PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tính mùa vụ được hiểu là sự mất cân đối về “Cung” và “Cầu” du lịch
trong một không gian cụ thể như một hiện tượng của du lịch và được thể hiện ở
sự thay đổi số lượng khách, mức chi tiêu của khách, lao động trong du lịch và
tính hấp dẫn của điểm du lịch. Tính mùa vụ gây nên những khó khăn trong
kinh doanh du lịch, duy trì đội ngũ cán bộ, giảm hiệu quả đầu tư và gây nên
những rủi ro hoặc tạo nên sự quá tải về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch trong
mùa du lịch và ngược lại sự lãng phí cơ sở vật chất trong mùa vắng khách.
Nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, hoạt động du lịch của
nước ta bị ảnh hưởng bởi tính mùa vụ du lịch trên bình diện quốc gia nói chung
và các điểm du lịch nói riêng. Điều này đang làm đau đầu các nhà quản lý,
hoạch định chính sách và các nhà doanh nghiệp. Tuy nhiên, cho tới thời điểm
này các nghiên cứu về tính mùa vụ trong du lịch chỉ dừng lại ở một số bài viết
trên các tạp chí hoặc những cố gắng riêng lẻ của các doanh nghiệp mà chưa có
một nghiên cứu chuyên sâu nào để đưa ra những luận cứ khoa học về bản chất,
nguyên nhân hình thành, hướng tác động cũng như các giải pháp giảm thiểu tác
động của tính mùa vụ du lịch. Vấn đề đặt ra là xác định được những yếu tố
chính của hiện tượng này làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp hạn chế
những tác động tiêu cực đến hoạt động du lịch. Chính vì vậy việc nghiên cứu
tính mùa vụ du lịch không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn
đối với hoạt động phát triển du lịch của nước ta.
Bà Rịa Vũng Tàu là một điểm du lịch nổi tiếng không chỉ trong nước ta
mà đối với cả khách du lịch quốc tế, vì thế em đã chọn dịa danh này làm tiền đề
cho đề tài nghiên cứu: Du lịch Bà Rịa Vũng Tàu - giải pháp hạn chế tính
thời vụ trong du lịch tỉnh
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Xác lập cơ sở khoa học về ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động
du lịch góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch.
3. Phạm vi nghiên cứu:
1
lịch.
2
+ Tác động của tính thời vụ đến hoạt động du lịch: đến công tác tổ chức
quản lý và hiệu quả kinh doanh, đến tài nguyên và môi trường du lịch và
đến kinh tế - xã hội.
Thực trạng về tính thời vụ trong hoạt động du lịch ở Việt nam nói chung và
tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nói riêng.
Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của tính thời vụ đối với
hoạt động du lịch ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu bao gồm:
- Chủ động đề ra phương án sử dụng nhân sự và cơ sở kĩ thuật hợp lý
trong mùa thấp điểm
- Liên kết các đơn vị kinh doanh bên cạnh để hỗ trợ về nguồn nhân
lực lúc quá tải
- Bình ổn về giá
- Làm kéo dài độ dài của thời vụ du lịch
- Tăng thêm các loại hình dịch vụ bổ sung
- Các chính sách kích cầu ngoài thời vụ chính
- Tạo điều kiện cho thời vụ thứ hai
7. Khả năng ứng dụng thực tế:
- Là căn cứ để xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng
của tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Có giá trị tham khảo có ý nghĩa thực tế trong công tác nghiên cứu.
3
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ TÍNH THỜI VỤ
TRONG DU LỊCH
1.1. Khái niệm các nguồn lực để phát triển du lịch
1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch
Trong vòng hơn 7 thập kỷ vừa qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội Quốc tế
các Tổ chức Du lịch (International of Union Official Travel organisation –
tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời
của một du khách nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau với mục đích hoà
bình hữu nghị.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khách du lịch đứng ở trên các góc độ
khác nhau.
Liên đoàn quốc tế các tổ chức du lịch (tiền thân của tổ chức du lịch thế
giới): “Khách du lịch là người ở lại nơi tham quan ít nhất 24h qua đêm vì lý do
giải trí, nghỉ ngơi hay công việc như: thăm thân, tôn giáo, học tập, công tác”.
