BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
HUỲNH VĂN HOA DẠY HỌC TÁC PHẨM NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI
TRONG SÁCH NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN VĂN VÀ TIẾNG VIỆT
MÃ SỐ: 62 14 10 04 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC Phản biện 3: TS. Nguyễn Xuân Lạn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ cấp nhà nước họp tại:
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Vào hồi 8 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 7 năm 2008 Có thể tìm đọc luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, suốt nhiều thập kỉ qua, chương trình và SGK
môn Văn, kể cả theo chương trình CCGD, vẫn chưa chú trọng đúng mức đến việc dạy
cho học sinh phương pháp đọc. Tình trạng học sinh không tự đọc được những văn bản
có trong sách giáo khoa đã thành nếp, khó thay đổi trong ngày một ngày hai. Bởi, không
có năng lực đọc-hiểu văn bản, cho nên HS tỏ ra rất lúng túng trước những văn bản cùng
loại nhưng chưa được giảng trên lớp; tình trạng học bài nào biết bài ấy là phổ biến.
Chương trình và SGK ngữ văn THPT mới đề cao và chủ trương đọc-hiểu là vì lẽ đó.
Hình thành và rèn luyện cho HS năng lực đọc-hiểu văn bản thực chất là khâu đột phá
trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay.
2- Trong việc nghiên cứu và giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông, từ trước đến
nay, các nhà nghiên cứu văn học cũng như các nhà phương pháp giảng dạy,…chủ yếu
vẫn thiên về luận bàn cách dạy các tác phẩm tự sự và trữ tình.
Trong lĩnh vực dạy-học các tác phẩm nghị luận, về phương diện đọc hiểu, nói
chung chưa được chú ý đúng mức. Các áng văn lớn như Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ,
Hịch Tướng Sĩ văn của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, là những
viên ngọc lấp lánh sắc màu, tràn đầy lòng tự hào dân tộc, khát vọng độc lập, tự
chủ, được thể hiện bằng một hình thức nghệ thuật-chính luận rất đặc sắc. Nhưng khi
giảng dạy, phân tích vẫn nặng đi sâu vào nội dung, ít chú ý khai thác hình thức.
Nhìn chung, vấn đề dạy học các văn bản nghị luận nói chung và nghị luận trung
đại nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Vì thế mà, phương pháp dạy đọc-hiểu các
tác phẩm nghị luận theo tinh thần mới càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Nghị luận là
một thể văn đặc biệt. Nó khác với các tác phẩm tự sự và trữ tình. Sức hấp dẫn và thuyết
phục của văn nghị luận nói chung thể hiện ở hệ thống luận điểm mới mẻ, sâu sắc; ở
những luận chứng xác thực, cụ thể; ở cách lập luận chặt chẽ, lôgic Tuy nhiên, các văn
bản NLTĐ lại có đặc điểm riêng, mang nặng dấu ấn tư duy thời kì văn-sử-triết bất
phân, vì thế, nhiều áng văn nghị luận không chỉ là sản phẩm của tư duy duy lí mà chúng
thực sự còn là những hình tượng nghệ thuật hết sức sinh động, có sức lay động sâu sắc
đến tình cảm, cảm xúc của nhiều thế hệ người đọc.
Văn nghị luận nói chung và NLTĐ nói riêng đã được chú ý hơn nhiều trong CT
ngữ văn mới, nhất là phần đọc-hiểu tác phẩm. Cần có một giải pháp dạy học (GPDH)
Có thể nói, các tác phẩm NLTĐ vẫn không có gì thay đổi nhưng cần dạy học các tác
phẩm ấy theo một tinh thần mới: dạy theo hướng đọc-hiểu văn bản. Chính vì thế, lịch sử
vấn đề ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, mô tả cả hai phương diện: việc nghiên cứu
đọc-hiểu và vấn đề dạy học các tác phẩm nghị luận nói chung, NLTĐ nói riêng.
1- Một số kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
1.1. Về vấn đề đọc-hiểu
Đọc là một trong những phạm trù quan trọng của nhiều ngành khoa học. Dẫu
nhìn dưới góc độ nào, thì đọc-hiểu vẫn là khái niệm trung tâm của dạy-học hiện đại. Các
nhà nghiên cứu nước ngoài cho đọc là vấn đề quan trọng của nhà trường (N. Pb.
