Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 1 Tiểu luận
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC HỖ TRỢ
KHÁCH HÀNG KHỞI KIỆN TRANH CHẤP LAO ĐỘNG
VỀ BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO RA TÒA ÁN
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 2
Mục lục
Mở đầu .
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI
ĐOẠN CHUẨN BỊ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm- mục đích- ý nghĩa của việc luật sư hỗ trợ khách hàng trong
giai đoạn khởi kiện vụ án dân sự.
1.2. Kỹ năng chung của luật sư trong giai đoạn chuản bị khởi kiện vụ án dân
sự.
1.2.1. Kỹ năng tiếp xúc khách hàng.
1.2.1.1. Trao đổi với khách hàng về nội dung tranh chấp.
1.2.1.2. Tư vấn cho khách hàng có nên khởi kiện ra Tòa án hay không.
1.2.1.3. Tư vấn cho khách hàng những vấn đề về thủ tục trước khi khởi kiện.
1.2.2. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.
1.2.2.1 Khái niệm về hồ sơ khởi kiện.
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 4
MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập vào nền kinh tế thế giới, bằng việc
tham gia vào tổ chức WTO, ký Hiệp định thương mại Việt- Mỹ,…Nền kinh tế hội
nhập ngày càng phát triển đòi hỏi phải có đội ngũ lao động lành nghề, làm chủ
được công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, như vậy mới tạo ra được năng suất
lao động cao, tạo ra được sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt đáp ứng được nhu
cầu của thị trường, nâng cao tính cạnh tranh đối với các doanh nghiệp khác và ở
mức cao hơn có thể cạnh tranh trên đấu trường quốc tế, nâng tầm vóc của Việt
Nam cao hơn. Để thực hiện được điều này, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu
tư cho người lao động trong doanh nghiệp mình được học tập nâng cao tay nghề,
tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra
nhiều của cải vật chất cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong thực tế có một số doanh nghiệp đã và đang gặp phải vấn
đề nan giải đó là, sau khi được đào tạo, được tiếp thu kiến thức về kinh doanh, về
khoa học kỹ thuật thì người lao động lại bỏ doanh nghiệp đã tài trợ kinh phí cho
mình đi học để tìm đến những doanh nghiệp khác với nhiều lý do khác nhau. Điều
này làm cho doanh nghiệp “vừa mất người vừa mất của”.
Người đã muốn ra đi thì khó mà giữ lại được đã đành, vậy còn số tiền đã
cũng muốn góp một vài ý kiến nhỏ vào việc nâng cao kỹ năng của luật sư trong
giai đoạn khởi kiện cũng như đóng góp ý kiến bổ sung một số điều của pháp luật
lao động trong lĩnh vực bồi thường chi phí đào tạo, nhằm tạo một hành lang pháp
lý an toàn cho người lao động an tâm đầu tư vào lĩnh vực đào tạo cho người lao
động, ngược lại người lao động cũng sẽ hài lòng với công việc mình đang có;
đồng thời cũng chính là tạo điều kiện cho luật sư và nghề luật sư ngày càng vươn
lên tầm cao mới, xứng đáng là một nghề được xã hội tôn vinh. Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 6
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN
CHUẨN BỊ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm- mục đích- ý nghĩa kỹ năng của luật sư hỗ trợ khách
hàng trong giai đoạn khởi kiện vụ án dân sự.
1.1.1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự.
Căn cứ vào Điều 161 và 162 BLTTDS quy định về quyền khởi kiện thì khởi
kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức có đủ tư cách chủ thể tự mình
hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền
yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng họ có
quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc việc các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
theo luật định khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.
Khởi kiện vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng mang tính chất tiên phong
hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình (Điều 9- Bộ luật
TTDS năm 2005). Việc tham gia của luật sư trong giai đoạn này có vai trò rất
quan trọng trong việc giúp khách hàng xác định những thuận lợi và khó khăn của
việc khởi kiện.
Đây cũng là giai đoạn đầu tiên luật sư giúp khách hàng hiểu rõ bản chất
pháp lý vấn đề tranh chấp và những yêu cầu của khách hàng, giúp họ thực hiện
quyền và nghĩa vụ chứng minh thông qua việc chuẩn bị hồ sơ khởi kiện với những
chứng cứ có liên quan làm cơ sở cho Tòa án thụ lý, giải quyết tranh chấp để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự, đảm bảo công bằng xã hội.
