Nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch ở thị xã cửa lò, tỉnh nghệ an và giải pháp hạn chế mới nhất năm 2019 - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Du lịch hiện nay được xem là ngành “công nghiệp” không khói, ngành kinh tế quan
trọng của nhiều quốc gia trên thế giới.
Đối với Việt Nam, du lịch thực sự đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
cuả đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế hoá hiện nay, đặc biệt là khi Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì việc mở
rộng và phát triển du lịch là cách tốt nhất để quảng bá hình ảnh đất nước và góp phần phát
triển nền kinh tế quốc gia. Với lợi thế là một quốc gia có đường bờ biển dài 3260 km,
điều kiện tự nhiên thuận lợi kết hợp với một nền lịch sử lâu đời, Việt Nam có những điều
kiện lý tưởng để phát triển du lịch như một ngành kinh tế mũi nhọn.
Những năm gần đây, Cửa Lò (Nghệ An) đã trở thành điểm hẹn du lịch hấp dẫn của
du khách bốn phương. Trong những năm qua Cửa Lò đã thu hút được số lượng lớn khách
du lịch trong và ngoài nước. Với bãi tắm dốc, thoải, bãi cát mịn màng, nước biển trong
xanh, đây còn là một vùng in đậm những nét riêng của tiểu vùng văn hoá xứ Nghệ. Từ
những ưu thế về tiềm năng tự nhiên và nhân văn, du lịch Cửa Lò có nhiều điều kiện để
phát triển. Tuy nhiên tính thời vụ trong du lịch ở Cửa Lò thể hiện khá rõ rệt, điều đó làm
cho hoạt động du lịch ở đây gặp nhiều khó khăn, du lịch của vùng chưa khai thác được tối
đa tiềm năng của địa phương. Từ thực trạng trên tôi muốn đi sâu tìm hiểu tính thời vụ
trong du lịch Cửa Lò để có thể đưa ra được các giải pháp làm hạn chế được phần nào tính
mùa vụ trong du lịch biển, đưa hoạt động du lịch của địa phương phát triển. Do vậy, tôi
chọn đề tài “ Nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch ở Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An và
giải pháp hạn chế” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích
- Dựa vào cơ sở lí luận về du lịch và thời vụ du lịch để phân tích, đánh giá những biểu
hiện của tính thời vụ.
- Đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tính thời vụ trong du lịch và nâng cao hiệu quả
kinh doanh du lịch ở Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
2.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu khái quát về du lịch Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

động du lịch biển Cửa Lò”. Các đề tài đã phần nào làm rõ được tính thời vụ của du lịch ở
Cửa Lò đồng thời có đề ra một số biện pháp làm hạn chế những tác động của tính thời vụ
đối với hoạt động du lịch ở đây. Tuy nhiên các đề tài này chỉ đề cập tới một khía cạnh
như tính mùa vụ trong du lịch biển hay một số giải pháp hạn chế tính thời vụ trong du
lịch biển.
4. Quan điểm nghiên cứu
4.1. Quan điểm hệ thống
Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ các hiện tượng và các hoạt động kinh tế băt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể ở ngoài nơi cư trú
thường xuyên của họ hoặc ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Như vậy các điều kiện
và nhân tố du lịch tồn tại và phát triển của các thành phần: tự nhiên, kinh tế- xã hội và các
quy luật cơ bản của các loại hình du lịch. Do đó, khi nghiên cứu hoạt động du lịch cần
2
phải nghiên cứu một cách toàn diện trên nhiều mặt dựa vào việc phân tích các bộ phận
của nó, từ đó xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận đó cũng như mối quan hệ
trong hoạt động du lịch với các hoạt động kinh tế- xã hội khác. Đây cũng là quan điểm
chủ đạo trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
4.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Tính thời vụ trong du lịch do nhiều yếu tố tác động và ảnh hưởng vì vậy việc nghiên
cứu tính thời vụ trong du lịch Cửa Lò cần phải dựa trên phân tích, đánh giá tổng hợp của
nhiều yếu tố liên quan.