Bunacov)“là một trong các quá trình của sự giao tiếp bằng lời nói” (D. I. Klytrnhicova),
là “thao tác tư duy đặc biệt” (X. I. Rubenstein). Trong tác phẩm Sổ tay thực hành dạy
học ngôn ngữ (A practical Handbook of Language Teaching), Cross, D. (1991) đã nêu
lên hàng loạt đặc trưng của việc đọc-hiểu: Chọn lựa (Choice); Mục đích đọc (Purpose);
Chiến lược đọc (Stratery); Số lượng (Quantity); Sự yên lặng (Silence); Tốc độ (Speed);
Ngữ cảnh (Context). Trong cuốn Các kĩ năng đọc ở trường THPT (College Reading
Skills), Blake. K.viết:
"Đọc là hiểu những thông điệp trong những tài liệu viết hoặc in. Để đạt được
việc hiểu này, chúng ta phát hiện những ý tưởng của tác giả bằng cách thực hiện 2 điều
cùng một lúc. Chúng ta nhớ những gì chúng ta biết về thông điệp đó và chúng ta sử
dụng những kỹ năng đọc-hiểu giúp chúng ta tìm ra được những gì chúng ta muốn biết ".
Có thể nói, vấn đề đọc-hiểu đã trở thành tâm điểm của việc đổi mới cách dạy,
cách học tác phẩm văn chương của nhiều nước. Vào những năm 70, 80 của thế kỉ XX,
các nhà nghiên cứu đã tổ chức nhiều hội nghị về đọc, nhất là đọc văn chương. Tại Pháp,
3
đáng chú ý là, Hội nghị Ceresy-la Salle và hội nghị Reines, các vấn đề lớn được đưa ra
hội thảo: Đọc - Đọc văn chương là gì ? Ai đọc ? Đọc gì ? Đọc thế nào ?.
Cũng vào năm 1970, Uỷ ban văn hoá và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO), tại
Theo các tác giả khi nghiên cứu một văn bản nghị luận, cần chú ý làm sáng tỏ được các
câu hỏi sau:
- Luận đề mà tác giả đang bảo vệ có đối lập với luận đề đã bị bác bỏ hay không ?
- Những dấu hiệu nào chứng tỏ tác giả có một khoảng cách với luận đề?
- Các vấn đề hiện đang có trong văn bản có hoàn toàn đối lập nhau hay không hay
chúng chỉ đối lập nhau một phần ?
- Những lập luận nào nhằm bảo vệ cho luận đề của tác giả ?
- Những lập luận nào có lợi cho luận đề bị phản bác ?
- Văn bản đó có đưa ra ví dụ hay không ? Chức năng của các ví dụ đó là gì ?
- Các lập luận được kết nối giữa các luận đề khác nhau như thế nào? Chúng tự nối
kết với nhau ra sao ?
4
Trong cuốn Sự lựa chọn của nhà văn ( Writer’s Choice) của William Strong and
Mark Lester, đã nhấn mạnh đến văn nghị luận thuyết phục. Đó “là loại văn bản cố gắng
tác động và ảnh hưởng đến người đọc, để họ chấp nhận một ý tưởng, đồng tình với một
quan điểm”. Theo tác giả đọc - hiểu văn bản nghị luận cần :
- Nắm vững cấu trúc lôgic của văn bản ; Nhận ra mục đích viết của văn bản; Nắm
được ý trọng tâm ; Nhận ra các bằng chứng, lí lẽ…
Có thể nói rằng, các nhà nghiên cứu phương Tây quan tâm nhiều đến đọc-hiểu,
trong đó có đọc-hiểu văn bản nghị luận. Hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh đến mối
quan hệ giữa Đọc-Viết-Tư duy
2- Tình hình nghiên cứu trong nước:
Do không đủ dữ liệu cách dạy và học văn nghị luận trong thời phong kiến, cho
nên, luận án chỉ khảo sát việc dạy học văn nghị luận trong nhà trường Việt Nam từ
thời Pháp xâm lược nước ta đến nay.
2.1- Nhà trường Việt Nam trước năm 1945
Trước Cách mạng tháng Tám, phải tới năm 1925, “môn quốc văn” và phương
pháp “giảng văn” theo kiểu Âu học ở nhà trường nước ta mới chính thức ra đời cùng
5
của một giai đoạn lịch sử. Cách dạy các tác phẩm này cũng vẫn là khai thác nội dung tư
tưởng của các bài viết, chưa chú ý đến cách dạy đọc-hiểu theo thể loại.
