Đề tài :
TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH VÀ CÁC BIỆN PHÁP
KHẮC PHỤC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH AO VUA
LỜI NÓI ĐẦU
Hà Tây là một trong những tỉnh có tiềm năng to lớn trong việc phát triển
Du lịch. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (Năm1999) đã xác định
“Trong năm năm tới phải tăng cường đầu tư phát triển du lịch thành ngành kinh
tế mũi nhọn...”. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Tây đến năm 2010
được lập năm 1994 cũng đã chỉ ra những tiềm năng cho sự phát triển của du
lịch Hà Tây và xác định cụm Sơn Tây - Ba Vì là một trung tâm của sự phát
triển đó với các tiềm năng thế mạnh cho du lịch sinh thái, du lịch nghỉ ngơi
cuối tuần, vui chơi giải trí và tham quan các di tích lịch sử văn hoá.
Ba Vì là một vùng đất cổ có truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời và đến
nay vẫn bảo lưu được nhiều giá trị đặc sắc. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Ba Vì
một vùng rừng núi “nhất cao là núi Ba Vì” gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh
- Thuỷ Tinh với những giá trị sâu sắc về địa hình, khí hậu, động thực vật... để
hình thành nên một khu vực với rất nhiều những điểm phát triển hoạt động du
lịch. Đó là Ao Vua, Khoang Xanh – Suối Tiên, Thác Mơ, Thác Ngà, Thác
Hương, Vườn Quốc gia Ba Vì, hồ Suối Hai, rừng nguyên sinh Bằng Tạ, nguồn
nước khoáng thiên nhiên Thuần Mỹ, đồi cò Ngọc Nhị, khu di tích K 9... Trong
đó Ao Vua chính là điểm nổi bật với việc trở thành điểm du lịch đầu tiên đã trải
qua quá trình phát triển hiện chiếm tới trên 60% số lượng du khách, 50%
doanh thu, 80% nộp ngân sách của ngành du lịch Ba Vì.
Quá trình thực tập tại Công ty cổ phần Du lịch Ao Vua đã cho thấy do
quá phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên lại chủ yếu là các loại hình du lịch sinh
thái, tham quan nghỉ dưỡng tại vùng núi Ba Vì nên đặc điểm nổi trong hoạt
động kinh doanh du lịch ở đây là khá rõ rệt. Nghiên cứu về tính thời vụ sẽ cho
ta một cái nhìn đúng đắn về du lịch Ao Vua, tìm ra những phương hướng, giải
pháp tháo gỡ những khó khăn và giúp cho sự phát triển của Công ty.
2
7. Doanh nghiệp kinh doanh du lịch
II. Tính thời vụ trong du lịch
1. Khái niệm
2. ảnh hưởng của tính thời vụ trong du lịch
3. Các nhân tố quyết định
4. Các căn cứ để khác phục tính thời vụ trong du lịch
5. Các biện pháp khắc phục
Chương 2: Giới thiệu về Công ty cổ phần Du lịch Ao Vua
3
I. Khái quát chung
1. Hoàn cảnh ra đời
2. Lịch sử phát triển
3. Chức năng nhiệm vụ
II. Cơ sở vật chất kỹ thuật
1. Sơ đồ tổng thể khu du lịch Ao Vua
2. Các khu vực
3. Cơ sở hạ tầng khác
III. Cơ cấu tổ chức
1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức
2. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
3. Nguồn lao động
IV. Chính sách đối với một số dịch vụ bổ trợ
V. Mối quan hệ với chính quyền và dân cư địa phương
VI. Kết quả hoạt động kinh doanh
1. Kết quả
2. Nhận xét
VII. Phương hướng, mục tiêu phát triển của Công ty tới năm 2005
Chương 3: Tính thời vụ trong du lịch tại Công ty cổ phần Du lịch Ao Vua
I. Các nhân tố tác động
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham
quan, giải trí nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.
2. Khách du lịch
Là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm
việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
3. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách
mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được
sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các
điểm du lịch, khu du lịch; nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.