Đến năm 1968, tổ chức này lại định nghĩa khác: “Khách du lịch là bất
kỳ ai ngủ qua đêm”.
Uỷ ban xem xét tài nguyên Quốc gia của Mỹ: “Du khách là người đi ra
khỏi nhà ít nhất 50 dặm vì công việc giải trí, việc riêng trừ việc đi lại hàng
ngày, không kể có qua đêm hay không.”
Địa lý du lịch Việt Nam định nghĩa: “Du khách từ bên ngoài đến địa
điểm du lịch chủ yếu nhằm mục đích nâng cao nhận thức với môi trường xung
quanh, tham gia vào các hoạt động thư giãn, giải trí, thể thao, văn hoá kèm
theo việc tiêu thụ những giá trị tự nhiên, kinh tế, dịch vụ và qua đêm tại cơ sở
lưu trú của ngành du lịch”.
2 Tính tất yếu của sự ra đời và xu hướng phát triển du lịch
Hiện tượng du lịch xuất hiện và có chiều hướng phát triển từ khi xã hội
loài người bước vào qua trình phân công lao động. Tiểu thủ công nghiệp tách
khỏi sản xuất nông nghiệp, ngành thương nghiệp tách khỏi ngành sản xuất vật
chất, từ đó xuất hiện tầng lớp thương gia. Họ thường xuyên chở hàng đi đến
các nơi khác để trao đổi, họ cần đến các dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, vận
chuyển. Hiện thượng du lịch còn thể hiện là những cuộc hành hương đến các
chùa chiền, nhà thờ, thánh địa để cúng bái cầu nguyện. Con người sống trong
xã hội đã nảy sinh những ham muốn hành trình đi đây đi đó để thỏa mãn nhu
cầu về tìm hiểu thế giới xung quanh để tìm cái mới lạ nhằm nâng cao nhận thức
về mọi mặt.
5
Quá trình phát triển tự nhiên của du lịch
Như chúng ta vẫn thấy, nền du lịch được đánh giá là đang trên đà phát
triển. Tuy nhiên, tốc độ phát triển luôn thay đổi theo nhiều xu hướng khác nhau
6
trong suốt hàng trăm năm trước, và ngày càng đa dạng hóa hơn trong suốt
những năm qua. Trong năm thập kỷ năm 1990, du lịch đã tạo nên một bước
ngoặt phát triển khá ấn tượng, tạo nên một bước ngoặt rất khác biệt so với 3
thập kỷ trước. Theo khuynh hướng toàn cầu, những thay đổi to lớn của cuộc
sống hiện đại đang mở ra cho chúng ta những cơ hội mới và viễn cảnh tươi
sáng mà khó có thời điểm nào có được. Nói theo cách đó, những gì đang xảy ra
mà chúng ta thấy được xem như là “Sự thiết lập trực tự của thế giới mới” sau
thời kỳ bị chiến tranh lạnh ảnh hưởng và chi phối, đây là lúc chúng ta vươn lên
tạo nên những trang sử mới cho thiên niên kỷ thứ 3 ở Tây Âu.
Ở một số khía cạnh khác của sự tiến triển đã được nhận thấy rõ: trên
thực tế, chúng ta đều nằm trong sự tiên đoán trước đó, một trong những dự
đoán đã khuấy động mối quan tâm lo lắng thậm chí tạo nên sự bất mãn cho mọi
người. Chính những tác động này đã trở thành mối lưu tâm lớn đối với các
quốc gia phát triển, nơi luôn tự hào về một nền kinh tế vững mạnh và vượt trội
với một cuộc sống ổn định. Và có lẽ đây lầ lần đầu tiên những thay đổi này
hoàn toàn bị mất kiểm soát, và có tác động không tốt đến văn hóa đời sống lâu
đời của họ. Nhưng xét trong một hoàn cảnh khác, đây lại là một trong số ít cơ
hội mà cuộc sống mang lại.