Trong tình hình đó, một số tài liệu hướng dẫn dạy-học văn như Vấn đề giảng dạy
tác phẩm văn học theo loại thể do Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Huỳnh Lý biên
soạn; bài“Giảng văn nghị luận theo đặc trưng loại thể” (Đàm Gia Cẩn) hoặc Giảng dạy
văn học Việt Nam (Phần cổ điển và cận đại, ở trường phổ thông cấp III) của Trần
Thanh Đạm, Bùi Văn Nguyên, Tạ Phong Châu hay các tập Những bài giảng văn ở đại
học; cuốn Giảng văn, tập I, phần giảng văn các tác phẩm nghị luận trung đại của Bùi
Văn Nguyên,…đều là những tư liệu rất bổ ích trong dạy học các tác phẩm nghị luận.
2.2.4. Chương trình môn Ngữ văn THCS và THPT (sau 2000)
Chương trình và SGK Ngữ văn mới, cả THCS và THPT, đều chú ý nhiều đến dạy
văn nghị luận và cách đọc văn nghị luận. Cách dạy và học văn bản nghị luận nói chung
và NLTĐ nói riêng thể hiện trước hết ở hệ thống câu hỏi trong SGK Ngữ văn 10 và 11
và hướng dẫn giảng dạy trong SGV. Sách Ngữ văn 11 nâng cao có dành một bài để
hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản nghị luận. Có thể kể một số tài liệu liên quan đến vấn
đề dạy học theo tinh thần mới như Đọc và tiếp nhận văn chương (Nguyễn Thanh Hùng);
Một số vấn đề về phương pháp dạy đọc-hiểu ngữ văn ở THPT ( Trần Đình Sử) ; Văn
chương bạn đọc sáng tạo (Phan Trọng Luận) Về văn nghị luận và NLTĐ cần kể đến
các tài liệu như Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Trần Đình Sử); Phác
thảo đặc trưng thi pháp văn học trung đại (Nguyễn Đăng Mạnh) Con đường giải mã
văn học trung đại ( Nguyễn Đăng Na); Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn
hóa (Trần Nho Thìn), Văn nghị luận (§ç Ngäc Thèng) Có thể thấy, dạy theo phương
hướng đọc-hiểu văn bản đã được đặt ra trong chương trình và SGK Ngữ văn mới,
nhưng các công trình nghiên cứu về đọc-hiểu và dạy học theo tinh thần đọc-hiểu với
những bước đi cụ thể chưa nhiều.
III- PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Luận án tập trung nghiên cứu cách dạy văn NLTĐ theo tinh thần mới, kết hợp
VI- GI THUYT KHOA HC
Trong chng trỡnh v SGK Ng vn THPT mi, cỏc tỏc phm NLT cú mt v
trớ quan trng, nhng vic dy hc cỏc tỏc phm ny cũn nhiu hn ch. Nu xõy dng
c mt GPDH theo tinh thn: kt hp cht ch nh hng phỏt huy tớnh tớch cc hc
tp ca ngi hc vi nguyờn tc dy hc tớch hp v c-hiu vn bn thỡ hc sinh s
hiu sõu hn v cú th t tip nhn loi tỏc phm ny mt cỏch c lp, cú hiu qu.
VII- ểNG GểP CA LUN N
1. V lớ lun: Xỏc nh c nhng c s lớ lun ca vic dy hc cỏc tỏc phm NLT;
xut c GPDH tỏc phm NLT Vit Nam trong sỏch Ng vn THPT theo yờu cu
i mi.
2. V thc tin: Vi vic xut GPDH cỏc tỏc phm NLT, lun ỏn s giỳp GV cú
nhng nh hng cn thit v phng phỏp trong quỏ trỡnh dy hc Ng vn v xõy
dng c giỏo ỏn ging dy cỏc tỏc phm ny mt cỏch cú cht lng v hiu qu, t
ú gúp phn vo vic i mi PPDH núi chung.
VIII. CU TRC CA LUN N: Lun ỏn gm 3 phn, 229 trang. bao gm:
Phn m u: Trỡnh by nhng vn chung (Lớ do chn ti, Lch s vn ,
Phm vi nghiờn cu v i tng nghiờn cu, Mc ớch v nhim v nghiờn cu,
Phng phỏp nghiờn cu, Gi thuyt khoa hc, úng gúp ca lun ỏn.
Phn ni dung chớnh gm 3 chng:
Chơng 1. Thực trạng dạy học tác phẩm nghị luận trung đại trong nhà trờng
Trung học phổ thông
ở chơng này, luận án nêu lên thực trạng của việc dạy và học các tác phẩm
NLTĐ trong nhà trờng THPT hiện nay bằng cách tiến hành khảo sát chơng trình, SGK
Ngữ văn, SGV Ngữ văn, sách BT Ngữ văn; giáo án và giờ lên lớp của giáo viên. Từ đó,
rút ra những nhận xét về thực trạng: những u điểm và hạn chế cần khắc phục.
