Phương hướng bồi dưỡng năng lực tiếp nhận thơ tự do cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 12

1
mở đầu

I. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình dạy học văn, muốn đạt đợc chất lợng, hiệu
quả là phải phát huy tính tích cực và vai trò chủ động của học sinh,
"coi học sinh là bạn đọc sáng tạo". Dĩ nhiên điều mong muốn đó
còn phụ thuộc vào yếu tố ngời dạy, ngời học, chơng trình sách
giáo khoa và những tác động của môi trờng xã hội, gia đình, v.v.
Nhng điều tiên quyết là năng lực khám phá, thởng thức, tiếp
nhận tri thức văn học của học sinh trong học tập.
Việc bồi dỡng năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học cho học sinh
là một việc làm thờng xuyên ở các giờ dạy học văn trong các trờng
THPT. Việc bồi dỡng năng lực tiếp nhận thơ tự do cũng là công việc
cần thiết để nâng cao chất lợng học tập. Đây là thể thơ có đời sống, sức
sống đặc trng mà lâu nay chúng ta vẫn đồng hoá với việc dạy và học thơ
nói chung. Thơ tự do với đặc trng thể loại, đòi hỏi phải có phơng
hớng, biện pháp chiếm lĩnh riêng. Điều đó đã đặt ra vấn đề phải tìm
phơng hớng bồi dỡng năng lực tiếp nhận thơ tự do cho học sinh
Trung học phổ thông.
II. Lịch sử vấn đề
Về thơ tự do, trong phong trào Thơ mới có nhiều ý kiến cho rằng thơ
mới chính là thơ tự do, một thể thơ đã phá bỏ những luật thơ truyền thống.
Nhng cũng ngay trong thời kì ấy tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam,
Hoài Thanh nhận định: "Thơ tự do chỉ là phần nhỏ của thơ mới. Trong
phong trào Thơ mới trớc hết là một cuộc thử nghiệm táo bạo để định lại giá
trị của những khuôn phép xa". Nh vậy, thơ tự do là một loại thể
riêng, đợc khai sinh trong phong trào Thơ mới. Trớc một năm ra
đời cuốn Thi nhân Việt Nam, năm 1941, trên hai tờ báo Tiếng dân và
Dân báo có cuộc bút chiến về "vấn đề thơ cũ, thơ mới" giữa hai ông
Phan Khôi và Huỳnh Thúc Kháng. Sau cuộc bút chiến ấy, cũng nh sau

thể thức mới cho thơ, trớc hết là thơ tự do" (Thơ mới 1932 1945 và
thơ hôm nay). Cùng năm 1994, trên báo Văn nghệ, GS. TS Trần Đình
Sử có bài Hành trình thơ Việt Nam hiện đại, đã thuyết phục ngời
đọc bằng những số liệu cụ thể về sự phát triển của thơ tự do. Giáo s
đã thống kê trong tập Thơ Việt Nam 1945 1985 (Nhà xuất bản Văn
học, 1985), có 98 bài thơ tự do trên tổng số 213 bài thơ. Vợt qua nhạc
tính bề ngoài để đi vào nhịp điệu bên trong, thơ tự do đã chiếm tỉ lệ cao,
đặc biệt trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Những nhà thơ
thời ấy đều làm theo thiên hớng thơ tự do nh Nguyễn Đình Thi, Tố
Hữu, Hồng Nguyên, Trần Mai Ninh, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Văn Cao,
Trong sự hiện diện của thơ tự do trên diễn đàn thi ca Việt Nam, cùng
3
đồng thời là xuất hiện hàng loạt bài nghiên cứu phê bình về thể thơ này.
Chẳng hạn những bài Hai vấn đề liên quan của Mai Ngọc Chừ, trong
sách Vần thơ Việt Nam dới ánh sáng của ngôn ngữ học (Nhà xuất bản
Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991) ; Từ thơ tự do đến
thơ văn xuôi của Vũ Duy Thông, trong sách Cái đẹp trong thơ kháng
chiến Việt Nam 1945 1975 (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998), Ngoài ra
còn rất nhiều bài nghiên cứu về thơ của các tác giả khác, nhng các tác
giả chỉ điểm đến thơ tự do một cách khái quát. Theo sát con đờng phát
triển của thơ trong giai đoạn văn học hiện đại, GS. TS Mã Giang Lân
đã có những đánh giá về phơng diện nội dung và hình thức của thơ
tự do: "Từ năm 1945 về sau, thơ Việt Nam phát triển phong phú, trong
đó thơ tự do chiếm một vị trí quan trọng và trở thành một thể thơ quen
thuộc, gần gũi với mọi ngời". Trong chống Mĩ cứu nớc và xây dựng
chủ nghĩa xã hội, thực tế đất nớc không ngừng biến đổi. Những chiến
công vang dội của hai miền, những con ngời mới mang phẩm chất anh
hùng, những nếp sống và t tởng tình cảm mới đã tác động đến nội
dung và hình thức thơ. Trong thời kì kháng chiến chống Pháp thơ tự do
phát triển ở hai dạng hợp thể và biến thể. Vào những năm chống Mĩ thơ