5
Tài nguyên du lịch được chia làm hai loại là Tài nguyên du lịch thiên
nhiên và Tài nguyên du lịch nhân văn
4. Điểm du lịch, khu du lịch
Điểm du lịch là nơi có tài nguyên hấp dẫn có khả năng thu hút khách du
lịch
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch với ưu thế nổi bật về cảnh quan
thiên nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng
của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế xã hội và môi trường
5. Kinh doanh du lịch
Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
Hoạt động kinh doanh du lịch được chia làm bốn mảng chính:
yếu mang tính vô hình suy ra có những yếu tố không do nhà kinh doanh quyết
định và như vậy sản phẩm du lịch không thể được đánh giá chất lượng theo
những chỉ tiêu từ phía các nhà kinh doanh mà được đánh giá từ sự cảm nhận
của khách hàng (tính chủ quan) do vậy gây khó khăn trong việc quản lý chất
lượng sản phẩm trong du lịch.
Sản phẩm du lịch thường được gắn liền với tài nguyên du lịch.
Hướng vận động trong kênh sản xuất tiêu thu là ngược với sản xuất hàng hoá
cung tìm đến cầu còn trong du lịch cầu tìm đến cung dẫn đến gây khó khăn cho
tiêu thụ sản phẩm do thiếu tính chủ động của nhà kinh doanh do đó việc tìm ra
nguồn khách, khai thác nguồn khách là một trong những hoạt động quan trọng
nhất của nhà kinh doanh du lịch.
Việc tạo ra và tiêu dùng sản phẩm du lịch là có sự trùng lặp về
mặt không gian và thời gian suy ra sản phẩm du lịch chỉ tồn tại trong một thời
điểm nhất định không thể vận chuyển đến nơi khác, không thể tồn kho lưu bãi,
gây khó khăn cho việc hạch toán kinh doanh.
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ. Tuy nhiên
mức độ ảnh hưởng của tính thời vụ là khác nhau đối với các loại hình du lịch
khác nhau, đối với các nhà kinh doanh khác nhau.
7
7. Doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Doanh nghiệp kinh doanh du lịch là tập hợp người và vốn có mục đích
kinh doanh để kiếm lời.
Doanh nghiệp du lịch chỉ có thể thực hiện việc tìm kiếm lợi nhuận tối đa
bằng cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch biến động theo hướng
ngày càng đa dạng hơn, phong phú hơn, cao cấp hơn.
Mục tiêu chung là không ngừng nâng cao hiệu quả kinh, mục tiêu cụ thể
gắn với hai loại hình doanh nghiệp, ngoài loại hình hoạt động sản xuất và cung
cấp các hàng hoá công cộng với mục tiêu không ngừng nâng cao hiệu quả kinh
tế – xã hội trong nhiều trường hợp hiệu quả xã hội được đặt cao hơn hiệu quả
thực hiện và giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối phát triển kinh
tế, nơi chăm lo phát triển toàn diện nhân tố con người
Nhiệm vụ của doanh nghiệp du lịch: được xem xét theo ba hướng: nhiệm
vụ đối với Nhà nước, đối với các doanh nghiệp khác và đối với nội bộ bản thân
doanh nghiệp.
9
II. TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH
1. Khái niệm
Tính thời vụ trong du lịch là những biến động lặp đi lặp lại theo một chu
kỳ thời gian của cung và cầu du lịch (đối với các sản phẩm du lịch) diễn ra
dưới tác động của một số nhân tố xác định như thời tiết, khí hậu, loại hình du
lịch... và trong thực tế thì đó là tập hợp những biến động theo mùa của cung và
cầu du lịch tại các khu du lịch.
Tính thời vụ có ở tất cả các điểm, các khu vực có hoạt động du lịch.
Nhưng quá trình diễn ra giữa các vùng, các khu vực có sự khác nhau phụ thuộc
vào các yếu tố khác.