4.3. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Du lịch và tính thời vụ trong du lịch có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tính thời vị
trong du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và quá trình phát triển du lịch, đặc biệt là
quá trình cung cầu trong du lịch. Vì vậy khi nghiên cứu chúng ta cần xem tính thời vụ là
một phần trong du lịch. Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế tính thời
vụ trong du lịch cần phải dự trên quan điểm phát triển bền vững mới đảm bảo tính ổn định
và lâu dài trong phát triển du lịch.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Nội dung

- Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Nhằm chứng minh và làm sáng tỏ cho những nhận định cũng như có thể thấy rõ
được sự biến đổi, các mối quan hệ qua lại với nhau, ngoài dùng số liệu tương đối và tuyệt
đối thì chúng ta có thể cụ thể hóa bằng các biểu đồ và bản đồ
Biểu đồ và bản đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lí. Việc sử dụng
phương pháp này giúp các vấn đền nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 3 nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn tính thời vụ trong du lịch
Chương 2: Tính thời vụ trong du lịch ở Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Giải pháp hạn chế tính thời vụ trong du lịch ở Thị xã Cửa Lò, tỉnh
Nghệ An
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Những khái niệm cơ bản về du lịch
4
a. Khái niệm du lịch
Hiện nay thuật ngữ du lịch trở nên rất thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với
ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được la tinh hoá thành Tornus và sau đó thành
Touriste (tiếng Pháp), Tourism (tiếng Anh).
Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được dịch thông qua tiếng Hán. Du nghĩa là
đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải.
Du lịch gắn với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sức khỏe và nâng
cao khả năng lao động của con người, nhưng du lịch lại liên quan mật thiết đến sự di
chuyển chổ ở của họ. Trong suốt 6 thập kỉ kể từ khi Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch
được thành lập năm 1925 tại Hà Lan thì khái niệm du lịch luôn được tranh luận.
Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời
khỏi chỗ ở của mình trong thời gian ngắn để đến các vùng xung quanh nghỉ ngơi, giải trí
hay chữa bệnh.

“Cầu” về dịch vụ du lịch bao gồm “ cầu” về các loại dịch vụ vận chuyển, lưu trú và
ăn uống, vui chơi giải trí, dịch vụ đặc trưng và hàng hoá lưu niệm.
“Cầu” về hàng hoá gồm cầu về hàng hoá ở nơi cư trú thường xuyên, hàng hoá tại
điểm du lịch phục vụ cho tiêu dùng tại chỗ và mang về nơi cư trú.
- Khái niệm cung du lịch
“Cung du lịch” là hình thức biểu hiện của sản xuất các hàng hoá và dịch vụ du lịch
cho thị trường. Nó là biểu hiện vật chất của các khả năng cung ứng các hàng hoá và dịch
vụ du lịch nhằm thoả mãn “Cầu du lịch”.
“Cung du lịch” được xác định về số lượng và chất lượng. Khía cạnh khối lượng của
“Cung du lịch” phản ánh khối lượng và cấu trúc của hàng hoá, dịch vụ có thể thực hiện
trên thị trường vào một thời điểm nhất định.
- Mối quan hệ cung – cầu trong du lịch
Quan hệ giữa cung và cầu du lịch là mối quan hệ tương đối phức tạp và chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố bên trong cũng như bên ngoài. Mối quan hệ này có khá nhiều
điểm bất lợi cho cả người kinh doanh du lịch (cung) và khách du lịch (cầu).
Cung du lịch mang tính chất cố định, không thể di chuyển như tài nguyên du lịch,
khách sạn, nhà hàng, cơ sở vui chơi, giải trí… Còn cầu du lịch lại phân tán. Như vậy, chỉ
có dòng chuyển động một chiều từ cầu đến cung hay nói cách khác, cung du lịch tương
đối thụ động trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình.
Cầu du lịch mang tính tổng hợp. Còn mỗi đơn vị trong kinh doanh chỉ đáp ứng được
một hoặc một vài phần của cầu du lịch. Tính độc lập của các thành phần trong cung du
lịch gây không ít khó khăn cho khách du lịch trong việc sắp xếp, bố trí các hoạt động để
có một chuyến đi như ý muốn.
