọng số) 2/3 và tỉ lệ nhập học của các cấp giáo dục tiểu học, trung học và
đại học trong nhóm dân cư từ 6-24 tuổi so với dân số độ tuổi (%) với quyền số
(trọng số) 1/3.
- Mức sống kinh tế được đo bằng GDP bình quân đầu người được điều chỉnh
theo PPP (Purchasing Power Parity) tính bằng USD.
z
, z
i
: tuổi thọ thực tế
15
Giá trị x
i
thực tế - Giá trị x
i
tối thiểu
Chỉ số thành phần =
Giá trị x
i
tối đa - Giá trị x
i
tối thiểu
Mức sống Sức
khỏe
Học vấn
Chỉ số GDP =
)100lg()40000lg(
)100lg()lg(
−
−
i
λ
(tính theo sức mua tương đương)
i
λ
là GDP bình quân đầu người của nước i đã được điều chỉnh theo phương
16
H
DI
hộ và thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là
một năm), bao gồm:
- Thu từ tiền công, tiền lương.
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.
- Thu từ sản xuất ngành nghề.
- Thu khác.
* Chỉ số nghèo đói
Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, thiếu thốn về thu nhập, về
cơ hội, về tài sản vật chất, thể chất cũng như tinh thần gây cản trở cho sự phát
triển một cách đầy đủ mọi tiềm năng của con người. [6]
Nghèo đói là một khái niệm đã được sử dụng từ rất lâu trên thế giới để chỉ
mức sống của một nhóm dân cư, một cộng đồng, một nhóm quốc gia so với mức
sống của cộng đồng hay các quốc gia khác.
Nghèo đói là không có khả năng đảm bảo được sức khỏe và cuộc sống, không
có khả năng có thể tiếp cận đến các nguồn tri thức, thu nhập thấp không được đảm
bảo các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như sử dụng nước sạch, không được tiếp
cận dịch vụ khám chữa bệnh, không được đảm bảo mức dinh dưỡng. Theo quan
niệm trên, để đo lường một cách tổng hợp tình trạng đói nghèo hiện nay người ta sử
dụng chỉ số nghèo đói tổng hợp HPI (Human Poverty Index). Chỉ số HPI được phân
thành hai loại: HPI-2 dùng cho các nước công nghiệp hóa và HPI-1 dùng cho các
nước đang phát triển. Chỉ số HPI-1 được tính dựa vào ba thước đo cơ bản là:
- Tính dễ tổn thương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ được đo bằng
xác suất không thọ quá 40 tuổi (P
1
).
- Sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của những người biết chữ và có khả năng giao
tiếp, được đo bằng tỉ lệ người lớn mù chữ (P
++
=−
3
1
3
1
3
3
3
2
3
1
PPP
HPI
[7]
Về cơ bản, đói nghèo được xác định trong mối tương quan xã hội. Có hai dạng
đói nghèo: nghèo về thu nhập (nghèo tuyệt đối) và nghèo về con người (nghèo
tương đối). Nghèo về con người được xác định bằng mức thu nhập để chi hàng hóa,
dịch vụ theo mức nghèo lương thực, thực phẩm và cả những chi tiêu cho các nhu
cầu thiết yếu ngoài lương thực, thực phẩm.
Chuẩn nghèo tương đối đề cập đến sự thiếu hụt của cá nhân (hộ gia đình) so với
mức sống trung bình đạt được. Chuẩn này cũng không có sự thống nhất giữa các
quốc gia. Nhìn chung trên thế giới các nước phát triển xác định chuẩn nghèo dựa trên
1/2 thu nhập bình quân còn các nước đang phát triển là 1/3 thu nhập bình quân. [2]
Chuẩn nghèo tuyệt đối tức là chuẩn nghèo 1-2 USD/ngày/người. Chuẩn nghèo
quốc tế do Liên hiệp quốc công bố và quy định 2 USD/ngày/người cho các nước
nhau đồng thời có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia. Các nước
có nền kinh tế phát triển thì các chỉ số phản ánh về trình độ văn hóa và trình độ tay
nghề trong khối dân cư thường rất cao, ngược lại ở các nước chậm phát triển thì các
chỉ số này thường rất thấp.