Một điểm du lịch, khu du lịch thì có thể có một hoặc nhiều thời vụ du
lịch và nó phụ thuộc vào các thể loại du lịch phát triển ở khu vực đó.
Tại các khu vực mà hoạt động du lịch phát triển thì mùa du lịch thường
kéo dài hơn, mức độ thay đổi của cường độ hoạt động du lịch nhỏ hơn.
Độ dài của mùa du lịch và cường độ mùa chính còn phụ thuộc vào thể
loại du lịch khác nhau. Thông thường loại hình du lịch chữa bệnh thường có độ
dài hơn nhưng cường độ yếu vì giá trị tài nguyên du lịch phục vụ cho loại hình
du lịch này ít biến động trong năm. Trong khi đó du lịch nghỉ biển thì ngược
lại: mùa du lịch ngắn hơn nhưng cường độ mùa chính cao hơn nhiều vì tài
nguyên du lịch phục vụ cho thể loại này phụ thuộc nhiều vào thời tiết khí hậu.
Để đơn giản hoá ta có thể nghiên cứu tính thời vụ trong du lịch qua sự
thay đổi của cường độ hoạt động kinh doanh du lịch qua các khoảng thời gian
(mỗi tháng, mỗi ngày). Về mặt tổng quát có thể biểu thị thời vụ du lịch theo đồ
chính thì sử dụng quá tải nguồn tài nguyên dẫn đến xuống cấp, cạn kiệt hoặc
những hư hỏng. Trong khi đó khoảng thời gian trái vụ lại hầu như không được
sử dụng cũng như không kịp để sửa chữa, phục hồi.
Đối với môi trường sinh thái. Với cường độ hoạt động cao trong mùa vụ
sẽ dẫn đến những tác động không nhỏ tới môi trường sinh thái. Xả rác thải bừa
bãi, ô nhiễm nguồn nước, chặt cây phá rừng, làm hỏng cảnh quan.
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở kinh doanh du lịch.
Tính thời vụ làm cho hoạt động của cơ sở kinh doanh không đều, vào mùa vụ
thì cường độ hoạt động cao dẫn đến doanh thu, lợi nhuận cao còn ngoài vụ thì
cường độ hoạt động thấp chỉ mang tính chất duy trì. Như vậy hiệu quả sản xuất
kinh doanh không đồng đều.
Tính thời vụ còn tác động rất lớn tới tình hình nhân lực. Việc sử dụng
cũng như trình độ nhân lực gặp rất nhiều tác động xấu. Cụ thể là trong thời
gian chính vụ cần một đội ngũ lao động đông đảo, với rất nhiều các công đoạn,
công việc cụ thể khác nhau trong khi đó ngoài vụ thì chỉ cần một lượng lao
động vừa phải với tính chất công việc chỉ là nhằm duy trì. Điều này dẫn tới rất
khó khăn cho đơn vị kinh doanh du lịch trong việc tuyển chọn đào tạo và sử
dụng nguồn nhân lực trong mùa vụ, thường thì khi chuẩn bị vào mùa vụ lại
phải tổ chức tuyển chọn và đào tạo cho một số lao động lớn nhưng khi hết mùa
vụ thì lượng lao động này lại không có việc và họ phải tìm kiếm các công việc
khác nhằm duy trì cuộc sống, đến vụ sau việc tuyển chọn và đào tạo gần như
phải làm mới hoàn toàn với những con người mới. Chính vì vậy trình độ của
đội ngũ lao động không được đảm bảo.
Tính thời vụ trong du lịch còn ảnh hưởng cả đến các du khách. Đó là
việc du khách vào chính vụ thì qúa đông dẫn đến nhìn xung quanh lúc nào
cũng chỉ thấy người là người, các dịch vụ thì có khi lại không đảm bảo chất
lượng với việc xô bồ lộn xộn, giá cả cao hoặc bị chèn ép, có khi lại gặp những
trường hợp quá tải dẫn đến không có dịch vụ đáp ứng như không có phòng cho
thuê, không có hàng ăn, giải khát...