1.2. Kỹ năng chung của luật sư trong giai đoạn chuản bị khởi kiện vụ
án dân sự.
1.2.1. Kỹ năng tiếp xúc khách hàng.
1.2.1.1. Trao đổi với khách hàng về nội dung tranh chấp.
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 8
Kim chỉ nam trong hoạt động nghề nghiệp của luật sư chính là quyền lợi
của khách hàng. Vì vậy, trước tiên luật sư cần xác định được yêu cầu cụ thể của
khách hàng, tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc mà họ đang
gặp phải. Luật sư cần phải nắm vững được nội dung tranh chấp để từ đó xác định
khách hàng cần gì và mong muốn đạt kết quả ra sao. Trên cơ sở những yêu cầu cụ
thể của khách hàng, căn cứ vào các quy định của pháp luật nội dung để luật sư xác
định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc tìm hiểu nội dung tranh chấp có
thể thông qua việc nghe lời trình bày của khách hàng. Bên cạnh đó, luật sư có thể
xem xét các giấy tờ do khách hàng cung cấp. Luật sư cũng cần tìm hiểu thông tin,
nội dung, chứng cứ để xem xét các điều kiện khởi kiện của khách hàng là có đủ cơ
sở và đúng pháp luật hay chưa để chỉnh sửa, bổ sung hoặc thậm chí không thể
khởi kiện được. Khi tiếp xúc với khách hàng, Luật sư cần chú ý là không nên lạm
dụng các thuật ngữ pháp lý, ngôn từ pháp lý để tránh tình trạng khách hàng không
thể hiểu được một cách chắc chắn, rõ ràng những vấn đề luật sư hỏi và tư vấn.
Đặc biệt luật sư cần lưu ý cho khách hàng những vấn đề về tố tụng, phân tích
được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 2
tháng. Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc có trở ngại khách quan thì Chánh
án Tòa án cấp phục thẩm có thể kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá
1 tháng. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa
án phải mở phiên tóa phúc thẩm; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời
hạn này là 2 tháng (Điều 5 BLTTDS. Luật sư cần hướng dẫn khách hàng nắm bắt
sơ bộ chứng cứ nào là quan trọng đối với việc xem xét giải quyết vụ án trên cơ sở
giúp khách hàng tập hợp những chứng cứ theo hướng dẫn của mình. Các chứng
cứ mà khách hàng có thể tự thu thập được thông thường bao gồm: các hồ sơ cá
nhân mà đương sự có giữa một bản như các bản hợp đồng, các bản di chúc, giấy
chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, các giấy tờ về quyền sở hữu nhà, các giấy tờ về
quyền sở hữu tài sản, các giấy tờ về quyền sử dụng đất, một số chứng cứ đương
sự phải tự thu thập thông qua chính quyền địa phương như trích lục bản đồ thửa
đất, giấy xin xác nhận hộ khẩu thường trú, giấy xin xác nhận hoặc chứng nhận
một sự kiện pháp lý nào đó, các loại biên bản làm việc hoặc biên bàn trao đổi với
cơ quan chính quyền, Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 10
* Phân tích điều kiện khởi kiện của khách hàng:
Đây là khâu quan trọng nhất trong giai đoạn khởi kiện, nó thể hiện những
kiến thức và kỹ năng cơ bản của một luật sư, đồng thời thể hiện rõ kỹ năng, kinh
nghiệm về việc nhận định hướng giải quyết có lợi nhất cho khách hàng. Bao gồm
những điều kiện cần và đủ như sau:
Thứ nhất, điều kiện về chủ thể khởi kiện.
+ Theo quy định tại Điều 161 Bộ luật TTDS thì: “cá nhân, cơ quan, tổ
chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án
dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình”. Căn cứ vào quy định này thì luật sư có thể hướng dẫn cho khách hàng tự
phép đại diện hoặc bị hạn chế đại diện theo ủy quyền. Mọi chủ thể có năng lực
hành vi tố tụng dân sự đầy đủ được đương sự ủy quyền đều có thể đại diện cho
đương sự trừ trường hợp người đại diện theo ủy quyền cũng chính là đương sự
trong một vụ án mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích
hợp pháp của người được đại diện hoặc đang là đại diện theo pháp luật cho một
đương sự khác trong cùng một vụ án mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
đó đối lập với quyền và lợi ích của người được đại diện; Hoặc trong các vụ án ly
hôn, liên quan đến quan hệ nhân thân, tình cảm, nên đương sự cũng không được
ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng; hoặc đối với những
người là cán bộ, công chức trong ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an, vì do tính
chất nghề nghiệp, pháp luật TTDS cũng hạn chế không cho phép tham gia với tư
cách người đại diện theo ủy quyền (Khoản 3- Điều 75 BLTTDS).
