KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU ÂU NĂM 1997 - Pdf 12

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
2.1. Thái Lan 6
3.1.2. Các nguyên nhân chủ quan 15
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng % GDP (1965 - 1995) của một số nước Đông Nam Á.
15
Hình 3.3: Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trước khủng hoảng ở Đông Nam Á 15
Chương 4: Tác động của khủng hoảng kinh tế 1997 đến Việt Nam 20
4.1.Tình hình Việt Nam trước khủng hoảng 20
4.2 Tác động đối với Việt Nam 21
4.3.Các giải pháp đã thực hiện 23
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 2.1: Tăng trưởng GDP hàng năm của Indonesia 8
Hình 2.2 : Chỉ số chứng khoán Hong Kong sụt giảm 10
Hình 2.3: Chỉ số chứng khoán Hang seng của Hong Kong 10
Hình 3.1: Nhập khẩu của các nước phát triển từ các nước đang phát triển 13
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng % GDP (1965-1995) của một số nước Đông Nam Á 15
Hình 3.3: Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trước khủng hoảng ở Đông Nam Á 16
Hình 3.4: Hệ thống tiền tệ sụp đổ 18
Hình 3.5: Tình hình phá giá của các đồng tiền Đông Nam Á 19
1
Chương 1: Lý thuyết về khủng hoảng tài chính
1.1. Tổng quan về thị trường tài chính
Khủng hoảng tài chính tiền tệ là một khái niệm có lịch sử hình thành khá dài gắn với
sự ra đời và phát triển của hệ thống tài chính trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN).
Để tìm hiểu về khủng hoảng tài chính (KHTC) ta cần bắt đầu từ các luồng vốn (tiền và vật
có chức năng giống như tiền). Dòng luân chuyển luồng vốn giữa tập hợp của vô số các
mối quan hệ chằng chịt giữa các quỹ tiền (gồm các quỹ tiền tệ do doanh nghiệp nhà nước
lập ra, các trung gian tài chính, các tổ chức, gia đình và cá nhân) tạo nên một hệ thống tài
chính. Vậy ta có thể định nghĩa tài chính là tập hợp các quỹ tiền và giống như tiền cùng
với các mối quan hệ giữa chúng bao gồm cả nội tệ, ngoại tệ với ba chức năng chủ yếu là

Frederic Mishkin
1
).
1.3. Một số dạng khủng hoảng đặc thù
• Khủng hoảng ngân hàng: rất hay gặp do ngân hàng là trung gian tài chính nhận
tiền gửi của các thể nhân và pháp nhân để cho vay nên rủi ro dồn cả về mặt số
lượng, thừoi hạn cũng như chủng loại tiền. Ngân hàng có thể lâm vào khủng
hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại được dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn
cao làm ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ khi đến hạn. Ngân hàng là
một hệ thống chặt chẽ nên khủng hoảng rất dễ lây lan và tạo khủng hoảng cả hệ
1
Frederic Mishkin sinh ngày 11/01/1951, là một nhà kinh tế Mỹ và là giáo sư tại Trường Columbia Business
school. Ông là thành viên của Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang Mỹ từ năm 2006 đến 2008.
3
thống ngân hàng. Trong trường hợp khủng hoảng các Ngân hàng thương mại
thường có xu hướng siết chặt các điều kiện tín dụng hay nâng lãi suất để bù đắp
rủi ro và kết quả là đẩy các doanh nghiệp – bạn hàng chủ yếu của ngân hàng vào
tình thế khó khăn do thiếu nguồn tài chính để hoạt động.
• Khủng hoảng nợ quốc gia: trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài (vay
chính thức, vay thương mại) qua nhiều, sử dụng không hiểu quả vốn nên không
trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xoá nợ
thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (như trường hợp của CHDCND Triều Tiên).
Khủng hoảng nợ xảy ra khá nhiều ( Argentina mới đây hay nhiều nước Châu
Phi vừa qua) cùng với tiến trình toàn cầu hoá kinh tế do các điều kiện vay nợ
nước ngoài trở nên dễ dàng hơn.
• Khủng hoảng tiền tệ: là hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa
vụ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu cả thực tế và giả tạo do đầu cơ buộc chính phủ
phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giá nội tệ cho
nội tệ mất uy tín nhanh chóng.
• Khủng hoảng thị trường chứng khoán: với tư cách là đỉnh cao của kinh tế thị

Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi
cuộc khủng hoảng này. Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng
bởi sự sụt giá bất thình lình. Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt
Nam ít bị ảnh hưởng. Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng
hoảng, song nền kinh tế Nhật phải trải qua những khó khăn kinh tế dài hạn của
chính bản thân mình.
Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á,
nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài
chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga,
Brasil và Hoa Kỳ
5
2.1. Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng
năm là 9%. Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền
kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu.
Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh. Cả mức vốn
hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi, thâm hụt tài khoản vãng
lai đến 14,7 tỷ USD. Nợ nước ngoài của Thái Lan không ngừng tăng lên, từ mức 35,99 tỷ
USD năm 1991 lên 89 tỷ USD năm 1996, gấp 2,47 lần trong vòng 5 năm và bằng 54%
GDP.
Từ đầu năm 1997 đến tháng 3/1997, người dân và các nhà đầu tư bắt đầu rút vốn của
mình ở dạng tiền mặt ra khỏi các ngân hàng và công ty tài chính, buộc chính phủ phải
đóng cửa thị trường chứng khoán ngày 3/3/1997 và yêu cầu mọi tổ chức tài chính phải
tăng thêm dự trữ tiền mặt và công bố 10 công ty tài chính đang ở trạng thái không bình
thường (Unico Housing Co.Ltd; Thai-Fuji; Royal International; Sri Dhana; Eastern
Finace; County…).
Ngày 4 và 5/3/1997: hơn 21,4 tỉ Baht (820 triệu USD) được rút ra khỏi ngân hàng và
công ty tài chính.
Sau đó một tháng, ngày 9/4/1997, tỷ giá hối đoái tăng lên 26,08 Baht/USD, cao nhất
từ 1991.

Indonesia tăng vọt.
Tháng 9/1997, cả giá đồng Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống
mức thấp lịch sử.
Đồng Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc
biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên. Trước tình hình
đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua USD vào, bán Rupiah ra khiến cho nội tệ thêm mất giá
và tỷ lệ lạm phát tăng vọt.
7
Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến
chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên. Tình
trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát. Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người
bị chết do bạo động. Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn tới khủng hoảng
chính trị. Giữa năm 1998, Tổng thống Suharto buộc phải từ chức tổng thống.
Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa đồng Rupiah và USD vào khoảng 2000 : 1.
Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1.
Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo USD của Indonesia đã
giảm đi.
Hình 2.1: Tăng trưởng GDP hàng năm của Indonesia.
2.3. Philippines
Tháng 5/1997, Ngân hàng Trung Ương (NHTW) Philippines tăng lãi suất lên 1,75
điểm phần trăm và tiếp tục tăng lên 2 điểm vào tháng 6/1997. Khi cuộc khủng hoảng bắt
đầu diễn ra tại Thailand vào ngày 2/7/1997 thì một ngày say đó, ngày 3/7/1997, NHTW
Philippines buộc phải can thiệp sâu vào thị trường nhằm bảo vệ đồng peso, tăng mức lãi
suất vay qua đêm từ 15% lên 24%. Giá trị đồng peso giảm mạnh từ 26 peso ăn một USD
lên 38 peso vào năm 2000, và lên 40 peso khi kết thúc cuộc khủng hoảng.
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các
vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada. Do khủng hoảng chính trị, vào năm 2001, Chỉ số
Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm
từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997. Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá.
Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng

Hình 2.2 : Chỉ số chứng khoán Hong Kong sụt giảm.
Hình 2.3: Chỉ số chứng khoán Hang seng của Hong Kong.
2.5. Hàn Quốc
Vảo tháng 10/1997 cuộc khủng hoảng bắt đầu tại Hàn Quốc – quốc gia có nền kinh tế
phát triển vượt bậc và đứng thứ 11 trong số những nền kinh tế lớn của thế giới. Lĩnh vực
tài chính ngân hàng của Hàn Quốc bị ảnh hưởng trầm trọng nhất.
10
Khi khủng hoảng xảy ra, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ. Các
công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài.
Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra, các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở
quy mô lớn.
Ngày 7/11/1997, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4%.
Ngày 24/11/1997 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các
chính sách khắc khổ.
Ngày 28/11/1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody’s đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ
A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11/12 lại hạ tiếp xuống B2. Điều này góp phần làm cho giá
chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá.
Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000
KRW/USD.với tình trạng kém cỏi sẵn có của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những
khoản nợ kém hiệu quả rất lớn, Moody's đã hạ bậc tín dụng của Hàn Quốc từ A1 xuống
A3 vào tháng 11/1997 và tiếp tục hạ xuống B2 vào tháng 12. Sự kiện này góp phần làm thị
TTCK Hàn Quốc sụt giảm mạnh hơn, giảm 4% vào 7/11/1997, giảm tiếp 7% vào ngày
8/11 và 7,2% vào ngày 24/11/1997 khi có tin IMF yêu cầu Hàn Quốc thực hiện cải tổ hệ
thống tài chính.
Năm 1998, Hyundai Motor mua lại Kia Motors. Quỹ đầu tư mạo hiểm trị giá 5 tỉ USD
của Samsung cũng giải thể do tác động quá mạnh của cuộc khủng hoảng, tiếp đó Daewoo
Motors phải bán lại cho General Motors. Đồng won Hàn Quốc giảm từ 1000 xuống 1700
won đổi một USD. Dù có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện GDP trên đầu người, sau khủng
hoảng, nợ quốc gia của Hàn Quốc tăng gấp ba lần so với trước đó.
2.6. Malaysia

triển giảm sút dẫn đến cầu cũng suy giảm. Đặc biệt, những nước này lại là những bạn hàng
chủ yếu là đối tác kích thích quá trình tăng trưởng hướng về xuất khẩu chủ lực của khu
vực (điện tử, sợi, dệt) đang đứng trước nguy cơ bão hoà của thị trường thế giới. Năm 1996
thị trường bán dẫn quốc tế suy thoái mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80%. Trong khi đó các
sản phẩm điện tử dân dụng của Nhật Bản, các nước NIEs Đông Nam Á giảm lượng bán
hơn 40% ở thị trường thế giới.
Hình 3.1: Nhập khẩu của các nước phát triển từ các nước đang phát triển (tỷ USD&%)
1992 1993 1994 1995 1996 1997
Tổng xuất khẩu 2716 2527, 4 2883, 9 3391, 6 3513 1807, 7
NK tõ các nước đang phát triển.
691, 17 702, 42 812, 39 966, 36 1036, 28 535, 13
Tỷ trọng trong tổng xuất khẩu
25,4% 27,8% 28,1% 28,5% 29,5% 29,6%
Trong đó
Châu Phi 66, 23 58, 5 63, 6 72, 69 80, 07 41
(9,6) (8,3) (7,8) (7,5) (7,7) (7,7)
Châu Á 333, 91 352, 4 413, 53 494, 11 528, 11 267, 11
(48,3) (50,2) (50,9) (51,1) (50,9) (51,6)
Châu Âu 74, 29 80, 65 109, 54 134, 43 135, 94 69, 17
(10,7) (11,5) (12,7) (13,9) (13,1) (12,9)
Trung Đông 84, 11 87, 15 85, 02 93, 07 102, 63 54, 9
(13,6) (12,4) (10,6) (9,6) (9,9) (10,2)
Tây Bán Cầu 122, 62 123, 72 145, 70 172, 06 189, 54 102, 95
(17,7) (17,6) (17,9) (17,8) (18,3) (19,2)
* Chú thích : số liệu trong ngoặc là % trong xuất khẩu của các nước phát triển từ
các nước đang phát triển.
* Nguồn : Direction of Trade Statistics, Dec. 1997
Mặt khác tính hấp dẫn của thị trường Đông Nam á trước các đối thủ Mỹ và Tây âu
đã giảm sút trước những khu vực năng động và hấp dẫn hơn thị trường Trung Quốc, SGN,
đông âu và thị trường Mỹ Latin. Thậm chí ngay cả đối với Nhật, bạn hàng lớn của Đông