12
của du lịch và nó cũng là một trong những điều kiện để cho du lịch phát sinh và
phát triển. Văn hoá được định nghĩa là hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực
tiễn trong sự trường tồn giữa môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hoá
13
trong du lịch được nhắc đến chủ yếu là các tài nguyên du lịch nhân văn - là một
trong những nguồn lực cho sự phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn
tác động tới hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh doanh du lịch trong đó có
tính thời vụ. Nó thể hiện qua các giá trị văn hoá của vùng đất diễn ra hoạt động
du lịch, qua các phong tục tập quán (chính là những tập tục, nền nếp thói quen
lâu đời của người dân) và qua các giá trị tín ngưỡng tôn giáo của người dân.
Điều này càng có ý nghĩa trong các thể loại du lịch văn hoá: lễ hội – thường
diễn ra chủ yếu và xung quang dịp lễ hội như du lịch lế hội Chùa Hương
thường diễn ra từ sau Tết Nguyên đán dến hết mùa xuân; du xuân – thường
diễn ra vào mùa xuân sau tết Cổ truyền của dân tộc; các cuộc hành hương về
quê hương, đất tổ, vùng đất thánh ...
Thời gian rỗi. Đây là một nhân tố rất quan trọng, cũng là một điều kiện
cho sự phát triển du lịch. Có thời gian rỗi thì du khách mới có thời gian đi du
lịch. Thời gian rỗi bao gồm thời gian nghỉ cuối tuần, nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ
hè... Thời gian rỗi quyết định đến thời điểm đi du lịch của du khách và vì vậy
dẫn đến tính thời vụ trong du lịch. Cụ thể đối với các điểm du lịch thì thời điểm
cuối tuần bao giờ cũng đông khách nhất, các chương trình du lịch nghỉ biển thì
đông khách vào mùa hè, với đối tượng khách là học sinh, sinh viên thì mùa hè
chính là thời điểm họ đi du lịch nhiều nhất. Tại các điểm du lịch khác nhau cần
dựa vào thị trường mục tiêu của mình với các đặc điểm thời gian rỗi như thế
nào mà cần có một chính sách hợp lý cho hoạt động kinh doanh.
Đơn vị kinh doanh du lịch. Thể hiện sự tác động tới tính thời vụ ở khả
năng sẵn sàng đón tiếp khách chủ yếu được thể hiện trong các khoảng thời gian
trái vụ là như thế nào, có đáp ứng được những yêu cầu về sản phẩm dịch vụ du
tính hiệu quả của nó) và việc thực hiện các loại hình du lịch đó.
15
5. Các biện pháp khắc phục
5.1 Đối với doanh nghiệp
Thứ nhất: làm tăng cầu du lịch tại các thời điểm ngoài mùa vụ. Tổ chức
nghiên cứu thị trường nhằm xác định thị trường mục tiêu cần chú ý quan tâm
đến những vấn đề sau:
• Tập trung thu hút khách du lịch công vụ đến điểm du lịch của mình
bởi ưu điểm của loại khách này là không phụ thuộc nhiều vào thời vụ du lịch
và có khả năng thanh toán cao.
• Tập trung thu hút nhóm khách du lịch tiềm năng là cán bộ công nhân
viên chức mà do đặc điểm nghề nghiệp, họ không có thời gian rỗi trong mùa vụ
chính.
• Tập trung thu hút nhóm khách hàng là những người hưu trí cao tuổi,
ưu điểm của loại khách này là không bị ràng buộc về thời gian đi du lịch,
thương hay lưu trú dài ngày.
• Tập trung thu hút nhóm khách hàng là các gia đình có con nhỏ, thu
nhập thấp và những người có nhu cầu đặc biệt không liên quan đến mùa vụ
chính.
Qua đó bằng các chính sách Markettinh – mix: chính sách sản phẩm, giá
cả, phân phối và xúc tiến bán để có thể lôi kéo thị trường mục tiêu này đến với
doanh nghiệp nhất là trong các khoảng thời gian trước và sau mùa vụ với mục
tiêu thu hẹp dần khoảng cách về cường độ hoạt động du lịch giữa trái vụ và
chính vụ.