6
d. Khái niệm về tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị
nhân văn, công trình lao động sang tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu
cầu du lịch. Là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm – khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn
khách du lịch.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên

Về mặt lí thuyết nếu một vùng du lịch kinh doanh nhiều thể loại du lịch và đảm
bảo được cường độ hoạt động đều đặn trong các tháng, các năm thig tại vùng đó tính thời
vụ không tồn tại. Tuy nhiên khả năng đó là rất khó thực hiện vì có rất nhiều yếu tố tác
động lên hoạt động kinh doanh du lịch, làm cho hoạt động đó khó có thể đảm bảo được
cường độ đều đặn trong năm và vì vậy tồn tại tính thời vụ trong du lịch.
+ Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch, tùy
thuộc vào các loại hình du lịch phát triển.
Mỗi loại hình du lịch có mùa du lịch riêng, như tại các vùng biển của Việt Nam sẽ
phát triển loại hình du lịch nghỉ biển là chủ yếu thì mùa du lịch sẽ vào mùa hè, nhưng
nếu tại đó có nhiều nguồn nước khoáng có giá trị thì ở đó sẽ phát triển mạnh mẽ hai loại
hình du lịch là nghỉ biển vào mùa hè và du lịch nghĩ dưỡng, chữa bệnh vào mùa đông
dẫn đến tại địa điểm đó có hai mùa du lịch trong năm.
+ Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau đối với
các loại hình du lịch khác nhau
Độ dài của mùa du lịch và cường độ mùa chính còn phụ thuộc vào thể loại du lịch
khác nhau. Thông thường loại hình du lịch chữa bệnh thường có độ dài hơn nhưng cường
độ yếu vì giá trị tài nguyên du lịch phục vụ cho loại hình du lịch này ít biến động trong
năm. Trong khi đó du lịch nghỉ biển thì ngược lại: mùa du lịch ngắn hơn nhưng cường độ
mùa chính cao hơn nhiều vì tài nguyên du lịch phục vụ cho thể loại này phụ thuộc nhiều
vào thời tiết khí hậu. Để đơn giản hoá ta có thể nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch qua
sự thay đổi của cường độ hoạt động kinh doanh du lịch qua các khoảng thời gian (mỗi
tháng, mỗi ngày). Về mặt tổng quát có thể biểu thị thời vụ du lịch theo đồ thị sau:
8
Cường độ hoạt động
Một chu kì kinh doanh
Trước vụ
Đỉnh vụ
Sau vụ
Chính vụ
Thời gian

Đối với thể loại du lịch khác khí hậu không ảnh hưởng trực tiếp lên tài nguyên du
lịch. Khách du lịch của các thể loại du lịch này thường chọn khi thời tiết thuận lợi như
vào mùa xuân, mùa thu hay mùa khô để thực hiện cuộc hành trình du lịch. Do đó, biểu
hiện cường độ khách tập trung chủ yếu vào một số thời gian trong năm.
Điều kiện về tài nguyên du lịch như bờ biển đẹp, dài… mùa du lịch biển tăng và
ngược lại hoặc các danh lam thắng cảnh phong phú sẽ làm tăng cường độ du lịch tham
quan. Ở những vùng có suối nước khoáng tạo điều kiện du lịch chữa bệnh phát triển… Độ
dài của thời vụ du lịch của một vùng phụ thuộc vào sự đa dạng của các thể loại du lịch có
thể phát triển ở đó.
Ví dụ: Một nước có điều kiện phát triển du lịch nghỉ biển thì thời vụ du lịch sẽ ngắn
hơn so với một nước khác vừa có thể phát triển du lịch nghỉ biển vừa kết hợp với du lịch
chữa bệnh và văn hóa.