+ Hình thức ủy quyền: về nguyên tắc, việc ủy quyền của khách hàng cho
người đại diện phải được lập thành văn bản, trong đó phải nêu rõ phạm vi ủy
quyền. Điều 586 BLDS quy định về hình thức hợp đồng ủy quyền nếu có thỏa
thuận hoặc pháp luật có quy định thì hợp đồng ủy quyền phải có chứng nhận của
công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của ủy ban nhân dân có thẩm quyền.
Khách hàng có thể ủy quyền cho người đại diện một phần hoặc toàn bộ các quyền
và nghĩa vụ tố tụng của mình. Người đại diện theo ủy quyền có thể thực hiện các
quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi ủy quyền. Như vậy, hình
thức ủy quuyền là căn cứ pháp lý để xác định phạm vi ủy quyền, quyền và nghĩa
vụ của người được ủy quyền đồng thời xác định trách nhiệm dân sự của người
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 12
được ủy quyền hoặc người ủy quyền khi tham gia vào quan hệ tố tụng dân sự. Đây
là điều luật sư cần đặc biệt lưu ý khi hướng dẫn khách hàng làm các thủ tục ủy
quyền.
Thứ hai, xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp:
Thẩm quyền xét xử vụ án là một điều kiện quan trọng quyết định việc Tòa
án thụ lý giải quyết vụ án trên cơ sở đơn khởi kiện của đương sự. Theo quy định
ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác”. Như vậy, tùy theo tính chất của mỗi loại quan hệ
tranh chấp, Tòa án giải quyết trong vụ án dân sự hay việc dân sự mà thời hiệu sẽ
khác nhau là một năm đối với việc dân sự và 2 năm đối với vụ án dân sự (khoản
3- Điều 159 BLTTDS).
Trong việc xác định chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của các bên cũng như
trong việc ổn định các quan hệ dân sự có liên quan với nhau về thời gian việc xác
định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy khi xác định các điều kiện khởi kiện, Luật sư
phải nắm vững các quy định của bộ luật Dân sự như cách tính thời hiệu, thời điểm
bắt đầu thời hiệu, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện khi xảy ra một số
sự kiện pháp lý, vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, cũng như các quy định
của BLTTDS về thời hạn, thời hiệu như vừa nêu trên.
Ngoài ra, Luật sư cũng cần phải nghiên cứu một số điều kiện khác như điều
kiện hòa giải cơ sở hay xác định yêu cầu khởi kiện của khách hàng đã được giải
quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật chưa.
Đối với những vụ án pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải
quyết trước và chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi mà các cơ quan hữu
quan khác đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó
thì luật sư hướng dẫn khách hàng làm thủ tục đề nghị cơ quan hữu quan giải quyết
để làm căn cứ khởi kiện (trường là trong các vụ tranh chấp về quyền sử dụng đất).
Luật sư cũng cần xác định yêu cầu khởi kiện của khách hàng đã được giải quyết
bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật hay chưa. Nếu một vụ án
đã được Tòa án Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu
lực pháp luật thì khách hàng không được khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa. Trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác (ví dụ bác đơn ly hôn, thay đổi nuôi con
nuoi, thay đổi mức cấp dưỡng, ).
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 14
1.2.1.3. Tư vấn cho khách hàng những vấn đề về thủ tục trước khi khởi
xác định đồng chủ sở hữu của người để lại di sản; thu thập các chứng cứ về nghĩa
vụ tài sản và chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán từ di sản; các chứng
cứ chứng minh các điểm tranh chấp về quyền thừa kế,
Đối với các vụ kiện về ly hôn có tranh chấp về nuôi con, tài sản: luật sư
hướng dẫn khách hàng thu thập các chứng cứ xác định tình trạng hôn nhân thông
qua sự phản ánh của những người có quan hệ gần gũi như cha mẹ, anh chị em, cơ
quan quản lý của vợ hoặc chồng, tổ dân cư, đoàn thể xã hội mà họ sinh hoạt. Yêu
cầu khách hàng xác định về thu nhập và các ý kiến của con từ đủ 9 tuổi trở lên.