nói riêng.
Về việc dạy thơ, năm 1978 GS. Phan Trọng Luận đã bàn rất rõ
trong cuốn Phơng pháp phân tích tác phẩm trong nhà trờng. Một
cuốn sách đợc viết công phu, có tính phơng pháp luận, Giáo s rất
hứng thú bàn về công việc phân tích tác phẩm "Năng lực phân tích
khám phá càng cao càng giúp cho phát hiện đợc nhiều khía cạnh
phong phú bất ngờ của thế giới vi mô trong tác phẩm". Dựa trên năng
lực phân tích tác phẩm văn chơng ấy, bạn đọc có nhiều ý tởng khác
nhau về năng lực phân tích thơ: Thất ngôn bát cú, thơ lục bát, hay thơ
tự do
Từ những năm 1990 trở lại đây, GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng
đã viết nhiều công trình khoa học nghiên cứu phơng pháp giảng
dạy tác phẩm văn chơng nói chung, tác phẩm trữ tình nói riêng trong
các cuốn sách: Văn học tầm nhìn và biến đổi (Nhà xuất bản văn học,
Hà Nội, 1996), cuốn Hiểu văn dạy văn (Nhà xuất bản Giáo dục,
2000), Đọc và tiếp nhận văn chơng (Nhà xuất bản Giáo dục, 2002).
Từ cách nhận diện "Nội dung quyết định phơng pháp, đúng nhng
cha đủ. Chính khoa học phơng pháp cũng quyết định lựa chọn và
khai thác nội dung". Giáo s
chỉ rõ: "Nắm vững tính chất và đặc điểm
độc đáo của thể loại tác phẩm trữ tình là tiền đề quan trọng cho việc
tiếp tục suy nghĩ về các chỉ dẫn và kết luận về phơng pháp" và "cần
5
điểm lại đặc điểm thể loại và thi pháp tác phẩm trữ tình để định
hớng phơng pháp". Những luận điểm khoa học đó đã đặt nền móng
cho việc dạy học tác phẩm văn chơng theo thể loại, đặc biệt là tác
phẩm thơ trữ tình.
Năm 1998, PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Hơng trong cuốn
Phơng pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trờng phổ thông trung
học (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998), đã đi sâu vào vấn đề tiếp nhận văn