Xói mòn văn hóa, hủy hoại môi trường và đồng hóa phong cách sống,
nhưng thực chất đó là do sự phát triển ngày càng cao cảu kinh tế và xã hội đã
cho ra đời ngành du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu giải trí từ cuộc sống.
Hoặc do những định kiến khác nhau từ dư luận dành cho du lịch, một bộ
phận gồm những cá nhân và tổ chức yêu thích du lịch đã có những hoạt động
tích cực trong việc xây dựng hình ảnh cảu một nền du lịch tương lai đầy tiềm
năng này. Các nhà khảo sát và phân tích đã nhận định rằng: trong tương lai du
lịch sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và hạn chế. Những điều này sẽ buộc
riêng để tiến đến một nguồn nhân công rẻ. Giả sử rằng đó là một khuynh hướng
tiếp tục và trải dài đến các nước khác, điều đó khiến ngành công nghiệp du lịch
xem xét làm sao cách xử sự cảu con người trong một nền tảng tri thức xã hội có
thể khác những con người trong một nền sản xuất hoặc là một trong nền tảng
dịch vụ truyền thống cố định hơn.
Mặc dù là quá sớm để đi đến kết luận, chắc chắn rằng những thay đổi
mà phong trào tự do lao động sẽ mang lại cho cơ cấu xã hội của Châu Âu, nó
8
xem như sự hợp lý để đoán rằng tầm quan trọng của sự tồn tại của mỗi quốc gia
sẽ đi xuống. một tong những mục tiêu chính của Châu Âu là đi đến tiêu chuẩn,
tiền tệ chung và hơn nữa là một thể chế chính trị chung, vừa thoáng nhìn một lý
luận chặt chẽ mà sự hình thành một cộng đồng Châu Âu mới là một kết quả.
Trong điều kiện thực tiễn chặt chẽ, đó có thể là một trường hợp.
Những thành viên trong hội đồng chính sách du lịch quốc tế rất chú ý
đến tầm quan trọng của sự gia tăng các khối Thương mại, khối châu Âu không
biên giới hầu như là thực tế. Hội đồng Thương mại tự do Bắc Mĩ đã tạo ra
nhiều khối khác nhau, để đáp ứng hai sáng kiến đó các quốc gia châu Á đã bắt
đầu phản ánh nhu cầu cho sự sắp xếp thỏa đáng.
Cùng một lúc nó sẽ quá độ rút ngắn sự phân biệt giữa các quốc gia và do
đó sự kêu gọi của một quốc gia đặc biệt sẽ là một địa điểm du lịch duy nhất.
Mặc dù đầu cơ của quan điểm này có một số bằng chứng như là một sự phản
kháng cho sự đi xuống giống nhau của các quốc gia, sẽ có sự phản kháng nổi
lên trong những trung tâm thành phố lớn hoặc các bang. Những bang này có
thể trở thành nền tảng cho cả sự phát triển của nền kinh tế và cho mỗi cá nhân.
Liên quan trực tiếp tới ngành du lịch là khả năng mà các bang mới có thể trở
thành nền tảng chính yếu cho sự phát triển của khu vực.
Sự xóa bỏ biên giới ngày càng làm cho di chuyển dân số bên trong các
khối lượng thương mại, có nhiều người sẽ đòi hỏi nhu cầu lẽ phải cho phong
trào tự do được mở rộng, một ngày không xa khi phong trào tự du của tất cả
mọi người trên thế giới có thể gọi là “lẽ công bằng cho con người”. Mặc dù
Doanh nghiệp du lịch là một hệ thống mở có quan hệ chặt chẽ
với môi trường kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào trong hệ thống
phân công lao
động xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng. Doanh nghiệp du lịch
là một đơn vị cung ứng trên thị trường du lịch, đồng thời là một đơn vị tiêu
thụ.
Công ty lữ hành là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh du lịch trọn
gói cho khách du lịch. Ngoài ra, công ty lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt
động trung gian, bán các sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực
hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác, đảm bảo phục vụ các nhu cầu
du lịch của khách từ khâu đầu đến khâu cuối cùng.