Đối với vụ kiện yêu cầu đòi bồi thường thiệc hại ngoài hợp đồng: luật sư
cần hướng dẫn cho khách hàng phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra,
mức yêu cầu bồi thường và việc thu thập các chứng từ và giấy biên nhận hợp lệ về
các khoản chi phí hợp lý- những chi phí thực tế cần thiết phù hợp với tính chất,
mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm
phát sinh chi phí,
Đối với các vụ kiện về hợp đồng: luật sư cần hướng dẫn khách hàng thu
thập các chứng cứ liên quan đến quan hệ hợp đồng, quá trình thực hiện hợp đồng
và thực hiện nghĩa vụ các bên theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Đối với các vụ kiện về lao động cụ thể như bồi thường chi phí đào tạo: luật
sư hướng dẫn khách hàng chứng minh những khoản chi phí thực tế, hợp lý, các
chứng từ hợp lệ liên quan đến các khoản chi phí đó, hợp đồng lao động, bản cam
kết đào tạo và các nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm bản cam kết đào tạo là chủ
quan hay khách quan,
1.2.2. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.
Theo như phần khái niệm khởi kiện vụ án dân sự, thì việc yêu cầu khởi kiện
gởi cho Tòa án là nghĩa vụ của nguyên đơn, người được giả định là có quyền và
lợi ích bị xâm phạm hoặc cơ quan, tổ chức được Nhà nước trao quyền khởi kiện
nhằm bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.
Vì vậy trong phần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, chỉ xin nêu trong trường hợp
khách hàng là nguyên đơn quyết định khởi kiện.
pháp luật về nội dung cũng như hình thức đơn theo Điều 164 BLTTDS. Đơn khởi
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 17
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án phải rõ ràng, đầy đủ. Nội dung đơn kiện phải
trình bày được nội dung tranh chấp và đặc biệt phải thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Khi giúp khách hàng soạn thảo đơn khởi kiện, luật sư cần chú ý:
- Trong đơn khởi kiện, phần diễn biến của vụ việc và yêu cầu của nguyên
đơn luật sư phải đặc biệt chú trọng. Tuy nhiên phần diễn biến sự việc tránh kể lể
dài dòng mà chỉ nêu các sự kiện có tính chất là mốc thời gian, nhưng không được
quá sơ sài khiến người đọc không nắm bắt được diễn biến của tranh chấp. Phần
yêu cầu của nguyên đơn phải được trình bày rõ ràng, ngắn gọn, đồng thời mang
tính chất đề xuất để Tòa án xem xét giải quyết, tránh tình trạng đưa ra các yêu cầu
phi thực tế, các yêu cầu không thể thực hiện được, các yêu cầu trái với quy định
của pháp luật.
- Địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền nghĩa vụ liên quan phải
là địa chỉ liên lạc được với người đó. Trường hợp không có địa chỉ của bị đơn, của
người có quyền nghĩa vụ lia6n quan thì phải nói rõ trong đơn.
- Hình thức đơn khởi kiện: Đơn khởi kiện có thể viết tay, đánh máy, nhưng
phải có chữ ký xác nhận ý chí của người khởi kiện. Trong trường hợp nguyên đơn
ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền viết đơn khởi kiện và ký tên xác nhận
ý chí khởi kiện thì có được chấp nhận hay không và có đảm bảo về mặt hình thức
của đơn khởi kiện? Theo tinh thần của Điều 161 BLTTDS cho phép cá nhân, cơ
quan, tổ chức có quyền tự mình khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm hoặc có thể ủy quyền
cho người đại diện khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Quy
định này cũng phù hợp với quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền, theo đó
người được ủy quyền được phép thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi ủy
quyền.
Sau khi viết xong đơn khởi kiện, luật sư và đương sự cần trao đổi, xem lại
Cũng như việc khởi kiện các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh
thương mại, trước khi tư vấn cho khách hàng trong tranh chấp lao động nên khởi
kiện hay không khởi kiện, luật sư cũng phải tiếp xúc, trao đổi với khách hàng để
nắm được nội dung vụ tranh chấp và các yêu cầu cụ thể của khách hàng. Từ đó
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 19
luật sư có thể đưa ra lời khuyên thích hợp cho khách hàng hướng tới một kết quả
tốt nhất.