thơ trữ tình. Đọc hiểu theo loại thể là vấn đề đang đợc các nhà s
phạm quan tâm, những ngời biên soạn sách giáo khoa cũng rất chú
trọng, thấy đó là một phơng pháp mới trong dạy và học văn. Và luận
án của chúng tôi cũng không nằm ngoài những vấn đề đang đợc quan
tâm đó. Luận án mạnh dạn đề xuất phơng hớng bồi dỡng năng lực
tiếp nhận thơ tự do trong chơng trình THPT cho học sinh, với mong
muốn tìm đợc một cách dạy học thể thơ, nhằm phát huy tính chủ
động sáng tạo của học sinh, từ đó góp một tiếng nói vào việc đổi mới
lí luận dạy và học văn nói chung, thơ tự do nói riêng.
III. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
1. Mục đích
1.1. Chỉ ra đợc đặc trng cơ bản của thơ tự do.
1.2. Tìm các phơng pháp biện pháp cụ thể để phân tích thơ tự
do, từ đó nâng cao hiệu quả giờ dạy văn.
1.3. Bồi dỡng năng lực cảm thụ thơ tự do cho giáo viên và học sinh.
2. Nhiệm vụ của luận án
2.1. Nghiên cứu đặc trng thơ tự do từ các vấn đề cụ thể: Khái
niệm thơ tự do trong thơ, Nhịp điệu, ngôn ngữ thơ tự do, cái tôi trữ tình
và tứ thơ tự do.
2.2. Nghiên cứu năng lực tiếp nhận thơ tự do của học sinh và đề xuất
phơng hớng bồi dỡng năng lực tiếp nhận thơ tự do cho học sinh.
2.3. Khảo sát dạy và học thơ tự do trong nhà trờng THPT, tiến
hành thực nghiệm ở trờng phổ thông để khẳng định giá trị của những
đề xuất khoa học đã nêu.
2.4. Thiết kế thực nghiệm bài thơ Đất nớc của Nguyễn Đình Thi
và bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên để chứng minh tính
khả thi của những giải pháp.
IV. Phơng pháp nghiên cứu
1. Phơng tổng hợp và triển khai lí luận; 2. Phơng pháp khảo
sát; 3. Phơng pháp thực nghiệm.

Chơng 1
Thơ tự do v Đặc trng thơ tự do

1.1. Sự hình thành và phát triển của thơ tự do
1.1.1. Thơ tự do ở phơng Tây
Thế kỉ XIX, thơ tự do phát triển mạnh mẽ ở Phơng Tây, những
nhà thơ có quan niệm mới mẻ về thơ tự do nh Vitexlap Nedơval
(Tiệp Khắc), Pablô Nêruđa (Chi Lê), Maiacốpxki (Nga), Octavio Paz
(Mêxicô), Paul Verlaine (Pháp), Các quan niệm đều thể hiện,
"Không có sai lầm nào tệ hại hơn là vạch ra những phơng án nghệ
thuật áp dụng cho các nhà thơ. Mỗi ngời trong họ có một thứ nhạc
cụ riêng với những vang hởng riêng và tâm trạng riêng không giống
với những ngời khác".
1.1.2. Thơ tự do ở phơng Đông
Ngay từ thời Hán, Nguỵ, Tề Lơng ở Trung Quốc đã xuất hiện
lối thơ Cổ thể. Thơ Cổ thể Trung Quốc cũng không hạn định số câu,
số chữ trong bài thơ. Câu thơ thờng có 5 chữ, 7 chữ nhng cũng có
khi câu dài câu ngắn không đều. "Thể thơ này cũng không quy định
niêm luật và cũng không yêu cầu đối ngẫu". Sau này nh nhà thơ
Nadim Hikmét (Thổ Nhĩ Kì), nhà thơ Rabin dranat Tagor (ấn Độ) đã
nhận ra việc làm thơ "Đâu phải thơ đợc viết ra chỉ để cắt nghĩa một
điều gì đó. Khi tình cảm tự tìm cho mình một hình thức để bộc lộ ra
ngoài, chúng ta có thơ". Những quan niệm về thơ tự do ở phơng
Đông đã ảnh hởng mạnh mẽ đến Việt Nam.
1.1.3. Thơ tự do ở Việt Nam
Dựa vào những tiêu chí và mục đích nghiên cứu, ngời ta có thể
chia thơ thành các thể loại khác nhau. "Dựa vào thể luật, có thể chia
ra thơ cách luật và thơ tự do" và "Đứng về mặt thi pháp, thơ Việt Nam
xa nay phân chia một cách tổng quát thành 2 loại lớn: Thơ cách luật
và thơ tự do". "Gọi là thơ tự do vì hình thức của nó không theo một thể