10
Khách sạn: Để đáp ứng nhu cầu về lưu trú các doanh nghiệp tồn tại
dưới nhiều hình thức, tên gọi khác nhau: khách sạn, motel, làng du lịch, lều
trại, biệt thự,…ứng với mỗi một tên gọi là hình thức kinh doanh khác nhau và
khách sạn được định nghĩa như sau:
Khách sạn là cơ sở cung cấp dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi,
dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho
khách lưu lại tạm thời qua đêm tại các điểm du lịch).
Như vậy, qua đây ta có thể thấy được hoạt động kinh doanh khách
sạn là hoạt động kinh doanh các dịch vụ cho thuê buồng ngủ, ăn uống và các
dịch vụ khác của khách sạn nhằm thoả mãn các nhu cầu về lưu trú tạm thời
của khách tại các điểm du lịch với mục đích thu lợi nhuận.
2 Các nguồn lực để phát triển du lịch
Qua kinh nghiệm hoạt động du lịch trên thế giới đã cho thấy rằng để có
thể phát triển được ngành du lịch cần phải có những nguồn lực chủ yếu bao
gồm:
1 Tài nguyên thiên nhiên
Thiên nhiên là môi trường sống của con người và sinh vật trên trái đất,
song chỉ có các thành phần và cá thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián được
phẩm du lịch hoàn chỉnh, có tính tổng hợp cao. Vì thế các tài nguyên du lịch
cần được xem xét dưới các gốc độ tổng hợp của các dạng tài nguyên với nhau
tại mỗi một đơn vị lãnh thổ có không gian và thời gian xác định.
2 Tài nguyên nhân văn
Dân cư, dân tộc học:
Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hóa,
phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và
có địa bàn cư trú nhất định. Những đặc thù của từng dân tộc có sức hấp dẫn
riêng đối với khách du lịch.
Các đối tượng du lịch gắn liền với dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là
các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về
kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang
phục dân tộc…
Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều thể hiện những sắc thái riêng biệt của
mình để thu hút khách du lịch. Người Tây Ban Nha ở vùng biển Địa Trung Hải
với nền văn hóa Phlamancô và truyền thống đấu bò là đối tượng hấp dẫn khách
12
du lịch nghỉ hè ở châu Âu. Đất nước Pháp, Italia, Hy Lạp… là những cái nôi
của văn minh châu Âu. Kho tàng văn hóa, sinh hoạt văn hóa đặc thù là điều
kiện thuận lợi cho công nghiệp du lịch phát triển.
Di tích lịch sử - văn hóa, cách mạng: Di tích lịch sử - văn hóa là những không
gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch
sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
Di tích lịch sử - văn hóa ở mỗi dân tộc, mỗi quốc gia được phân chia thành:
o Di tích văn hóa khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn
hóa, thuộc về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào
đó trong lịch sử cổ đại.
o Di tích lịch sử: di tích lịch sr thường bao gồm (1) di tích ghi dấu về dân tộc
học; (2) di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết
định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương; (3) di tích ghi dấu
gian, những trang phục của vua chúa cổ xưa hẳn sẽ làm du khách thú vị hơn
gấp nhiều lần. Những đội ca nhạc của chùa, nhà thờ, những ngày tết tát nước,
những ngày hội đua thuyền trên sông… sẽ phục vụ tốt hơn nhu cầu thưởng
ngoạn của khách.
Nghề và làng nghề truyền thống: Nghề thủ công truyền thống cũng là loại tài
nguyên du lịch nhân văn quan trọng và có sức hấp dẫn lớn đối với du khách
thông qua những sản phẩm thủ công độc đáo, đặc sắc. Đấy cũng chính là
những đặc tính riêng của các nền văn hóa và là sức hấp dẫn của các nghề và
làng thủ công truyền thống. Những nghề thủ công truyền thống bao gồm: nghề
chạm khắc đá, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề dệt –
thêu ren truyền thống, nghề sơn mài và khảm.
Các sự kiện văn hóa, thể thao: Những hoạt động mang tính sự kiện như các giải
thể thao lớn, các cuộc triển lãm, các thành tựu kinh té quốc dân, các hội chợ,
các liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế hay dân tộc, các lễ hội điển
hình… cũng là những đối tượng hấp dẫn du khách.