Thứ hai: Nâng cao khả năng sẵn sàng đón tiếp khách tại các thời điểm
ngoài chính vụ của doanh nghiệp. Theo hướng này cần chú trọng đến những
vấn đề sau đây: Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm phục vụ du khách ngoài
mùa vụ chính; luôn trong trạng thái sẵn sàng các yếu tố dịch vụ cung cấp cho
du khách; đội ngũ cán bộ, công nhân viên đầy đủ, sẵn sàng phục vụ kịp thời
Người lao động tại đơn vị kinh doanh du lịch và người dân có hoạt động
gắn liền với hoạt động kinh doanh du lịch phải chủ động đối mặt với tính thời
vụ du lịch, không để nó gây ra những bất lợi cho mình hoặc là hạn chế đến
mức thấp nhất những bất lợi đó.
Với du khách cần có suy nghĩ đúng đắn trong việc lựa chọn thời điểm đi
du lịch. Nếu có thể thì đi du lịch vào những thời điểm ngoài mùa vụ khi mà vẫn
đạt được lợi ích mà mình đặt ra.
17
CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH AO VUA.
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Hoàn cảnh ra đời.
Giữa những năm 80 của thế kỷ, sau những bộn bề lo toan, hồi phục của
đất nước sau thời chiến, những khó khăn của xã hội quan liêu bao cấp và cùng
với công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhu cầu đi tham quan thắng
cảnh, vui chơi giải trí của người dân bắt đầu được chú trọng. Một số các địa
điểm có phong cảnh đẹp, đặc sắc bắt đầu được khai phá.
Nằm trong một khu vực đồi núi rộng với quần thể núi Ba Vì hùng vĩ.
Đây là dãy núi đá vôi bao gồm nhiều ngọn núi trong đó có ba đỉnh cao nhất là
đỉnh Vua 1.296 m, đỉnh Tản Viên 1.226 m và đỉnh Ngọc Hoa 1.220 m. Sườn
núi phía đông thoai thoải, sườn phía Tây dốc ngược xuống dòng Đà giang hung
dữ. Vùng đồi gò dưới chân và bao quanh núi Ba Vì có độ cao trên 11 m so với
mực nước biển với rất nhiều khe nứt gẫy bị cắt sẻ do sự xâm thực của các dòng
nước chảy từ trên đỉnh núi xuống như thác trong mùa mưa cùng nhiều hồ nước
lớn như hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô - Ngải Sơn... Thảm động thực vật ở đây cực
kỳ phong phú với nhiều loài động thực vật quý hiếm, khu rừng nguyên sinh với
100 ha trên độ cao từ 800 m trở lên.
Khu vực này còn là một vùng đất cổ có lịch sử quần cư lâu đời, với ba
dân tộc là người Kinh, Mường, Dao cùng sinh sống. Cũng là một vùng đất có
vị trí chiến lược về quân sự với rất nhiều các đơn vị quân đội; các trường học,
Khách sạn Hương Rừng với 30 phòng được xây dựng. Lúc này khu du lịch Ao
Vua được lột xác hoàn toàn với sự bề thế tiện nghi hơn. Tiếng tăm của khu du
lịch bắt đầu được lan xa, lượng khách đến với khu du lịch đông lên rất nhiều,
không chỉ từ các vùng lân cận mà khách từ Hà Nội và các địa phương khác.
Ngày 1-4-1999 trở thành cái mốc chính thức ra đời Công ty Cổ phần Du
lịch Ao Vua theo Quyết định 267 của UBND tỉnh Hà Tây trên cơ sở sự sát
nhập của hai doanh nghiệp là Công ty Du lịch Ba Vì và Khách sạn Hương
Rừng. Bao gồm 8 cổ đông, trong đó Nhà nước chiếm 8%. Tổng số vốn ban đầu
gồm có 4 tỷ 658 triệu đồng, trong đó vốn lưu động là 223 triệu đồng. Đến nay
ước tính tổng giá trị tài sản của công ty lên tới 17,5 tỷ đồng.