tơng ứng với một dòng thơ 7 chữ ; thơ lục bát, câu lục ở trên có 6
chữ, câu bát ở dới 8 chữ ; thơ ngũ ngôn, câu thơ 5 chữ. Thì trong thơ
tự do có đủ các loại câu từ 1,2,3,4,5, chữ cho đến 6,7,8,9,10 chữ. Mỗi
câu thơ không nhất thiết tơng ứng với một dòng thơ. Một câu thơ có
thể vắt thành nhiều dòng thơ, mỗi dòng thơ có thể dài ngắn không xác
định, ngắn từ một, hai tiếng, dài có thể đến 12 tiếng hoặc hơn. Nhiều
nhà nghiên cứu văn học khi tìm hiểu dòng thơ và câu thơ đều nhận
định: Hiện tợng vắt dòng xuất hiện nhiều trong thơ hiện đại, thơ cổ
điển thờng dùng dòng thơ để diễn đạt trọn vẹn ý.
10
1.2.3. Nhịp điệu thơ tự do
Nói về nhịp điệu chủ yếu dựa vào cách thức tổ chức câu thơ,
đoạn thơ, tiết tấu, âm thanh, vần bằng, vần trắc, niêm đối trong bài
thơ. Nhịp điệu đã trở thành một yếu tố quen thuộc và tơng đối ổn
định trong các thể thơ. Tuy nhiên, nhịp điệu không thuần tuý chỉ là
hình thức ngắt nhịp ngôn từ có tính chất hình thức mà chúng ta có
thể tìm thấy đặc điểm cho từng thể loại, mà nhịp điệu còn là nhịp
điệu cảm xúc, nhịp điệu cuộc sống nh trong thơ tự do đã thể hiện.
Thơ tự do tạo điều kiện nhiều nhất để thơ có đợc vẻ riêng về nhịp
điệu mà mỗi bài thơ phải phấn đấu để có đợc. Vẻ riêng của nhịp
điệu trong thơ tự do là nhịp điệu không những của hình thức bên ngoài
mà còn là nhịp điệu bên trong. Nhịp điệu cuộc sống và nhịp điệu cảm
xúc trong thơ tự do có tính hoà điệu giữa yếu tố chủ quan và yếu tố
khách quan.
Nhịp điệu thơ tự do không ngắt nhịp theo một định ớc có sẵn,
nó co giãn bởi cảm xúc của nhà thơ rung động trớc cuộc sống. Đó
là nhịp điệu hình thành từ âm thanh cuộc sống hiện thực, những
khoảng im lặng giữa những câu thơ là nơi trú ngụ kín đáo của nhịp
điệu thơ tự do.
1.2.4. Ngôn ngữ thơ tự do

Ngời làm thơ tự do nhất định đứng giữa cuộc đời, thu nhận cuộc
sống với tất cả mọi xấu đẹp của nó, và họ cũng không cần tìm đến
một thế giới thần tiên nào khác để trốn tránh, ẩn náu, gửi gắm vào đó
tất cả những gì đang diễn ra trong cuộc sống để tìm sự yên ổn trong
phơng tiện nghệ thuật.
1.2.6. Tứ trong thơ tự do
Tứ trong thơ tự do là một yếu tố ảnh hởng đến cấu trúc, độ dài độ
ngắn của bài thơ, là thớc đo để đánh giá nhịp độ, cờng độ cảm xúc,
chiều sâu nhận thức, phong cách nghệ thuật và thi pháp thể loại. Tứ
thơ, hình tợng thơ không bao giờ nảy sinh trên một nền cảm xúc tẻ
nhạt, trong không gian, thời gian tuột trôi đi mà ta không nhận ra mình,
ra thời đại mình đang hàng ngày hàng giờ biến động. Đó là ý thức về
phía ngời sáng tạo, còn đối với độc giả, với ngời nghiên cứu, khi đi
vào khám phá khai thác một bài thơ tự do, điều quan trọng là phải xác
định đợc tứ thơ của nó và xác định sự vận động của hình tợng thơ.
Nếu không xác định đợc hình tợng thơ sẽ rất khó chiếm lĩnh bài thơ
trong tính chỉnh thể toàn vẹn của nó. Với thơ tự do không những phát
hiện hình tợng thơ trong toàn bài mà còn phải phát hiện hình tợng
thơ trong từng khổ thơ, từng ý thơ.
12
1.3. Xu hớng phát triển thơ tự do
1.3.1. Thơ tự do trong phong trào Thơ mới
Để thấy rõ thể thơ tự do trong phong trào Thơ mới, chúng tôi
thống kê 11 tập thơ (gồm 547 bài) của 10 nhà thơ tiêu biểu trong
phong trào Thơ mới. Trong đó thơ tự do có 49/462 bài, chiếm tỉ lệ
11% trong tổng số các bài thơ.
1.3.2. Thơ tự do trong kháng chiến 1945 - 1975
1.3.2.1. Thơ tự do trong kháng chiến chống Pháp (1945- 1954):
Thơ tự do chiếm tỉ lệ rất cao trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
Hầu hết những bài thơ xuất sắc là làm theo thể thơ tự do. Để thấy