Do đặc thù của tranh chấp lao động, khi tiếp xúc trao đổi với khách hàng,
luật sư cần làm rõ những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất làm rõ xem các bên thực sự có quan hệ lao động không, việc này thể
hiện thông qua hợp đồng lao động. Nếu có hợp đồng lao động thì hợp đồng này là
bằng miệng hay bằng văn bản, thời hạn của hợp đồng, công việc, tiền lương, thời
gian làm việc, địa điểm làm việc, Việc xác định rõ các yếu tố này chính là kỹ
năng cơ bản giúp luật sư xác định một cách chính xác quan hệ giữa các bên là
quan hệ lao động, dân sự hay hành chính. Để từ đó xác định được chính xác Tòa
án có thẩm quyền giải quyết.
Thứ hai, luật sư cần trao đổi và làm rõ nội dung tranh chấp giữa các bên.
Trước khi đưa ra lời khuyên cho khách hàng, luật sư cần xác định được tranh chấp
giữa các bên là tranh chấp gì (đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kỷ luật
lao động hay bồi thường chi phí đào tạo, ). Khi làm rõ nội dung tranh chấp, luật
sư cần làm rõ nguyên nhân dẫn đến tranh chấp giữa các bên; thời điểm xảy ra sự
kiện pháp lý dẫn đến tranh chấp và thủ tục các bên tiến hành (thủ tục kỷ luật sa
thải, thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng, ).
Thứ ba, luật sư cần trao đổi làm rõ những yêu cầu của khách hàng: muốn
bồi thường tiền lương trong những ngày không được làm việc, nhận tiền trợ cấp
thôi việc hay muốn trở lại làm việc (đối với khách hàng là người lao động) hoặc
muốn yêu cầu người lao động bồi thường chi phí đào tạo khi vi phạm cam kết đào
tạo (đối với khách hàng là người sử dung lao động). Nếu khách hàng có nhiều yêu
cầu muốn khởi kiện thì phải sắp xếp các yêu cầu theo thứ tự ưu tiên. Từ việc xác
đã nắm được diễn biến tranh chấp và yêu cầu cụ thể của khách hàng. Nếu khách
hàng quyết định khởi kiện thì bước tiếp theo hết sức quan trọng trong kỹ năng của
luật sư là kiểm tra điều kiện khởi kiện của khách hàng. Thông thường khi giúp
khách hàng khởi kiện một vụ án lao động nói chung, vụ án lao động về bồi thường
chi phí đào tạo nói riêng, ngoài việc kiểm tra những điều kiện khởi kiện khác như
đã trình bày ở phần 1.2.1.2, luật sư cần chú ý kiểm tra những điều kiện khởi kiện
đặc thù sau:
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 21
2.2.1. Quyền khởi kiện.
Khách hàng khởi kiện là người lao động: theo quy định của pháp luật,
người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên có quyền tự mình khởi kiện. Đây là điểm
khác về chủ thể khởi kiện trong hầu hết các tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh
doanh- thương mại. Trong một số lĩnh vực lao động đặc thù thì người dưới 15 tuổi
vẫn có thể tham gia ký kết hợp đồng lao động (lao động trong các loại hình nghệ
thuật như múa, xiếc, điện ảnh, ). Khi họ có quyền lợi ích bị tranh chấp và muốn
khởi kiện thì luật sư cần trao đổi cho họ biết trong mọi trường hợp họ phải khởi
kiện thông qua người đại diện hợp pháp cha mẹ hoặc người giám hộ ).
Khách hàng khởi kiện là người sử dụng lao động: nếu người sử dụng lao
động là cá nhân thì họ phải đủ 18 tuổi trở lên, có thể tự mình khởi kiện hoặc ủy
quyền bằng văn bản cho người khác khởi kiện. Nếu người sử dụng lao động là
pháp nhân thì luật sư cần trao đổi cho họ biết người có quyền khởi kiện là người
đại diện theo pháp luật (giám đốc, tổng giám đốc) hoặc người đại diện theo ủy
quyền.
Trong quan hệ tranh chấp lao động về bồi thường chi phí đào tạo, thì đây là
điểm cốt lõi của vấn đề cần được quan tâm. Trên thực tế, khi phát sinh tranh chấp
thì thường những người không phải đại diện theo pháp luật của pháp nhân (cấp
phó hoặc trưởng phòng) đến gặp luật sư và yêu cầu khởi kiện trong khi họ cũng
chưa được ủy quyền để đại diện công ty tham gia giải quyết tranh chấp này với
chấp của khách hàng đã qua hòa giải cơ sở và đã hòa giải thành (có biên bản hòa
giải thành do Hội đồng hòa giải cơ sở hoặc hòa giải viên lập) thì luật sư nên
khuyên khách hàng không nên khởi kiện ra Tòa án, vì có gởi đơn Tòa án cũng sẽ
không thụ lý.