từ 7% lên 10%, từ 16/ 8/ 1997 đảm bảo dự trữ ngoại tệ ở mức tối thiểu là 25 tỷ USD, giữ
mức thâm hụt tài khoản vãng lai bằng 5% GDP trong năm 1997 và giảm xuống 3 % vào
năm 1998, cắt giảm ngân sách ít nhất là 2, 4 tỷ USD trong tài khoá 1998, bảo đảm tăng
GDP tõ 3 đến 4% trong năm 1997, 1998 và kìm hãm lạm phát dưới 8 % hoặc 9% năm.
IMF cũng đã đưa ra những điều kiện rất ngặt nghèo đối với Hàn Quốc như phải
tăng lãi suất tới 18-20%, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào lĩnh vực tài
14
chính, phải giảm mạnh chi tiêu chính phủ, giảm mạnh cung ứng tiền tệ, chấp nhận để các
cơ quan kiểm toán quốc tế thẩm tra quyết toán của các tổ chức tài chính Hàn Quốc, loại bỏ
3 - 4 ngân hàng lớn có nguy cơ phá sản và 12 ngân hàng thương mại hoạt động kém hiệu
quả trong tổng số 30 ngân hàng thương mại.
3.1.2. Các nguyên nhân chủ quan
Thâm hụt tài khoản vãng lai, nền kinh tế phát triển mất cân đối.
Tính từ trước đến nay, đã có hàng trăm cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ lớn nhỏ
xảy ra ở hầu khắp các châu lục trên thế giới, song phần lớn các cuộc khủng hoảng đó đều
bắt nguồn từ những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô hết sức tồi tệ. Riêng cuộc khủng hoảng ở Đông
Nam Á vừa qua lại có đặc điểm hoàn toàn khác, nó dường như được sinh ra từ chính sự
thành công của khu vực này. Đây là một nghịch lý, nhưng cũng là một sự thật. Bằng
chứng là trong suốt 3 thập kỷ qua (1965 - 1995) hầu hết các nước đang bị khủng hoảng
đều gặt hái được những thành tựu to lớn với tốc độ tăng trưởng cao và liên tục.
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng % GDP (1965 - 1995) của một số nước Đông Nam Á.
Nước 1965 - 1975 1976 - 1985 1986- 1995
Thái Lan 7, 5 6, 7 9, 3
Indonesia 7, 0 6, 3 6, 6
Malaisia 7, 5 6, 9 8, 7
Philippin 5, 5 2, 5 3, 5
* Nguồn : Võ Thành Hưng " Kinh tế tài chính ASEAN", chuyên đề nghiên cứu
chuyên sâu. Viện NCTC - 1997.
Hơn nữa ngay cả trong những năm gần đây, tình hình kinh tế tài chính của khu vực
này cũng rất khả quan với một hệ thống các chỉ tiêu về kinh tế vĩ mô rất tốt thể hiện ở tốc