các tác phẩm thơ là 104 bài, còn lại các thể loại khác nh văn xuôi,
hịch, phú, cáo, là 72 bài. Trong thể loại thơ, loại thơ tự do chiếm
một tỉ lệ cao hơn hẳn các thể thơ khác (thơ Đờng, thơ song thất lục
bát, thơ lục bát, ). Số lợng thơ tự do có 22 bài, chiếm 22,92% so với
các thể thơ khác trong chơng trình.
2.1.2. Sức hấp dẫn của thơ tự do trong chơng trình THPT
Hình thức bài thơ, trong cách nhìn của các nhà thơ cổ điển là một
cấu trúc khép kín, ngôn từ đợc sắp xếp theo quy phạm khuôn mẫu
dựng sẵn. Còn với thơ tự do, cái giới hạn về hình thức chỉ mang ý
nghĩa tơng đối. Bởi cấu trúc bài thơ luôn có xu hớng vận động theo
dòng cảm xúc của nhà thơ. Những bài thơ tự do trong chơng trình
THPT là những bài thơ tiêu biểu, đã trải qua thời gian thẩm định của
bạn đọc và khẳng định đợc giá trị của mình trong diễn đàn thi ca.
Một trong những điểm sáng thẩm mĩ của thơ tự do là nhịp điệu cuộc
sống, nhịp điệu thời gian. Thơ tự do ngày càng thích hợp với tiếng nói
của tâm hồn bạn đọc.
2.2. Năng lực tiếp nhận thơ tự do của giáo viên và học sinh
2.2.1. Năng lực tiếp nhận tác phẩm văn chơng
Năng lực tiếp nhận tác phẩm văn chơng bao gồm toàn bộ quá
trình chuyển hoá từ văn bản nghệ thuật thành tác phẩm nghệ thuật.
Tiếp nhận tác phẩm văn học là một quá trình lâu dài, có nhiều cấp độ,
thực chất đó là một quá trình tái tạo mới hình tợng nghệ thuật dựa
theo đặc điểm cá nhân và cảm xúc của từng ngời. Đó là quá trình tri
giác tác phẩm, cụ thể hoá và khái quát hoá nghệ thuật để hiểu đợc
giá trị đích thực của tác phẩm. Quá trình tiếp nhận là một quá trình
vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan. Tính chủ quan
14
trong tiếp nhận là một thuộc tính, bởi vì quá trình tiếp nhận là quá
trình diễn ra trong t duy, tình cảm tâm sinh lí bạn đọc. Mặt khác, tiếp
nhận tác phẩm ở mỗi bạn đọc phụ thuộc vào t chất, trình độ vốn sống