19
3. Chức năng, nhiệm vụ
Tổ chức kinh doanh khai thác hoạt động du lịch tại khu du lịch Ao Vua.
Công ty đã đầu tư xây dựng nhiều công trình hạng mục phục vụ cho yêu cầu
nhiệm vụ của mình. Đã tổ chức tốt việc kinh doanh, đón và phục vụ du khách
đến khu du lịch.
Tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động tại công ty cũng như các
dịch vụ khác có thu nhập cho người dân địa phương.
Thực hiện các công tác xã hội tại địa phương và nghĩa vụ nộp thuế cho
nhà nước.
20
II. CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT
1. Sơ đồ tổng thể khu du lịch Ao Vua
21
Hồ
Diên
Hồng
Nhà
Nh à
dân
Đồi
núi
Nh dânà
Đồi
núi
Đồi
núi
Đồi núi
Bể
bơi
Bể bơi
Hồ
Yên
Hồng
2. Các khu vực
Tọa lạc trên diện tích gần 20ha (khu vực chính), quần thể khu du lịch Ao
Vua được chia làm sáu khu vực là: khu Trung tâm, khu Chân thác, khu Nhà
sàn, khu Khách sạn, khu Vườn thú và Nhà hàng bình dân.
Khu Trung tâm: gồm 3 tòa nhà hai tầng được dùng làm văn phòng làm
việc, phòng tiếp khách, 1 phòng hội thảo 50 chỗ, 1 nhà hàng 100 chỗ, 9 phòng
mát-xa, 2 phòng karaoke và 30 phòng nghỉ, khu y tế; ba bể bơi, hệ thống cầu
trượt gồm 4 làn cao 11m, dài 60m cùng các cầu trượt nhỏ; khu đu quay đảo, trò
chơi dân gian cùng với các hình thức dịch vụ khác
Khu Chân thác: gồm có một nhà hàng giải khát hai tầng rất rộng với
khoảng 400 chỗ ngồi có cảnh quan rất đẹp tuy được bố trí còn đơn giản bằng
bàn ghế nhựa. Một nhà hàng ăn uống một tầng với khoảng 100 chỗ phục vụ các
món ăn đơn giản. Hai bể bơi rộng, xây dựng khá đẹp, với bốn làn trượt nước
3.1 Hệ thống nước
Được dẫn qua hệ thống ống dẫn từ dòng suối trên núi chảy về, qua một
bể lắng lọc rồi trữ trong một bể nước to để chủ động phục vụ nhu cầu sinh hoạt
cho cả khách và nhân viên của công ty ngay trong mùa mưa cũng như mùa
khô. Mặt khác đây còn là nguồn cung cấp nước cho hệ thống bể bơi, cầu trượt
nước ...
3.2 Hệ thống thông tin liên lạc
Đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thông tin liên lạc viễn thông của Công ty
cũng như du khách với hệ thống liên lạc bằng điện thoại cả trong nước và quốc
tế, điện thoại công cộng dùng thẻ có một trạm, điện thoại di động đã được phủ
sóng với chất lượng rất tốt.
3.3 Hệ thống giao thông
Có được sự quan tâm đầu tư của tỉnh, huyện và bản thân Công ty. Đường
giao thông rải nhựa từ ngoài đường tỉnh lộ 87 vào tận công ty dài 4 km với chất
lượng tốt, bề rộng 4 mét cùng khoảng lưu không rộng 3 met hai bên đường.
Đường đi trong công ty toàn bộ được đổ đê tông, ô tô ca có thể dễ dàng vào tới
tận sát các khu vực. Hệ thống cấu cống cũng được xây dựng hiện đại với hai
cây cầu lớn bằng bê tông bắc qua suối. Đường lội suối được chỉnh sửa hay giữ
nguyên nét hoang sơ với nhiều lối đi khác nhau bằng những bậc đá, xi măng
hoặc bằng tre, gỗ với các biện pháp đảm bảo an toàn đến tận cùng của dòng
suối.