- Nhân tố kinh tế - xã hội – tâm lí
+ Về kinh tế:
Thu nhập là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới nhu cầu đi du lịch bởi
thực để thực hiện được chuyến đi du lịch thì cần phải có một lượng tiền cần thiết, nên thu
nhập của người dân ngày càng cao thì họ có nhu cầu đi du lịch càng nhiều. Vì vậy ở các
nước có nền kinh tế phát triển người ta đi du lịch nhiều hơn, họ có thể thực hiện nhiều
chuyến đi du lịch trong một năm, do đó nhu cầu đi du lịch trong mùa chính giảm, góp
phần làm giảm cường độ du lịch ở thời vụ du lịch chính. Điều đó cho thấy rõ tác động của
thu nhập đến tính thời vụ.
Sự thay đổi tỉ giá hối đoái cũng tác động khá lớn đến nhu cầu đi du lịch. Chẳng hạn
đồng tiền quốc gia nơi đến bị mất giá so với đồng tiền có khả năng chuyển đổi như USD,
EURO… thì sẽ làm tăng nhu cầu du lịch và ngược lại. Sự thay đổi có thể kéo theo làm
thay đổi mức độ, thời vụ của du lịch.
+ Thời gian nhàn rỗi:
Thời gian nhàn rỗi là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố không đều của nhu cầu du
lịch, con người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian nhàn rỗi.
Thời gian nghỉ phép năm tác động lên thời vụ du lịch, do độ dài của thời hạn phép
và thời gian sử dụng phép. Nếu thời gian phép ngắn thì người ta thường chỉ đi du lịch một

hưởng nhất định đến việc khắc phục sự tập trung những nhân tố tác động đến thời vụ du
lịch.
11
Chính sách giá của các cơ quan du lịch ở từng nước, từng vùng, các tổ chức kinh
doanh du lịch – khách sạn thường giảm giá các dịch vụ và hàng hóa trước và sau mùa
chính hoặc dùng các hình thức khuyến mãi để kéo dài thời vụ du lịch.
Các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo ảnh hưởng không nhỏ đến sự phân bố của
luồng khách du lịch giúp cho khách du lịch nắm được các thông tin về điểm du lịch để họ
có kế hoạch đi nghỉ sớm hoặc sau mùa chính một khi họ thấy có lợi.
Các nhân tố trên thông thường vừa tác động riêng lẻ, vừa tác động đồng thời, trong
thực tế mùa du lịch thường chịu ảnh hưởng của một vài nhân tố cùng một lúc. Ngoài ra
tác động của từng nhân tố có thể giảm đi khi có nhân tố khác tác động theo hướng ngược
lại. Ví dụ tác động của yếu tố khí hậu sẽ giảm nếu tạo ra cơ cấu của cơ sở vật chất kỹ
thuật thích hợp. Vì vậy, cần phải hiểu rõ các mối liên hệ và ràng buộc qua lại giữa các yếu
tố ảnh hưởng đến độ dài mùa của từng loại hình du lịch. Từ đó để tìm ra được mọi khả
năng kéo dài mùa kinh doanh du lịch hoạt động trong cả năm, nâng cao chất lượng phục
vụ và tăng nguồn thu cho doanh nghiệp du lịch, khách sạn.
c. Ảnh hưởng tính thời vụ đối với hoạt động du lịch
Tính thời vụ du lịch ảnh hưởng bất lợi đến tất cả các thành phần của quá trình du
lịch – đến cư dân sở tại, đến chính quyền địa phương và nhất là đến khách du lịch và nhà
kinh doanh du lịch.
- Đối với tài nguyên du lịch
Tính thời vụ trong du lịch làm cho việc sử dụng tài nguyên du lịch bất hợp lý, gây ra
lãng phí lớn. Cụ thể là trong mùa chính thì sử dụng quá tải nguồn tài nguyên dẫn đến
xuống cấp, cạn kiệt hoặc những hư háng. Trong khi đó khoảng thời gian trái vụ lại hầu
nh không được sử dụng còng nh không kịp để sửa chữa, phục hồi.
- Đối với môi trường sinh thái
Với cường độ hoạt động cao trong mùa vụ sẽ dẫn đến những tác động không nhỏ
tới môi trường sinh thái. Xả rác thải bừa bãi, ô nhiễm nguồn nước, chặt cây phá rừng, làm
hỏng cảnh quan.