Hiện nay, trình độ văn hóa và tay nghề của lực lượng lao động đang có sự
chuyển biến theo hướng tích cực, chất lượng cuộc sống của dân cư ngày càng được
cải thiện, tỷ lệ người biết chữ và tốt nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần các
cấp học ngày càng cao. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, số lao động có tay nghề
ngày càng tăng và họ đang là những lực lượng lao động mang lại chất lượng hiệu
quả cao trong các ngành kinh tế. Tuy nhiên, ở các nước có nền kinh tế đang phát
triển việc sử dụng lao động không có tay nghề trong các ngành kinh tế vẫn còn
chiếm tỷ lệ cao.
* Số năm đến trường
Cùng với chỉ số tỷ lệ người lớn biết chữ thì số năm đến trường cũng là một chỉ
số quan trọng để đánh giá chất lượng học vấn của dân cư ở mỗi quốc gia. Số năm đến
trường là số năm bình quân đã được học ở trường của những người từ 15 tuổi trở lên.
Tiêu chí số năm đến trường có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập ở mỗi quốc
gia. Các nước có thu nhập thấp thường có số năm đi học thấp (trung bình 3-4 năm,
thậm chí ở Châu Phi có một số nước chỉ có số năm đi học trung bình là 1,6 năm).
19
Các nước có thu nhập trung bình có số năm đi học trung bình thường là 5,3 năm.
Các nước có thu nhập cao chỉ số này rất cao, thường là 10,6 năm (Bắc Mỹ: 12,4
năm, Châu Âu: 11,1 năm ). Nhìn chung, ở hầu hết các nước đều có số năm đi học
của nam giới thường cao hơn nữ giới. Chỉ số số năm đến trường là một trong các
chỉ số phản ánh trung thực CLCS của từng nước.
1.2.4 Chỉ số tuổi thọ
Sức khỏe là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi
con người. Sức khỏe toàn dân là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu phát
triển của mỗi quốc gia, là tương lai của dân tộc. Sức khỏe là yếu tố cơ bản của chất
lượng cuộc sống dân cư. Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát
* Các dịch vụ y tế: Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con
người và CLCS. Các dịch vụ y tế làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả trong
hiện tại lẫn tương lai. Các tiêu chí phản ánh mức độ được đáp ứng về dịch vụ y tế
như: số bệnh viện, trạm xá, số giường bệnh, số cán bộ y tế/10.000 dân
1.2.5. Các tiêu chí khác
* Tiêu chí số calo bình quân đầu người: Trong quá trình sống và lao động, cơ
thể con người phải thường xuyên tiêu hao năng lượng. Năng lượng tiêu hao của con
người do thức ăn cung cấp nhằm tái sản xuất sức lao động, người ta quy ước dùng
đơn vị calo để đo nhu cầu năng lượng cơ thể. Số calo tiêu dùng hằng ngày cho một
người được coi là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu. Để có
được số calo bình quân đầu người, FAO dựa vào tình hình sản xuất lương thực và
thực phẩm. Nhu cầu năng lượng thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, mức độ
tính chất lao động và thể trạng cơ thể.
* Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt: vấn đề sử dụng điện trong sinh hoạt cũng
là yếu tố quan trọng phản ánh CLCS của dân cư. Điều kiện sử dụng điện được phản
ánh qua các tiêu chí: tỉ lệ số hộ dùng điện, số KWh tiêu thụ tính bình quân đầu
người/tháng.
* Sử dụng nước sạch: sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu cơ bản và cấp thiết
của con người. Đây là yếu tố quan trọng để xem xét CLCS của dân cư.
21
Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện sử dụng nước sạch của dân cư là tỉ lệ người
dân được sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác từ
nguồn lộ thiên đã qua xử lí )
* Điều kiện nhà ở: có hai tiêu chí để đánh giá điều kiện nhà ở là diện tích nhà ở
và chất lượng nhà ở. Diện tích nhà ở thường được diễn đạt bằng chỉ số m
2
/người. Chất
lượng nhà ở thường chia làm ba loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà tạm.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của dân cư
1.3.1. Vị trí địa lí
Chính sách của quốc gia và địa phương có ảnh hưởng đáng kể đến CLCS dân
cư. Những thay đổi về chất trong chính sách vĩ mô như:
- Chính sách xóa đói, giảm nghèo thể hiện ở sự mở rộng cơ hội việc làm và tạo
thu nhập cho nhóm người nghèo; làm giảm bớt nguy cơ và tăng khả năng ứng phó
với những rủi ro cho người nghèo; bảo vệ, hỗ trợ những nhóm người dễ bị tổn
thương; tạo việc làm và giảm thất nghiệp.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giữa
các địa phương.
- Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo thông qua việc tạo lập môi
trường thông thoáng, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong việc tiếp cận các cơ hội việc
làm, tạo điều kiện vay vốn, đất đai, nâng cao tay nghề
- Chính sách mở cửa và hội nhập đã giúp người dân có cơ hội tiếp cận dễ dàng
các vật tư, thiết bị máy móc nông nghiệp và công nghệ và mở rộng thị trường, tăng
thêm thu nhập cho người dân.
1.4. Chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam
1.4.1. GDP và GDP bình quân đầu người
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, CLCS của người dân cũng được
cải thiện rõ rệt trên tất cả các lĩnh vực: thu nhập, giáo dục, y tế và các vấn đề an
ninh xã hội khác.
Tăng trưởng kinh tế sẽ không bền vững nếu không gắn với phát triển xã hội, bởi
phát triển xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa,
đường lối kinh tế mà Việt Nam lựa chọn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Biểu hiện tổng hợp nhất của tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là chỉ số
23
phát triển con người (HDI). Kể từ năm 1990 chỉ số HDI ở Việt Nam theo cách tính
của UNDP đã liên tục được cải thiện. Năm 1992 chỉ số HDI đạt 0,539 (120/174) tăng
lên 0,682 (101/162) vào năm 2001 và đạt 0,704 (108/177) vào năm 2005.
Thực tế trên cho thấy HDI của nước ta đang ở tình trạng thiểu phát, các chỉ số
thành phần phát triển không đều.
So với các nước trên thế giới Việt Nam xếp ở khoảng giữa của nhóm “mức độ
Chỉ
số
học
vấn
Chỉ
số
thu
nhập
HDI
Xếp
hạng
HDI
thế
giới
Xếp
hạng
GDP
Nauy 78,9 99,0 98,0 36.000 0,90 0,99 0,99 0,956 1 2
Thụy Điển 80,0 99,0 114,
0
26.050 0,92 0,99 0,93 0,946 2 21
Xingapo 78,0 92,5 87,0 24.040 0,88 0,95 0,87 0,902 25 30
Brunei 76,2 93,9 73,0 19.120 0,85 0,87 0,88 0,867 33 28
Malaixia 73,0 88,7 70,0 9.120 0,80 0,83 0,75 0,793 59 57
Thái Lan 69,1 92,6 73,0 7.010 0,74 0,86 0,71 0,768 76 67
Philippin 69,8 92,6 81,0 4.170 1,75 0,89 0,62 0,753 83 105
Trung Quốc 70,9 90,9 68,0 4.580 0,76 0,83 0,64 0,745 94 99
Inđônêxia 66,6 87,9 65,0 3.230 0,69 0,80 0,58 0,692 111 113
Việt Nam 69,0 90,3 64,0 2.300 0,73 0,82 0,52 0,691 112 114
Ấn Độ 63,7 61,3 55,0 2.670 0,54 0,66 0,50 0,595 127 117
Tây Nguyên (7,6 lần), Đông Bắc (7 lần)
1.4.2. Tuổi thọ bình quân và sức khỏe
Ở nước ta, do những thành tựu về phát triển kinh tế, nên các chương trình
quốc gia về xã hội đã được triển khai rộng rãi và có tác động sâu sắc tới cả nông
thôn và thành thị. Hầu hết các chỉ số về sức khỏe của nhân dân đã được cải thiện.
Chính phủ đã có chủ trương cơ bản và lâu dài là phát triển các dịch vụ y tế, đặc biệt
là các dịch vụ khám và chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Tuổi thọ trung bình của cả nước đạt mức cao đáng kể so với điều kiện kinh tế
và mức sống hiện tại. Tuổi thọ trung bình của nước ta tăng lên khá nhanh trong thời
gian gần đây, từ 65,3 tuổi (năm 1989) lên 68,6 tuổi (năm 1999) và 69 tuổi (2004).
Hằng năm số người mắc và chết vì bệnh sốt rét giảm đáng kể, chỉ còn 0,06%
năm 2002. Trên 90% dân cư đã được tiếp cận với các dịch vụ y tế, chỉ số tuổi thọ của
25