Với những thành công như bên, ngay cả trước khi cuộc khủng hoảng bùng nổi một
cách công khai, phần lớn các phân tích, dự báo đều không nghi ngờ gì về tương lai tươi
sáng của khu vực này. Rõ ràng vì quá say sưa với kết quả đạt được, các nước trong khu
vực đã không chú ý đến những nguy cơ tiềm ẩn đằng sau để kịp thời điều chỉnh, ngăn
chặn.
Xét về mức độ, tuy có khác nhau nhưng nhìn chung kinh tế Thái Lan và một số
nước Đông Nam Á tăng trưởng nóng tạo nên tốc độ phát triển kinh tế cao trong thập kỷ
qua đã ngấm ngầm báo hiệu những sự mất cân đối dẫn đến khủng hoảng kinh tế.
Tốc độ tăng trưởng quá nhanh đã tạo nên sức ép đối với giá cả do chi phí tiền lương và các
chi phí đầu vào sản xuất ngày một tăng. Đối với Thái Lan: Chỉ số giá cả tiêu dùng tăng
nhanh, đạt mức 5,9% năm 1996 so với mức 3, 4 % của năm 1993. Do giá cả tiêu dùng
tăng đòi hỏi chính phủ phải tăng lượng tối thiểu trung bình 8,5% năm trong khi đó năng
suất lao động chỉ tăng trung bình 3%/năm. Đặc điểm này cũng diễn ra tương tự ở
Malaixia, Indonexia và Philippin.
Thái Lan và Malaixia đều rơi vào tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo
động. Điều này có nghĩa là nền kinh tế Đông Nam Á đã mất cân đối nghiêm trọng đối với
bên ngoài. Thâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan là 8,1% GDP năm 1993, 8,2% năm
1996. Mức thâm hụt tà khoản vãng lai của Malaixia năm 1996 là 9,7% GDP, của
Indonêxia là 4%, Philippin là 3,2% GDP. Thâm hụt tài khoản vãng lai của Hàn Quốc năm
1996 là 23, 7 tỷ USD.
3.2. Tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ tới hệ thống tài chính của khu vực và
châu Á
3.2.1. Tác động tiêu cực
Trước hết hậu quả dễ nhận thấy nhất và phổ biến nhất mà hầu như nước nào nằm
trong khu vực chịu ảnh hưởng của khủng hoảng cũng phải gặp đó là sự mất ổn định của
đồng tiền và thị trường tiền tệ. Sự giảm sút ngiêm trọng vốn nước ngoài đầu tư vào khu
16
vực và sự sụt giảm ngay cả vốn trong nước do lãi suất cao và yếu tố lòng tin. Tất cả đã làm
giảm sút tốc độ tăng trưởng của các nước, đồng bản tệ bị phá giá gây tăng cao tỉ lệ thất
nghiệp và lạm phát cao.

hoảng xảy ra
Hình 3.4: Hệ thống tiền tệ sụp đổ.
3.2.2. Tác động tích cực
Cuộc khủng hoảng đã đánh dấu kết thúc một giai đoạn tăng trưởng nhanh, kéo dài
dựa vào vốn nước ngoài để chuyển sang một giai đoạn tăng trưởng ôn hòa hơn.
Việc chuyển qua chính sách tỷ giá linh hoạt thay vì cố định giúp chính phủ giảm
thiểu lượng ngoại tệ can thiệp và giữ mức giá bản tệ và tăng dự trữ quốc gia.Về lâu dài,
đồng ngoại tệ rẻ sẽ thúc đẩy xuất nhập khẩu, cải thiện tài chính đất nước.
Các đồng tiền Đông Nam Á bị phá giá trong hơn hai tháng đã làm cho hàng xuất
khẩu của họ có khả năng cạnh tranh hơn ở các thị trường Mỹ và Nhật Bản, do đó thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu của các nước này. Dấu hiệu phục hồi xuất khẩu đang ở trong tầm tay
của họ. Hầu hết tất cả các nước trong khu vực đã thông báo tốc độ xuất khẩu đang tăng
nhanh trong mấy tháng qua. Tại Philippines, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đã tăng 22%.
Trong 7 tháng đầu năm 1997 đạt 13,76 tỷ USD so với 11,27 tỷ USD trong cùng kỳ năm
1996. Tại Singapore, nước có hướng buôn bán chiếm 2/3 nền kinh tế của họ đã có mức
tăng xuất khẩu các hàng hoá phi dầu mỏ là 6,9% trong tháng 7/1997 so với cùng tháng này
năm ngoái, vượt mức 5,5% là mức các nhà phân tích đã dự đoán.
Hình 3.5: Tình hình phá giá của các đồng tiền Đông Nam Á.
Đồng Tỷ giá so với USD Mức độ
ngày 1/7 ngày 6/10
18
Baht / USD 25,65 36,37 42%
Rupi / USD 24,75 38,65 56%
Peso / USD 26,37 34,92 32%
MR / USD 2,5 3,38 35%
SGD / USD 1,43 1,548 8,3%
Nhiều quốc gia được nhận các khoản viện trợ và nguồn tín dụng quốc tế sẽ giúp các
quốc gia này hiện thực hóa các chính sách cải cách và phát triển kinh tế sau khủng hoảng.
Cuộc khủng hoảng giúp lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia. Nó được các nhà kinh tế
xem như là một cú “sốc” giúp nền kinh tế trở nên cân bằng và có sức cạnh tranh hơn.