nước, viễn thông cũng bị ảnh hưởng trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phục vụ
cho hoạt động du lịch.
- Đối với cư dân sở tại
Khi cầu du lịch tập trung quá lớn, gây nên sự mất cân đối, mất ổn định đối với các
phương tiện giao thông đại chúng, đối với mạng lưới phục vụ xã hội (giao thông công
chính, điện, nước, mạng lưới thương nghiệp…), làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt
hằng ngày của người dân địa phương.
13
Khi cầu du lịch giảm xuống và giảm tới mức bằng không thì những người làm hợp
đồng theo thời vụ sẽ không còn việc, ngoài ra ngay cả những nhân viên cố định ngoài thời
vụ cũng có thu nhập thấp hơn.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH
1.2.1. Ở Việt Nam
Việt Nam là nước có tài nguyên du lịch thuận lợi cho việc phát triển kinh doanh du
lịch quanh năm.
Sự đa dạng về khí hậu: Việt Nam có lãnh thổ kéo dài theo chiều Bắc – Nam. Do
vậy, chỉ có miền Bắc và miền Trung có mùa đông lạnh, ở miền Nam khí hậu nóng ấm
quanh năm, bờ biển dài thuận lợi cho kinh doanh du lich nghỉ biển cả năm.
Sự phong phú về tài nguyên nhân văn ở khắp mọi miền đất nước. Do đó, tính thời
vụ có thể hạn chế và có điều kiện giảm cường độ của thời vụ du lịch.
+ Trong giai đoạn hiện nay, đối tượng khách du lịch tại Việt Nam có động cơ và
mục đích rất khác nhau.
Khách du lịch nội địa đi du lịch chủ yếu là tắm biển, nghỉ dưỡng và tham quan lễ
hội. Họ đi du lịch chủ yếu vào các tháng mùa hè và các tháng đầu năm.
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hiện nay chủ yếu với mục đích kết hợp với
kinh doanh thăm dò thị trường, kí kết hợp đồng, một số với mục đích tham quan tìm hiểu,
khách đến Việt Nam chủ yếu là từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Luồng khách du lịch nội địa lớn hơn nhiều so với luồng khách du lịch quốc tế.
+ Thời vụ du lịch, độ dài của thời vụ du lịch và cường độ biểu hiện của thời vụ du
lịch ở các thành phố lớn, các tỉnh và trung tâm du lịch biển là khác nhau. Điều đó phụ

hè), nguồn lao động trong du lịch ngày càng tăng nhưng chất lượng chưa cao, cơ sở lưu
trú chỉ hoạt động sôi nổi trong mùa hè còn mùa đông thì ảm đạm và ít khách.
Như vậy có thể thấy rằng, tính thời vụ trong du lịch không chỉ ảnh hưởng đến một
địa phương, một tỉnh mà nó còn ảnh hưởng rất lớn tới phạm vi cả một nước hay một khu
vực.
Chương 2: TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH Ở THỊ XÃ CỬA LÒ,
TỈNH NGHỆ AN
2.1. KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
2.1.1. Giới thiệu chung về Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
15
Nguồn: Thành lập
Hình 2.1. Bản đồ hành chính Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Thị xã Cửa Lò nằm ở tọa độ từ 18
o
45 – 18
o
50 vĩ độ Bắc, từ 105
o
42’ – 105
o
45’ kinh
độ Đông, cách thành phố Vinh 16km về phía Đông Bắc, thủ đô Hà Nội hơn 300km về
phía Bắc và cách TP Hồ Chí Minh 1400km về phía Nam. Thị xã Cửa Lò cũng được nối
với Lào và Bắc Thái Lan bằng đường Quốc lộ 8A, cách Viên Chăn thủ đô của Lào
468km, Thị xã Cửa Lò nằm gọn trong vòng cung của 2 con sông: sông Cấm ở phía Bắc
và sông Lam ở phía Nam.