Chơng 2. Cơ sở lí luận của việc dạy học tác phẩm nghị luận trung đại
Trong chơng này, luận án xác định các cơ sở lí luận cho việc đề ra mt s gii
10); Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh, Thời và thơ Tú Xơng Nguyễn Tuân (lớp
12). Trớc đó, ở chơng trình và SGK văn học lớp 9, học sinh đợc học tác phẩm Dụ
ch tỳ tớng hịch văn ( còn gọi là Hịch tớng sĩ ) của Trần Quốc Tuấn. Riêng Bình Ngô
đại cáo của Nguyễn Trãi đợc học cả ở CT và SGK văn học lớp 9 và lớp 10. Đây cũng là
tác phẩm NLTĐ duy nhất đợc dạy học trong CT và SGK CCGD.
1.2. Chng trỡnh v sỏch Ng vn phõn ban
Bộ sách Ngữ văn nâng cao (do GS Trần Đình Sử làm tổng chủ biên):
- Lớp 10: Viên Mai bàn về thơ (Trích Tuỳ Viên thi thoại), Th dụ Vơng Thông lần nữa
(Trích Quân trung từ mệnh tập)-Nguyễn Trãi, Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi, Hiền tài
là nguyên khí quốc gia -Thân Nhân Trung, Phẩm bình nhân vật lịch sử - Lê Văn Hu,
Tựa Trích diễm thi tập - Hoàng Đức Lơng.
- Lớp 11: Chiếu cầu hiền - Ngô Thì Nhậm, Xin lập khoa luật (trích Tế cấp bát điều) -
Nguyễn TrờngTộ, Bàn về đạo đức Đông Tây - Phan Chu Trinh, Một thời đại trong thi
ca - Hoài Thanh và Hoài Chân, Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức -
Nguyễn An Ninh, Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác - F. ăng - ghen.
- Lớp 12: Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong
văn nghệ dân tộc - Phạm Văn Đồng, Nhận đờng - Nguyễn Đình Thi, Con đờng trở
thành kẻ sĩ hiện đại - Nguyễn Khắc Viện, Về một số mặt của vốn văn hóa Việt Nam -
Trần Đình Hợu, Chất thơ của đời sống - Biêlinski, Đốt-stôi-ep-ski - S.Xvai-gơ
Bộ sách Ngữ văn (do GS Phan Trọng Luận làm tổng chủ biên):
- Lớp 10: Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi, Tựa Trích diễm thi tập - Hoàng Đức
Lơng, Hiền tài là nguyên khí quốc gia - Thân Nhân Trung.
8
- Lớp 11: Chiếu cầu hiền - Ngô Thì Nhậm, Xin lập khoa luật (trích Tế cấp bát điều) -
Nguyễn Trờng Tộ, Bàn về đạo đức Đông Tây - Phan Chu Trinh, Một thời đại trong thi
ca - Hoài Thanh và Hoài Chân, Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức -
Nguyễn An Ninh, Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác - F. ăng - ghen.
- Lớp 12: Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong
Mục đích của văn nghị luận là nhằm thuyết phục ngời đọc, ngời nghe và thuyết
phục cả chính mình. Để bài văn có sức thuyết phục cao, ngời viết phải đa ra những lí
lẽ, những lập luận và các bằng chứng tiêu biểu, xác đáng. Lí lẽ và lập luận giúp ngời
đọc hiểu, còn bằng chứng làm ngời đọc tin vào vấn đề ngời viết nêu ra. Lí lẽ và lập
luận trong bài văn nghị luận muốn chặt chẽ, phải xuất phát từ một chân lí hiển nhiên
hoặc một ý kiến đã đợc nhiều ngời thừa nhận. Lí lẽ của bài văn nghị luận thể hiện ở
hệ thống các luận điểm của bài viết, còn lập luận là cách thức trình bày lí lẽ, cách dẫn
dắt và cách nêu vấn đề của ngời viết. Ngoài ra, bài văn nghị luận muốn có sức thuyết
phục cao còn cần chú ý tới tính hai mặt của một vấn đề: đúng/ sai, phải/ trái, lợi/ hại, tốt/
xấu không nên chỉ phân tích, xem xét một chiều.