nếu năm 1996 còn tăng 36,6%, Độ mở của kinh tế Việt Nam lúc này chưa cao (xuất
khẩu so với GDP mới đạt 30%, đồng tiền chưa chuyển đổi), dầu thô, gạo, xuất khẩu
với khối lượng lớn, do có sự chủ động ứng phó từ trong nước.
Trước tình hình khủng hoảng 1997 nổ ra vẫn có những tác động nhất định đến nền kinh tế
Việt Nam dù cho độ mở của Việt Nam là chưa lớn. Cụ thể
20
4.2 Tác động đối với Việt Nam
Về những tác động cụ thể đến các chỉ số nền kinh tế Việt Nam như sau:
- Tăng trưởng GDP đến năm 1998 chỉ tăng 5,76%, năm 1999 chỉ tăng 4,77%
- Vốn đầu tư nước ngoài thì năm 1997 giảm còn gần 5,6 tỷ USD, năm 1998 còn gần
5,1 tỷ USD, năm 1999 còn gần 2,6 tỷ USD.
- Lạm phát năm 1997 ở mức 3,6%, thì năm 1998 lên mức 9,2%
- Giá USD năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6%
- Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm 1997 ở mức 26,6%, đến năm 1998 chỉ còn
1,9%. Tốc độ tăng nhập khẩu năm 1997 chỉ còn tăng 4% và năm 1998 giảm 0,8%,
năm 1999 chỉ tăng 2,1%.
Có một số ý kiến cho rằng vì đồng tiền Việt Nam chưa chuyển đổi được, chưa có thị
trường chứng khoán và mới đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế nên mức độ
ảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam sẽ là rất nhỏ hoặc không có. Nhưng trái lại, cuộc
khủng hoảng đã có nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta như số liệu cụ thể ở
trên, lý do là ở những điểm sau:
a) Theo các số liệu ước tính thì khoảng 70% kim ngạch mậu dịch của Việt Nam là với các
nước Đông A', và chủ yếu được thanh toán bằng USD hoặc vàng. Nhưng khi đồng tiền ở
Đông A' bị phá giá mạnh sẽ tác động xấu tới các doanh nghiệp có quan hệ làm ăn với các
nước Đông A'. Ngoại trừ đồng đô la Singapore và đồng Yên Nhật mới bị mất giá trên dưới
20%, còn các đồng tiền khác trong khu vực đã bị phá giá từ 80% đến 250% so với đồng
USD. Trong khi đó đồng tiền Việt Nam mới chỉ mất giá chút ít, khoảng trên 10% so với
đồng USD. Điều đó sẽ làm cho hàng nhập khẩu từ các nước Đông A' vào Việt Nam với
mức rẻ gần như tương ứng với mức phá giá của đồng tiền các nước. Do đó hàng nhập từ
Đông A' sẽ lấn át hàng nội của chúng ta ngay tại thị trường Việt Nam. Chính điều này đã