16
Dân số năm 2010 là 70.398 người, diện tích là 28,68 km2. Trong thời gian tới, Cửa
Lò sẽ sát nhập thêm 4 xã của huyện Nghi Lộc là Nghi Thạch, Nghi Khánh, Nghi Xuân và
Nghi Hợp nâng tổng diện tích của thị xã lên 49,52 km², dân số sẽ vượt trên 100.000

động quanh năm, tăng thêm thu nhập, giải quyết nhiều việc làm cho người dân địa
phương.
Sông Lam đổ ra Cửa Hội, dòng chảy mạnh ra biển Đông theo hải lưu hướng về phía
nam mang theo bao phù sa để biển Cửa Lò quanh năm trong xanh, nước biển trong vắt
nhìn thấy cát. Mùa hè, cũng là lúc gió tây nam vượt Trường Sơn đổ về, buổi sáng gió tây
nam đìu hiu ru sóng biển dập dìu; chiều muộn, trước khi hoàng hôn buông xuống thì cũng
là lúc gió tây ngừng thổi nhường chỗ cho gió nồm.
- Hệ thống đảo ven bờ
Về phía Bắc nằm ngay sát biển Cửa Lò có đảo Lan Châu, chia bãi tắm Cửa Lò thành
hai khu vực riêng biệt. Những lúc triều dâng, toàn đảo dầm chân trong nước biển. Dưới
chân núi, về phía đông nam có nhiều tẳng đá lớn, hình thù kỳ lạ với nhiều tên gọi khác
nhau. Trên đảo, năm 1936, vua Bảo Đại đã cho xây lâu đài để nghỉ dưỡng. Từ đây, du
khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị xã Cửa Lò và được phóng tầm mắt nhìn ngắm
biển khơi bao la. Tại đây có loài cúc biển đẹp lạ kỳ do chính vua Bảo Đại đem giống cây
từ Pháp về.
Về phía Đông Nam cách bờ biển 4km là đảo Song Ngư như hai con cá khổng lồ che
chắn bão to, gió lớn cho Cửa Hội. Đảo Ngư là nơi sinh sống của các hệ động thực vật rất
19
phong phú, gồm có các loài khỉ và các loài dê hoang dã, chim muông Hiện nay, thị xã
đang xây dựng khu du lịch sinh thái trên hòn đảo này.
Ngoài khơi chừng 20km là núi Quỳnh Nhai gồm hòn lớn và hòn con nối với nhau,
từ đất liền nhìn ra trông như cặp mắt, dân gian quen gọi là Đảo Mắt.
Phía Đông nam đảo Mắt có một cụm đá lô nhô, chất chồng tạo nên những hang
động kỳ thú gọi là động Tiên. Trên đỉnh đảo có một chạn đá rộng gọi là Động An Lạc.
Trong dân gian miền biển còn lưu giữ một truyền thuyết cổ tích “Nàng Tố Nương mỏi
mắt trông chồng” nói về hòn đảo này: “Tố Nương quê vùng An Lạc, Sơn Tây, chồng
nàng quê ở Hàm Hoan, nay là xứ Nghệ. Vợ chồng đều là tướng lĩnh của nghĩa quân Hai
Bà Trưng. Khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, vợ chồng lưu lạc mỗi người một nơi. Tố Nương
quyết định dong buồm về Hàm Hoan tìm chồng. Gần đến nơi, không may thuyền bị
phong ba dạt vào đảo Quỳnh Nhai. Đến đây, nàng không còn sức lực và phương tiện để đi

và vừa là điều khả thi.
Về mặt địa lý, tàu từ Singapore, Thái Lan, Malaysia và đảo Hải Nam (Trung Quốc)
đều có thể đưa Cửa Lò vào hành trình của mình và chỉ cần vài ngày ở trên bờ là có thể du
lịch thăm những nơi du lịch nổi tiếng của Nghệ An, Hà Tĩnh và cả Di sản thiên nhiên thế
giới- Phong Nha-Kẻ Bàng. Tàu chở khách là một một ngành kinh doanh lớn và phát triển
trong cộng đồng đặc biệt với người cao tuổi, đây là một biện pháp lý tưởng để tham quan
Châu á và Đông phương. Cảng Cửa Lò nằm trên vị trí tốt nhất ở phía Bắc Trung bộ Việt
Nam cho việc phát triển thị trường dịch vụ biển. Những khả năng du ngoạn trên bờ tới
những địa danh đẹp nhất Việt Nam đã tạo cho Cửa Lò một địa điểm lý tưởng cho cả các
công ty du lịch tàu biển đến cả những cảng quanh đấy.