Thông thường những đối tượng văn hóa này thường tập trung ở những
thành phố lớn, và những thành phố này là những hạt nhân của các trung tâm du
lịch quốc gia, vùng và khu vực.
3 Cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật
Cơ sở vật chất kĩ thuật chuyên ngành và cơ sở hạ tầng chung của nền
kinh tế là yếu tố quan trọng để phát triển ngành du lịch. Quốc gia nào nếu có cơ
sở vật chất kĩ thuật chuyên ngành và cơ sở hạ tầng chung yếu kém thì quốc gia
14
đó khó thành công trong chiến lược phát triển cho ngành du lịch hay phát triển
nền kinh tế quốc dân nói chung. Có cơ sở hạ tầng tốt thì lợi thế cạnh tranh rất
mạnh về thu hút du khách, thậm chí sẽ hấp dẫn nhà đầu tư.
4 Các yếu tố khác
Một yếu tố vô cùng quan trọng tạo nguồn tìm năng cho ngành du lịch là
chủ trương chính sách đầu tư của nhà nước. Kinh nghiệm cuả một số nước cho
thấy khi Chính phủ đầu tư mạnh cho ngành du lịch thì tốc độ tăng trưởng của
tích cực hơn. Tại phần lớn các quốc gia, du lịch là ngành có doanh thu lớn
nhất trong nền thương mại quốc tế. Ở một số nước khác nó nằm trong top 3
ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận cao. Du lịch đang ngày càng phát triển
nhanh chóng và trở thành một vấn đề xã hội phổ biến và ảnh hưởng kinh tế
trên toàn thế giới.
Năm 1998, WTTC và WEFA Group cam kết nâng cao phương pháp
nghiên cứu về tiêu chuẩn của việc thanh toán từ xa thông qua vệ tinh, được
đưa ra dưới sự ủng hộ của tổ chức du lịch thế giới (WTO). Sự đánh giá của
họ được rút ra từ các dữ liệu gốc, và sự xác nhận chính xác hơn bởi các dữ
liệu nghiên cứu toàn diện về kinh tế của Tổ chức toàn cầu WEFA. Tất cả
những sự nghiên cứu kinh tế của WTTC và WEFA đã được tổ chức theo tiêu
chuẩn quốc tế về thanh từ xa thông qua vệ tinh cho du lịch và kinh doanh du
lịch. Việc cung cấp sự hiểu biết lớn hơn về nền kinh tế đã tạo nên nề công
nghiệp du lịch và kinh doanh du lịch, và một sự kết hợp giữa du lịch toàn
diện và nền kinh tế du lịch. Trước đây chỉ cho thấy sự hạn chế của một mặt
sản xuất nào đó, trong khi cuối cùng lại gây ảnh hưởng đến một số mặt chủ
đạo của nền kinh tế như là một hệ thống tư bản, sức tiêu dùng của nhà nước
và thương mại xuất khẩu.
WTTC đang cập nhật thông tin cơ bản trong khoảng 3 tháng/ lần. Các
bạn được khuyến khích tham khảo thông tin mới nhất trên website
Khi nền du lịch phát triển, nó đã chuyển dần từ việc chỉ cung cấp cho
người giàu sang cung cấp cho đa số, bao gồm hàng triệu con người. WTO
mong muốn phát triển các số liệu du lịch trong ấn bản hàng năm của họ như là
Tourism Highlight và Compendium of Tourism Statistics.
1.2.1 Vai trò của ngành du lịch đối với nền kinh tế
16
1.2.1.1 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế
• Ngành du lịch là ngành góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế: nếu chúng ta cơ cấu ngành trong GDP của một số quốc gia tiêu biểu,
cho thấy du lịch đã đóng góp phần lớn vào GDP của quốc gia này. Tại khu vực
Đông Á – Thái Bình Dương, thu nhập du lịch của Indonesia và Philippines
chiếm 2%, Malaysia chiếm 5,72%, Thái Lan chiếm 5,46% GDP, Singgapore và
Hong Kong đều chiếm 4 – 5% GDP.