70% FDI vào Việt Nam hiện nay là từ các nền kinh tế Đông A', là những nước đang bị ảnh
hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng. Cho nên cũng giống như đối với Trung Quốc, họ
không muốn đầu tư vào nước ta vì nhu cầu khắc phục kinh tế của bản thân nước họ.
d) Sự giảm sút của FDI cùng với nguy cơ phá sản đối với các công ty của Việt Nam do
khả năng xuất khẩu giảm hoặc do chi phí đầu vào tăng vì lãi suất vay vốn tăng và do giá
hàng nhập tăng đã tạo ra nguy cơ thất nghiệp tăng ở nước ta. Chỉ tính trong 3 tháng cuối
năm 1997, riêng các xí nghiệp liên doanh ở thành phố Hồ Chí Minh đã sa thải 4000 công
nhân vì họ phải thu hẹp các hoạt động hoặc bị giải thể do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng. Năm 1997, cả nước có 47 dự án với nước ngoài bị giải thể, tăng 162% so với năm
1996.
22
Tóm lại có thể thấy cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam A' đã có những ảnh hưởng
nghiêm trọng không những đối với nền kinh tế của các nước trong khu vực mà đối với cả
các nước khác trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam ta. Tuy bị ảnh hưởng không
nhỏ nhưng vì Việt Nam chưa thực sự mở cửa hoàn toàn và nội lực của chúng ta có sẵn khi
nền kinh tế mới bắt đầu chuyển đổi, do đó chúng ta đã nhanh chóng vượt qua và tiến lên
phát triển trong giai đoạn sau năm 1999:
- Tăng trưởng kinh tế cao dần lên, bình quân thời kỳ 2000 - 2007 đã đạt 7,63%/năm
- GDP bình quân đầu người năm 2007 tính bằng USD đã đạt 843 USD, cao gấp gần
2,3 lần năm 1999. Bình quân năm FDI nếu thời kỳ 1998 - 1999 vốn đăng ký chỉ có
trên 3,8 tỷ USD thì thời kỳ 2000 - 2008 đã đạt gần 12,9 tỷ USD và thực hiện đạt 4
tỷ USD; ODA cam kết đạt gần 3,5 tỷ USD, giải ngân đạt 1,75 tỷ USD.
- Xuất khẩu tăng liên tục với tốc độ cao (năm 2008 cao gấp trên 5,4 lần năm 1999,
bình quân 1 năm thời kỳ 2000 - 2008 lên đến 20,7%). So với GDP năm 2008 xuất
khẩu đạt 70%; nhập khẩu đạt 90%; cộng cả xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP lên
tới 160%, thuộc loại cao thứ 3 ở Đông Nam Á và thứ 5 trên thế giới - chứng tỏ độ
mở của nền kinh tế Việt Nam khá rộng.
- Dự trữ ngoại hối tăng khá: nếu cuối năm 2002 đạt chưa được 3,7 tỷ USD, thì đến
cuối năm 2007 đã đạt trên 21 tỷ USD. Lượng kiều hối bình quân năm thời kỳ 2000
- 2008 đạt tỷ USD. Vị thế của Việt Nam đã chuyển sang mở cửa hội nhập đầy đủ

@ />International Monetary Fund, Toward a Framework for Financial Stability, January
1997 “East Asia & Pacific”, World Bank Annual Report 1997, 19 September 1997
Bank for International Settlements, 68 th
Annual Report, 1998 OECD, OECD Economic Outlook No. 54, December 1993
“The OECD Economic Outlook Highlights”, The OECD Observer 210,
February/March 1998
Peter Montagnon, “Needed: Another Miracle”, Financial Times, 23 December 1997
Sebastian Edwards, Capital Controls, Exchange Rates and Monetary Policy in the
World Economy, 1995 “The Pacific’s Grim Rim”, Financial Times, 25 October 1997
David Wighton, “Blair Urges Big IMF Overhaul”, Financial Times, 22 September
1998
George Soros, “Avoiding A Breakdown”, Financial Times, 31 December 1997
Lê Vân Anh-“Khủng hoảng tài chính – mô hình lý thuyết và những nguy cơ đối với
Việt Nam trong quá trình hội nhập hiện nay” – Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Kinh tế -
Luật (2008) 55-65.
Nguyễn Xuân Thành-“Khủng hoảng tài chính ở Đông Á- Mô hình khủng hoảng thế hệ
thứ ba” – Giáo trình kinh tế Fulbright.
International Monetary Fund, World Economic Outlook: Interim Assessment,
December 1997
International Monetary Fund, World Economic Outlook, May 1998
International Monetary Fund, World Economic Outlook, October 1998
International Monetary Fund, The IMF’s Response to the Asian Crisis, October 1998
/>International Monetary Fund, Annual Report 1998, Chapter VII, 1998
S. Sugisaki, presentation at the IMF Symposium on Capital Flows and Financial
System
Stability, 8 December 1997 (from the IMF website
@ />International Monetary Fund, Toward a Framework for Financial Stability, January
1997 “East Asia & Pacific”, World Bank Annual Report 1997, 19 September 1997
Bank for International Settlements, 68 th
Annual Report, 1998 OECD, OECD Economic Outlook No. 54, December 1993


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status