đợc đa vào giảng dạy chính thức từ năm học (2006 -2007). Sách
giáo khoa đã cải tiến cách đọc, cách khám phá tác phẩm.
15
2.2.2.4. Năng lực thực hiện quá trình lên lớp: Trong giờ giảng
văn, năng lực phân tích thơ tự do của giáo viên đợc thể hiện đồng
thời ở hai chức năng: tổ chức định hớng truyền đạt kiến thức cho học
sinh và bồi dỡng năng lực phân tích thơ tự do qua đặc trng thể loại.
Học sinh không những hiểu từng tác phẩm thơ tự do riêng biệt mà
còn phải hiểu, nắm vững thi pháp thể loại để có cơ sở phân tích các
tác phẩm thơ tự do khác.
2.2.3. Năng lực học tập của học sinh
2.2.3.1. Tính độc lập và sáng tạo trong học tập: Khả năng hoạt
động độc lập và sáng tạo trong học tập của học sinh có thể đợc đánh
giá ở hai phơng diện: khả năng nhập cuộc và lựa chọn kiến thức ;
khả năng huy động vốn kiến thức văn học. Khả năng huy động vốn
hiểu biết và lựa chọn kiến thức là những kĩ năng lực tiếp cận tác phẩm
theo đặc trng thể loại nh: đọc theo giọng điệu tác phẩm, theo cảm
hứng sáng tạo của tác giả và phân tích cắt nghĩa, bình giá tác phẩm.
2.2.3.2. Năng lực đọc - hiểu văn bản: Đọc - hiểu văn bản là một
thao tác tiếp cận, chiếm lĩnh tác phẩm, nên khi đọc phải làm rõ đợc
"âm hởng chủ đạo và giọng điệu của nhà văn, tạo nên sự thống nhất
về t tởng thẩm mĩ và phong cách nghệ thuật của tác giả". Đọc để tìm
ra tiết tấu âm thanh, nhịp điệu, giọng điệu của nhà văn nhà thơ. Có thể
căn cứ vào phong cách nhà văn nhà thơ, căn cứ vào thể loại của tác
phẩm. Đọc thơ tự do chủ yếu phải theo nhịp điệu cảm xúc, bám theo
tâm trạng của nhà thơ để có điểm nhấn, chỗ ngừng giọng.
2.2.3.3. Năng lực hiểu biết đặc trng thơ tự do: Trong thực tế
giảng dạy, ý thức bồi dỡng và tự bồi dỡng của học sinh về các thao
tác chiếm lĩnh tác phẩm theo đặc trng thể loại rất hạn chế. Giáo viên
dạy văn không có thời gian để giảng sâu về đặc trng thi pháp thể loại

Ngời thầy cần định hớng một cách cụ thể hợp lí trong thiết kế
các bài giảng. Có thể có nhiều cách thiết kế những bài dạy thơ tự do dựa
trên những bài cụ thể, song cách thiết kế theo hớng mở bằng những câu
hỏi sáng tạo sẽ có tác dụng khơi rộng dòng suy nghĩ, kích thích đợc khả
năng linh hoạt của giáo viên cũng nh khả năng chủ động trong nhận
thức của học sinh.
2.4. Phơng hớng bồi dỡng năng lực tiếp nhận thơ tự do
2.4.1. Bồi dỡng năng lực nhận biết cấu trúc văn bản ngôn từ thơ tự do
Đặc điểm nổi bật nhất của thơ tự do là không quá xem trọng những
quy định của khuôn mẫu nghệ thuật sẵn có mà chỉ tôn trọng cảm xúc,
mạch suy tởng của nhà thơ. Nhân tố chính cho cấu trúc bài thơ tự do là
t tởng, là thái độ, tình cảm, cảm xúc, đồng thời cấu trúc bài thơ tự do
là những phơng thức làm nên sự thống nhất của hình tợng, chúng tồn
tại trên hai phơng diện: khái quát và chi tiết. Vì thế giảng dạy, tiếp
nhận, phân tích thơ tự do là phải tìm hiểu, phân tích cấu trúc bài thơ.
17
2.4.2. Bồi dỡng năng lực đọc - hiểu thơ tự do
Bản thân việc đọc đã có nhiều mức độ từ đọc thông, đọc thuộc,
đọc đúng, đọc sáng tạo. Dới góc độ phơng pháp, đọc - hiểu văn là
một hoạt động phân tích, cảm thụ. Đọc thơ tự do chủ yếu theo nhịp
điệu cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ để có điểm nhấn.
2.4.3. Bồi dỡng năng lực cảm hiểu nhịp điệu tâm hồn
Tiếp cận nhịp điệu trong thơ tự do sẽ không giống với tiếp cận
nhịp điệu trong thơ cách luật. Nhịp điệu trong thơ tự do thờng không
bằng phẳng bởi sự phối hợp âm điệu của các thanh và ngữ điệu mà nó
luôn biến đổi vận động theo cảm quan của tác giả. Trong thơ tự do, điểm
nhấn của nhịp điệu là những âm tiết đợc nhấn mạnh khi phát âm. Đồng
thời điểm nhấn ấy cũng trùng với điểm nhấn của thông tin phát ngôn.
Nhịp điệu của câu thơ tự do, ngắt nhịp thơ tự do không theo trình tự
nh thơ cách luật. Cách ngắt nhịp trong thơ tự do theo mạch cảm xúc.