Trên phạm vi toàn cầu, thu nhập của ngành du lịch tương đương 45,8%
tổng thu nhập cảu toàn ngành dịch vụ trong giai đoạn 1990 – 2002; đặc biệt tại
các quốc gia đng phát triển, tỷ trọng đóng góp của ngành du lịch chiếm đến
60% toàn ngành dịch vụ. Ngành du lịch là ngành công nghiệp sử dụng nhiều
lao động, là ngành chủ lực có mức đóng góp quan trọng cho ngân sách quốc
gia. Trong năm 2002, thống kê về ngành du lịch đã đóng góp 8,8% vào GDP
thế giới, trong đó du lịch nội địa chiếm 75%. WTO dự báo mức đóng góp trực
tiếp hoặc gián tiếp của ngành du lịch vào GDP thế giới sẽ lên tới tỷ lệ 12,5%
vào năm 2010.
1.2.1.2 Vai trò ngành du lịch đối với phát triển các lĩnh vực kinh tế
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, giữa du lịch với các ngành kinh tế
khác có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau nhưng vẫn mang tính độc lập
tương đối của nó. Các ngành kinh tế phát triển tạo tiền đề quan trọng cho ngành
du lịch và ngược lại du lịch phát triển sẽ là đòn bẩy, là ngòi nổ kéo các ngành
khác phát triển theo.
Du lịch với các ngành nghề sản xuất – xuất khẩu:
Đối với hàng tiêu dùng: trong quá trình sản xuất đã tạo ra khối lượng hàng hóa
lớn, thị trường nội địa không thể tiêu thụ hết sản phẩm, việc xuất khẩu lại gặp
khó khăn do vấn đề cạnh tranh và bảo hộ mậu dịch nên người ta đang tìm
phương pháp để giải quyết. Một trong những lối ra đó là xuất khẩu tại chỗ bằng
việc mở cửa du lịch, thu hút nhiều khách quốc tế đến thăm là một trong những
phương thức để xuất khẩu hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ bằng các cửa
hàng miễn thuế tại sân bay, bến cảng, trung tâm thương mại. Theo tính toán ở
Thụy Sĩ cho thấy một món ăn xuất khẩu đơn thuần chỉ thu 6 USD, nếu phục vụ
tại chỗ cho khách nước ngoài có thể thu được 20USD cao hơn 3,3 lần. Như vậy
xuất khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ đem lại hiệu quả rất lớn cho nền kinh tế.
nội địa đi lại trên thế giới hàng năm đã đem lại nhiều tỷ đôla thu nhập cho các
công ty cung ứng du lịch, cho các hãng vận tải hàng không – đường biển –
đường sắt… và tất nhiên tăng cả nguồn thu cho ngân sách các quốc gia. Nhà
19
nước có đủ điều kiện tài chính nên dễ dàng tăng cường đầu tư xây dựng, nâng
cấp cơ sở hạ tầng giao thông trang bị thêm nhiều phương tiện vận chuyển hiện
đại – an toàn – tiện nghi hơn cho xã hội và du khách, thúc đẩy du lịch phát triển
mạnh. Chính giao thông – vận tải phát triển tốt đã trở thành động lực thúc đẩy
người đi du lịch nhiều hơn. Hơn nữa, hệ thống giao thông – vận tải còn cung
cấp một loại dịch vụ du lịch cơ bản – dịch vụ vận chuyển – phục vụ cho du
khách trong cuộc hành trình.
Kinh nghiệm phát triển du lịch trên thế giới cho thấy quốc gia hoặc lãnh
thổ nào có mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông hoàn chỉnh – hiện đại, những
phương tiện vận tải tiên tiến, … thì ở đó ngành du lịch phát triển mạnh.