Nếu tranh chấp của khách hàng không bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở
nhưng pháp luật cũng không hạn chế các bên yêu cầu Hội đồng hòa giải lao động
cơ sở hoặc hòa giải viên hòa giải. Do đó luật sư cũng cần kiểm tra xem khách
hàng đã yêu cầu hòa giải tranh chấp tại cơ sở chưa. Nếu đã có hòa giải và kết quả
là hòa giải thành thì luật sư cũng giải thích cho khách hàng không được khởi kiện
nữa. Vì về nguyên tắc Tòa án chỉ thụ lý vụ án nếu việc hòa giải tại cơ sở không
thành.
Đối với tranh chấp lao động về bồi thường chi phí đào tạo, căn cứ vào
Khoản 2- Điều 166 Luật số 74 của Quốc Hội về sửa đổi bổ sung một số điều của
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 23
Bộ luật Lao động năm 2006 thì tranh chấp lao động về bồi thường chi phí đào tạo
bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở. Vì vậy, luật sư phải hết sức chú ý nhắc nhở
khách hàng về thủ tục này, thậm chí luật sư phải tận tâm hướng dẫn khách hàng
ngay trong quá trình tham gia hòa giải cơ sở để có thể đạt được kết quả tốt nhất,
tránh khởi kiện đến Tòa án, hạn chế đến mức thấp nhất những chi phí không cần
thiết cho khách hàng của mình. Nếu khách hàng đã có hòa giải tại cơ sở nhưng
không thành thì phải có biên bản nộp kèm vào hồ sơ khởi kiện như một loại giấy
tờ cần thiết, mang tính pháp lý cho việc khởi kiện của khách hàng sau này.
2.2.3. Thời hiệu khởi kiện.
Để xác định tranh chấp của khách hàng là còn thời hiệu khởi kiện hay
không, luật sư cần căn cứ vào quy định tại Điều 167 Bộ luật Lao động.
Khi kiểm tra điều kiện về thời hiệu khởi kiện, luật sư cần chú ý: thời hiệu khởi
kiện đối với các tranh chấp lao động được tính từ ngày “mỗi bên cho rằng quyền
và lợi ích của mình bị vi phạm”. Mặc dù pháp luật không quy định một cách cụ
thể ngày nào là ngày mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi
cần thiết nộp kèm theo đơn để chứng minh yêu cầu khởi kiện của khách hàng là
có căn cứ và hợp pháp. Trong vụ án lao động, tùy thuộc vào từng tranh chấp mà
khách hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp gì mà luật sư hướng
dẫn khách hàng cung cấp các tài liệu cần thiết cho hồ sơ khởi kiện. Nhưng nhìn
chung trong vụ án lao động, tài liệu cần gởi kèm theo đơn kiện thông thường bao
gồm:
Các tài liệu chứng minh giữa hai bệnh tranh chấp tồn tại quan hệ lao động
như hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng lao động, cam kết hoặc hợp đồng đào
tạo,
Các tài liệu chứng minh sự kiện pháp lý làm phát sinh tranh chấp giữa các
bên như quyết định kỷ luật sa thảỉ; quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động; biên bản về việc người lao động bắt đầu ngừng làm việc tại cơ quan mà
không có sự dồng ý của người sử dụng lao động; Bản cam kết về thời gian làm
việc bắt buộc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo,
Ngoài ra, tùy thuộc vào tranh chấp của khách hàng là tranh chấp cá nhân
hay tập thể, có bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải cơ sở hay không mà luật sư cần
Huỳnh Thị Thu Hằng – Lớp C Page 25
hướng dẫn cho khách hàng nộp kèm theo Biên bản hòa giải không thành (đối với
tranh chấp lao động cá nhân bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở) hoặc Quyết định
giải quyết của Hội đồng trọng tài lao động cấp Tỉnh (đối vối tranh chấp lao động
tập thể).
Chương 3.
KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
3.1. Kiến nghị.
3.1.1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quan hệ tranh chấp lao
động trong lĩnh vực bồi thường chi phí đào tạo.
Phần kiến nghị này chỉ xin phép nói trong lĩnh vực doanh nghiệp vì theo