năng sáng tạo của tác giả càng lớn thì phong cách, cá tính sáng tạo
càng nổi bật. Thơ tự do là thể loại trong đó mỗi nhà thơ đều tự tạo cho
mình một cá tính riêng, những hình
thức nghệ thuật riêng, không chịu
lệ thuộc vào mô hình nghệ thuật nào, cho nên phong cách, cá tính nhà
thơ đợc in đậm dấu ấn. Vì vậy có thể tiếp cận, phân tích thơ tự do
qua phong cách, cá tính sáng tạo của nhà thơ.

Chơng 3
Thực nghiệm dạy học theo Phơng hớng
bồi dỡng năng lực tiếp nhận thơ tự do
của học sinh

3. 1. Mục đích, nguyên tắc và yêu cầu thực nghiệm
3.1.1. Mục đích thc nghiệm
Thực tiễn là thớc đo khách quan, là câu trả lời thoả đáng về giá
trị của những đề xuất lí luận. Bởi vậy, việc thực nghiệm kiểm chứng
những vấn đề lí thuyết nêu trong luận án là việc làm cần thiết. Chỉ
qua thực nghiệm mới có thể có đợc những kết luận chính xác về khả
năng thực thi của các đề xuất của đề tài.
3.1.2. Nguyên tắc thực nghiệm
Thực nghiệm đợc xây dựng trên nguyên tắc chặt chẽ với những
quy trình nh sau:
Thiết kế thực nghiệm đợc tiến hành trên cơ sở giả thuyết khoa
học rõ ràng.
19
Thực nghiệm phải đợc tiến hành đầy đủ, chu đáo khi xây
dựng nội dung và hình thức thực nghiệm.
Xây dựng đợc bản tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm.
Đối tợng thực nghiệm rộng nên phải đảm bảo khách quan.