Du lịch và viễn thông – tin học:
Ngày nay, viễn thông là ngành cơ sở hạ tầng vô cùng quan trọng của nền
kinh tế. Đối với du khách, đặc biệt là du khách từ các nước công nghiệp hóa,
dịch vụ viễn thông cần như không khí đối với cuộc sống nên viễn thông là dịch
vụ tiện ích không thể thiếu được trong quá trình tham quan du lịch. Đối với đơn
vị cung ứng dịch vụ, viễn thông còn là phương tiện tối thiết cần trong việc tổ
chức – quản lý – kinh doanh và thực hiện chương trình du lịch. Trên góc độ vĩ
mô, viễn thông phát triển đã thúc đẩy mối quan hệ giao thương giữa các quốc
gia, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư quốc tế, làm cho các cộng đồng
xa xôi xích lại gần nhau và thúc đẩy cho ngành du lịch phát triển. Nhờ sự phát
triển nhanh của công nghệ viễn thông, dặc biệt với dịch vụ Roaming toàn cầu
giữa các mạng viễn thông của các nước với nhau, du khách có thể sử dụng một
cách dễ dàng dịch vụ điện thoại di động, truy cập Internet khi đi đến bất kì
nước nào có tham gia vào hiệp định Roaming bằng chính số điện thoại hoặc
account Internet đã đăng ký ở địa phương.
Với công nghệ thẻ thông minh và mạng Internet toàn cầu giờ đây du
Ngành du lịch đóng góp vào ngân sách quốc gia thông qua thuế gián thu đánh
trên người tiêu dùng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ vào báo cáo của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới – WTTC – về
đóng góp của ngành du lịch vào nền kinh tế thế giới cho thấy số thuế ( bao gồm
thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) do ngành du
lịch đóng góp 820 tỷ USD vào năm 2000, sẽ đạt tới 1.765,3 tỷ USD vào năm
2010. Giữa ngành du lịch và thuế có mối quan hệ tác động qua lại, thuế suất
21
cao hay thấp tác động ngay lập tức đến hoạt động kinh doanh của ngành du
lịch. Nếu Nhà nước có chính sách thuế không thích đáng đối với ngành du lịch
sẽ khuyến khích du khách tìm đến những địa điểm khác để du lịch.
Đối với Hải quan – Công an – Ngoại giao: du lịch và các ngành Hải quan,
Công an, Ngoại giao cũng có mối quan hệ vô cùng khăng khít. Chính nhân viên
của những ngành này là những người mà du khách tiếp xúc trước tiên hoặc sau
cùng khi đến tham quan một quốc gia khác. Để thu hút khách, ấn tượng đầu
tiên đóng vai trò vô cùng quan trọng là thái độ , cách đối xử của cán bộ - viên
chức trong quá trình xin duyệt thủ tục nhập – xuất cảnh, khai báo thủ tục hải
quan ở các cửa khẩu sẽ tạo lập hình ảnh ban đầu khó quên trong lòng du khách.
1.2.1.3 Vai trò của du lịch trong lĩnh vực văn hóa – xã hội
Du lịch là ngành tạo ra hàng trăm triệu công ăn việc làm
Phát triển du lịch khắp quốc gia đối phó với nạn thất nghiệp nhờ khả
năng thu hut một lượng lớn nhân công làm việc trong ngành du lịch cũng
như những ngành liên quan. Theo thống kê của WTO trong năm 1999
ngành du lịch toàn cầu đã tạo ra 192,3 triệu việc làm, và năm 2000 ở Liên
minh châu Âu ngành du lịch đã tạo ra việc làm cho hơn 20 triệu người,
nước Anh hơn 1,5 triệu việc làm cũng do du lịch nước này tạo ra. Như vây,
dựa theo WTO trong dự án VIE 89/003 thì một việc làm trong ngành du
lịch sẽ phát sinh 3,25 việc làm ở các ngành khác tại Indonesia, và 2 việc
làm khác tại Việt Nam. Xét dưới khía cạnh hệ số sử dụng nhân công,
nghiên cứu tình hình lao động trong nền kinh tế tại các nước ASEAN và
thường xuyên tổ chức các chuyến du lịch học tập có chủ đích vào cuối tuần hay
kỳ nghỉ hè để giúp học viên cũng cố kiến thức.