b. Tiềm năng du lịch nhân văn
- Lễ hội
+ Lễ hội sông nước Cửa Lò
Đã thành thông lệ, vào 30/4 - 1/5 hằng năm, khu nghỉ mát biển Cửa Lò lại trở nên
đông vui và náo nhiệt với sự góp mặt của du khách khắp mọi miền đất nước. "Lễ hội sông
nước Cửa Lò" khai trương mùa du lịch mới tại Cửa Lò. Nhiều hoạt động văn hóa - nghệ
thuật, du lịch hấp dẫn có quy mô rất lớn khiến du khách "lạc" trong những tiết mục đậm
đà bản sắc của một vùng cửa biển.
Ngoài các chương trình truyền thống như lễ khai quang, rước thần, lễ tạ, yết cáo, hội
đua thuyền, liên hoan nghệ thuật quần chúng, thời trang biển Cửa Lò còn mở thêm
tuyến du lịch Bãi Chùa Đảo Ngư; quy hoạch, xây dựng chợ hải sản, chợ ẩm thực, chợ
đêm, các cụm dịch vụ để trưng bày và tiêu thụ các sản phẩm đặc trưng của thị xã và tỉnh
Nghệ An, phát triển những ngành nghề truyền thống gắn với nhu cầu phục vụ du lịch như
21
nghề khai thác chế biến hải sản, trồng rau sạch, thủ công mỹ nghệ, chế tác đá nhằm tạo
ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn mang đặc trưng miền biển xứ Nghệ.
+ Lễ rước bài vị Thái uý quận công Nguyễn Sư Hồi.

Cách đây 500 năm, từ một vòng cung biển hoang sơ, Thái uý quận công Nguyễn Sư
Hồi - Người con trai cả trí dũng song toàn của Khai quốc công thần - Cương quốc công

Xuân Hương (ở giữa) và Bãi tắm Song Ngư (ở phía Nam).
b. Du lịch văn hoá tâm linh
Ở vùng đất Cửa Lò có nhiều di tích lịch sử văn hoá: Đền thờ Nguyễn Xí, đền thờ
Nguyễn Sư Hồi, đền Thu Lũng, chùa Lô Sơn, chùa đảo Ngư, đi liền với các di tích ấy là
các lễ hội. Ngoài ra du khách còn có thể được nghe hát dân ca xứ Nghệ, tìm hiểu cuộc
sống, lịch sử văn hoá, ngôn ngữ của người dân nơi đây cũng là điều thú vị đối với khách
du lịch.
Từ Cửa Lò du khách còn có thể mở rộng diện tham quan tới các chùa nổi tiếng của
vùng lân cận như: Đền Cuông thờ An Dương Vương (Diễn Châu), khu du lịch Mai Hắc
Đế, Đền và mộ Đức thánh Hoàng Mười, khu di tích Kim Liên – quê hương Chủ tịch Hồ
Chí Minh , bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh.
c. Du lịch thể thao
Bơi, lặn, bóng chuyển bãi biển, lướt sóng, đua thuyền, du lượn, leo núi…đều có thể
tổ chức ở đây. Đặc biệt, dưới đáy biển có san hô ở khu vực đảo Ngư và trong chiến tranh,
có một số tàu thuyền, máy bay bị đắm ngoài khơi Cửa Lò. Những người ham mê môn thể
thao này có thể lặn xuống những con tàu đắm ngoài khơi, khám phá đáy đáy dương.
d. Du lịch sinh thái và nông nghiệp
Khu vực lận cận quanh Của Lò ngày càng diễn ra nhiều hoạt động kinh tế. Công
việc trồng hoa, lúa rau, cây ăn quả là những hoạt động hấp dẫn du khách tìm hiểu và
khám phá. Những khu chợ đang bắt đầu phát triển , tạo cho du khách cơ hội giao tiếp với
người dân địa phương. Du khách cũng có thể tới thăm nơi nuôi đà điểu,khỉ, dê, lợn
rừng… trên đảo Ngư, nuôi cá giò trên biển Đông hứa hẹn nhiều điều bất ngờ, thú vị.