23
III. CƠ CẤU TỐ CHỨC
1. Sơ đồ tổ chức
24
HĐQT
Giám đốc
Phó Giám đốc
An ninh trật tự cảnh quan
Hội đồng quản trị: Gồm 8 thành viên, do ông Nguyễn Mạnh Thản làm
Chủ tịch. Hội đồng quản trị và Chủ tịch có chức năng nhiệm vụ được quy định
theo như Điều lệ Công ty. Ngoài ra còn có Ban Kiểm soát.
Giám đốc: Nguyễn Mạnh Thản, là người đại diện theo Pháp luật của
Công ty, điều hành chung các công việc hàng ngày của Công ty và rất nhiều các
công việc khác, có quyền hành rất lớn.
Phó Giám đốc phụ trách An ninh trật tự cảnh quan: (Thiện) Chịu trách
nhiệm điều hành các công việc thuộc lĩnh vực về An ninh, trật tự, cảnh quan.
Quản lý trực tiếp ba tổ: tổ Bảo vệ, tổ Môi trường và tổ Xây dựng. Ngoài ra còn
thực hiện các công việc khác.
Tổ Bảo vệ: có một trưởng phòng phụ trách chung, xắp sếp công việc ca
trực, chấm công ... Có từ 15 đến 20 người tuỳ theo mùa vụ. Phòng bảo vệ thực
hiện các công việc về bảo vệ An ninh trật tự giữ gìn cảnh quan tài sản vật chất.
Tổ Môi trường: gồm 15 người, với nhiệm vụ giữ gìn vệ sinh chung, sửa
chữa cơ sở vật chật kỹ thuật toàn khu như các lĩnh vực điện nước, nhà cửa.
Trồng, chăm sóc, bảo vệ cây cảnh, hồ nước và rừng cây chung quanh.
Phó Giám đốc Phụ trách Kinh doanh, kiêm Trưởng phòng Kinh doanh:
(Điểm) Điều hành các công việc kinh doanh hàng ngày của Công ty, ngoài ra
còn phụ trách phòng tài vụ, các công tác tài chính, chấm công, trả lương cho
người lao động. Quản lý năm khu vực là: khu Trung tâm, khu Chân thác, khu
Nhà sàn, khu Khách sạn và Vườn thú ; cùng tổ Hành chính, tổ Y tế, tổ Cảnh
quan.
Tổ Cảnh quan: gồm 5 người, làm công việc bán vé vào cổng.
Tổ Y tế: gồm 2 người, với các trang thiết bị, đồ dùng, thuốc thang, phục
vụ sơ cứu tạm thời.
Tổ Hành chính: gồm 5 người, thực hiện các công việc văn thư, đánh máy,
kế toán tài chính, chấm công, trả lương cho người lao động.
Văn đại diện tại Hà Nội: mới được ra đời có trụ sở tại 78B Nguyễn Du –
Hà Nội. Văn phòng gồm 3 nhân viên và 5 người làm cộng tác viên.
25
hỏi ở bộ phận này khả năng nắm bắt các thông tin kinh tế, sự thay đổi về nhu
cầu thị hiếu của khách du lịch, đồng thời phải xử lý các thông tin đó một cách
nhanh nhạy và chính xác để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp, các kế
hoạch tối ưu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở cả hiện
tại và cả trong tương lai. Do vậy để đáp ứng đòi hỏi đó, bộ phận gián tiếp của
công ty du lịch Ba Vì chủ yếu đã được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn ở trình
độ đại học. Bộ phận lao động gián tiếp không trực tiếp tạo ra doanh thu cho
doanh nghiệp nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh và tình
hình hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, lượng lao động ở bộ phận này lại
không chịu sự biến động của tính thời vụ du lịch nên chi phí hàng năm cho bộ
26