• Về mặt giao tiếp và hoạt động xã hội:
Thực tế cho thấy khi thực hiện các chuyến du hành người ta có dịp trực
tiếp đối thoại, tìm hiểu lẫn nhau giữa những người trong cùng một chuyến đi
hoặc giữa đoàn du khách với cộng đồng dân cư tại nơi đến du lịch nên con
người có cơ hội để thong cảm – hiểu biết – xíh lại gần nhau hơn. Mặt khác, do
tận mắt chứng kiến và hiểu biết tường tận hoàn cảnh, tình hình, môi trường tự
nhiên và xã hội tại các cộng đồng, địa phương khác nhau nên các hoạt động xã
hội được thực hiện trực tiếp và có hiệu quả.
Ngành du lịch góp phần quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc
sống
• Giải trí:
23
Do công nghiệp hóa, đô thị hóa khiến cho không gian làm việc, sinh
sống của con người bị thu hẹp lạo trong bốn bức tường. Cường độ lao động
khẩn trương, không khí làm việc căng thẳng nên họ khao khát tìm nơi yên vắng
có môi trường sinh thái trong lành để thư giãn, nghỉ ngơi, đi du lịch. Nội dung
của tuyên bố ở Manila về du lịch cũng cho thấy mọi nhận thức về phát triển
kinh tế - xã hội và văn hóa của nhân loại đều phải tính đến hoạt động mang tính
quốc gia và quốc tế của du lịch và giải trí – những hoạt động hiện đang là bộ
phận không thể tách rời cuộc sống của quần chúng nhân dân vào các kỳ nghỉ.
• Sức khỏe:
Với nhịp sống, lao động dồn dập của xã hội công nghiệp hiện đại đã làm
xuất hiện những căn bệnh mà thế kỷ trước đây chưa hoặc ít có như: căng thẳng
thần kinh, huyết áp cao, bệnh nghề nghiệp,… Ở Nhật Bản, những năm gần đây
do cường độ lao động quá căng thẳng và thời gian làm việc dài đã xuất hiện
một chứng bệnh Karoshi, gây cái chết đột ngột do tim và não ngừng làm việc,
cho nên các công ty, xí nghiệp Nhật Bản thường khuyến khích công nhân của
họ đi du lịch, giải trí để hồi phục sức khỏe. Như vậy, du lịch vừa là mục đích
trường tự nhiên, đỏ xô ra thăm các quan cảnh biển và dẫn đến thiệt hại các khu
di tích lịch sử. Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc gần ¾ cồn
cát tại bờ biển Địa Trung Hải giữa Gibralar và Sicily đã biến mất do việc xây
dựng các khu nghỉ mát hay sự xói mòn do san bằng đất đai để phát triển. Tại
Kenya nhu cầu về khu nghỉ mát du lịch và khách sạn đã dẫn đến việc phá hủy
khu rừng cây đước để làm vật liệu xây dựng. nhiều nơi là tổ ấm của các loài
động vật dẫ trở thành địa điểm để xây dựng các nhà nghỉ của du khách.
Ô nhiễm: là nhân tố tác động tiêu cực chủ yếu của du lịch. Giao thông là đầu
mối cơ bản của cả ô nhiễm không khí và tiếng ồn; người ta ước tính rằng
khoảng 2 triệu tấn nhiên liệu hàng không được đốt cháy mỗi năm tạo ra 550
triệu tấn khí đốt nhà kính và 3,5 triệu tấn hóa chất tạo ra mưa axit.[70, tr.257].
Ô nhiễm nước từ nước thải và sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và
phân bón ở các khu phong cảnh giải trí cũng là những vấn đề cơ bản cho nhiều
địa điểm du lịch. Ví dụ, tại vùng Caribe nước thải không được xử lý đã dẫn đến
các khu vực giải trí biển có nhiều cấp độ nhiễm khuẩn cao. Nước thải du lịch
cũng có thể gây ra một số vấn đề do các hệ thống xử lý nước thải quá tải và rác
thải như ở New Forest của Anh quốc nơi mà hàng trăm chai lọ rỗng được thu
lượm mọi năm. Nhiều nhân tố tiêu cực này bị ảnh hưởng liên đới và do những
tác động lâu dài và tích lũy của việc phát triển du lịch, một kinh nghiệm ở khu
25