3.3. Nội dung và quy trình thực nghiệm
3.3.1. Nội dung thực nghiệm
Khảo sát, đánh giá chất lợng cảm thụ và nhận thức của HS về thơ
tự do thể hiện ở kết quả đọc - hiểu tác phẩm, ở khả năng bộc lộ cảm xúc
qua phân tích, cắt nghĩa, đánh giá một tác phẩm cụ thể và thông qua sự
tác động, định hớng, điều chỉnh của GV bằng vận dụng các biện pháp
s phạm do luận án đề xuất để thể nghiệm trong giờ dạy học thơ tự do.
3.3.2. Quy trình thực nghiệm
Bớc 1: Xây dựng kế hoach thực nghiệm
Bớc 2: Tổ chức thực nghiệm
Bớc 3: Thu thập và đánh giá kết quả thực nghiệm
3.4. Phơng pháp xử lí kết quả thực nghiệm
Xác định tình huống, các vấn đề tiếp nhận đặt ra từ tác phẩm, phù hợp
với trình độ và đặc điểm cảm nhận của học sinh.
Xây dựng một hệ thống hành động và thao tác của HS tơng
ứng với các tình huống học tập và những biện pháp định hớng của
GV nhằm tổ chức, hớng HS tự chiếm lĩnh cảm thụ tác phẩm.
Bảo đảm yêu cầu chung đối với việc cảm thụ của lớp học, đồng thời
gợi mở các cách hiểu, các kết quả giải thích khác nhau phù hợp với nội
dung khách quan của tác phẩm nhằm đa dạng hoá phơng án tiếp nhận
của học sinh.
Trong quá trình xử lí số liệu thực nghiệm, chúng tôi đã sử dụng
các công thức toán học thống kê sau đây:
+ Công thức trung bình cộng
+ Công thức tính phơng sai và độ lệch chuẩn
Trên mục đích và phơng pháp thực nghiệm nh vậy, chúng tôi xây
dựng hai thiết kế để thực nghiệm trên lớp hoc. Bài Đất nớc của nhà thơ
Nguyễn Đình Thi và Tiếng hát con tàu của nhà thơ Chế Lan Viên.
3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm
3.5.1. Đánh giá giờ dạy thực nghiệm

Sau khi tập hợp các bảng thống kê của GV ở các trờng thực
nghiệm, để dễ hình dung khái quát chúng tôi xếp:
+ HS điểm dới 5 vào loại yếu; HS có điểm 5, 6 vào loại trung
bình; HS có điểm 7, 8 vào loại khá; HS có điểm 9, 10 vào loại giỏi ;
Với số lợng HS của 6 lớp 12 của 3 trờng THPH, chúng tôi
tổng kết theo hệ thống bảng điểm sau:

0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
TN 247 HS
7 11 10 21 27 68 26 56 19 2
ĐC 264HS
5 11 14 38 19 43 69 20 36 9
Bảng 1: Thống kê phân loại kết quả kiểm tra
22
Yếu TB Khá Giỏi
247 bài 49 95 82 21 Kết quả
TN
% 19,9% 38,5% 33,2% 8,5%
264 bài 87 112 56 9 Kết quả
ĐC
% 33% 42,4% 21,2% 3,4%
Bảng 2: Phân loại kết quả

Nhìn vào bảng có thể nhận định về chất lợng lớp TN hơn lớp
ĐC. Để có hình ảnh trực quan về các số liệu về kết quả % điểm, ta có
đờng tần xuất



Hình 2: Đờng tích luỹ ứng với kết quả đối chứng TB cộng
X

Phơng sai S
2
Độ lệch chuẩn S
Kết quả TN 6,10 4,08 2,02
Kết quả TN 5,18 4,6 2,14
Bảng 3: Tổng hợp kết quả kiểm tra
So sánh kết quả này có thể thấy rõ sự khác nhau giữa lớp TN và
thực ĐC là đáng kể. Nh vậy có thể rút ra kết luận chung: Những TN
cho thấy phơng án khoa học của luận án đề xuất có tính khả thi.
Tuy nhiên việc đánh giá kết quả một giờ giảng văn, cũng nh
việc thẩm định hiệu quả thực tiễn đem lại bởi phơng pháp s phạm
đang đợc vận dụng thử nghiệm hoàn toàn không phải là chuyện đơn
giản, một sớm một chiều và cũng không phải chỉ dự vào cá con số chỉ
có tính chất định lợng. ở đây, còn phải có nhìn nhận, đánh giá dựa
trên quan điểm tổng thể và những tri thức phơng pháp luận của lí
thuyết dạy học hiện đại cũng nh t tởng mới về vai trò của ngời
học trong quá trình giáo dục và đào tạo nói chung
24
kết luận
1. Từ phong trào Thơ mới, thơ tự do nh một luồng gió mới, đột phá
vào thành trì vững chắc muôn đời của những khuôn khổ, định lệ gò bó.
Đến thời kì kháng chiến, thơ tự do phát triển cả về số lợng và chất lợng
và đã tạo đợc những bớc chuyển quan trọng về đặc trng thi pháp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status