Ngoài ra, du khách có thể đến tham quan khu du lịch sinh thái Song Ngư – Cửa Hội.
Khu du lịch sinh thái Cửa hội nằm ẩn mình dưới rừng phi lao xanh mát, quanh năm tắm
mình trong tiếng ru của rừng dương và biển cả. Khu du lịch sinh thái Cửa Hội là địa điểm
23
nghỉ mát lý tưởng cho những ai muốn thoát khỏi không khí ồn ào, náo nhiệt của chốn thị
thành.
e. Du lịch bằng thuyền
Sông Cấm và sông Lam đều có những cảnh đẹp trải dài hai bên bờ. Du lịch bằng

Hệ thống đường giao thông nội thị được bê tông, nhựa hóa 100% (khoảng trên 80
km). Thảm thực vật cây xanh, thảm cỏ, lâm viên trải dài nhiều kilômét dọc bờ biển.
Hiện tại Cửa Lò cũng đã có nhiều doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường dài mà
hành khách có thể tin tưởng lựa chọn như Công ty cổ phần du lịch quốc tế Phúc Lợi,
Công ty vận tải Văn Minh, công ty Ngọc Ánh, Công ty Vạn Xuân.
Tại Thị xã thì dịch vụ vận tải cũng đa dạng như tắc xi, xe ngựa, xích lô, xe ô tô điện.
Để đáp ứng nhu cầu thăm quan của du khách, UBND Cửa Lò chỉ đạo các doanh nghiệp
kinh doanh vận tải hành khách thực hiện nghiêm quy chế hoạt động du lịch của Thị xã.
Ngoài củng cố các dịch vụ hiện có, các doanh nghiệp còn phải chú trọng đến văn hóa ứng
xử và thái độ phục vụ với du khách. Vì thế, các doanh nghiệp trên cũng đã nhận thức
được vài trò trách nhiệm của mình trong công tác phục vụ nhu cầu đi lại của du khách.
Mục tiêu của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách ở Cửa Lò là không
chỉ tăng doanh thu cho đơn vị mà còn phấu đấu làm sao tạo ấn tượng đẹp trong lòng du
khách khi về với Thị xã du lịch.
b. Thông tin liên lạc
Năm 2012, Trung tâm Viễn thông Cửa Lò đang quản lý hơn 8.600 máy điện thoại cố
định, ADSL và thuê bao di động, mạng lưới đã được cáp quang ngầm hoá trải rộng trên
khắp 7 phường, vùng phụ cận thuộc huyện Nghi Lộc và hệ thống 6 tổng đài có dung
lượng gần 15 ngàn số, 8 trạm BTS Vinaphone. Với đội ngũ 40 cán bộ công nhân viên,
trong thời gian qua đội ngũ cán bộ nhân viên ở đây đã phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ
thuật, ứng dụng khoa học công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh không ngừng hiện đại
hóa mạng lưới, ứng dụng công nghệ đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ mới, từng bước khẳng
định thương hiệu của đơn vị. Đặc biệt là vào mùa du lịch 2012, trung tâm đã tiến hành mở
rộng dung lượng ở các trạm phát sóng, nâng dung lượng đường truyền cáp quang. Điều
này đã làm cho tình trạng tắc ngẽn mạng không còn xảy ra trong mùa du lịch.
Hiện đại hoá mạng thông tin liên lạc, đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong hệ thống lãnh đạo và quản lý. Phát
25

Trích đoạn Hệ thống nhà hàng, khách sạn Lượng khách du lịch Chi tiêu của khách du lịch Doanh thu du lịch Đối với chính quyền địa phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status