9
Văn NLT đợc viết theo các thể loại hết sức cụ thể nh cáo, chiếu, sách, dụ,
hịch, th, luận, biện, thuyết, điếu văn, tự, bạt, tựa Mỗi thể loại này có những đặc trng
hết sức riêng về nội dung và nghệ thuật. Song giữa các thể loại này cùng có một điểm
chung - mang đầy đủ những đặc trng thi pháp của văn học trung đại. Khi tiếp nhận
TPVH trung đại nói chung, tác phẩm NLTĐ nói riêng, cần lu ý hoàn cảnh ra đời của
nó, đặc biệt là hoàn cảnh văn hoá xã hội chịu sự chi phối mạnh mẽ của t tởng kinh
điển Nho gia, các tác phẩm NLTĐ không đơn thuần là đề xuất ý kiến, quan điểm của
ngời viết về các vấn đề của đời sống và văn học mà còn mang tính văn học cao. Các tác
phẩm NLTĐ sử dụng nhiều từ Hán Việt, từ cổ, điển cố, điển tích nên văn phong rất trang
trọng và hàm súc Đây cũng chính là điểm khác biệt nhất giữa tác phẩm NLTĐ với tác
phẩm NLHĐ. Vì thế, khi dạy học tác phẩm NLTĐ, không thể không khai thác các vấn
đề này.
1.2. Yêu cầu đổi mới PPDH Ngữ văn
Trong các công trình nghiên cứu về đổi mới PPDH nói chung, dạy học Ngữ văn
nói riêng trong những năm gần đây, ngời ta thờng nói đến t tởng lấy học sinh làm
trung tâm, dạy học nêu vấn đề, dạy học phải gắn với thực tiễn cuộc sống Bên cạnh định
hớng đổi mới PPDH chung cho tất cả các bộ môn nêu trên, đối với môn Ngữ văn, cần
10
Tựa Trích diễm thi tập - Hoàng Đức Lơng, Phẩm bình nhân vật lịch sử - Lê Văn
Hu, Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 - Thân Nhân
Trung (đọc thêm bắt buộc), Chiếu cầu hiền - Ngô Thì Nhậm, Xin lập khoa luật - Nguyễn
Trờng Tộ
Có thể nói, những tác phẩm hoặc đoạn trích NLTĐ mới đợc đa vào CT đều là
những tác phẩm hay, có giá trị. Tuy nhiên, việc chú ý tác phẩm NLTĐ không chỉ thể
hiện ở sự xuất hiện của chúng trong CT và SGK Ngữ văn mà quan trọng hơn là việc
hớng dẫn, tổ chức dạy học các tác phẩm này nh thế nào.
3. Nhận xét thực trạng dạy học tác phẩm nghị luận trung đại
3.1. Về mục tiêu cần đạt của bài học
Hầu hết các bài hớng dẫn đều chỉ ra những mục tiêu quan trọng cần đạt đợc
trong một bài đọc-hiểu tác phẩm NLTĐ (về giá trị nghệ thuật; giá trị nội dung; kĩ năng
đọc-hiểu cụ thể cần rèn luyện cho HS; t tởng, vấn đề đạo đức cụ thể cần hình thành
cho HS). Cú th thy rng, mc tiờu cn t v giỏ tr ni dung tỏc phm tng bi hc
v mi b sỏch u tng t nhau, song mc tiờu cn t v giỏ tr ngh thut-tc
nhng c trng v th loi th hin trong tỏc phm hoc on trớch cn phi khai thỏc,
k nng c-hiu c th cn rốn luyn, t tng o c cn hỡnh thnh trong tng bi
hc hoc tng b sỏch l khỏc nhau. c bit, mc tiờu tớch hp c vn vi Ting Vit
v Lm vn cũn xut hin rt ớt trong cỏc bi hng dn. Mc dự khụng phi bi c-
hiu no cng cú kh nng tớch hp cao, nht l cỏc bi hc v vn chng hỡnh tng;
cũn i vi cỏc tỏc phm ngh lun thỡ kh nng tớch hp l rt phự hp v phong phỳ.
3.2.Về phơng pháp dạy học
Theo chúng tôi, dạy học theo đặc trng loại thể chính là việc cung cấp cho HS
những hiểu biết cơ bản về loại thể của chính tác phẩm đó. Đồng thời, hớng dẫn HS
vận dụng những hiểu biết các đặc trng đó trong từng tác phẩm cụ thể, rồi sử dụng
chúng nh những phơng tiện khám phá nội dung t tởng của tác phẩm.
Trong chơng I, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, đa ra những nhận xét,đánh giá
điển và tôn giáo.
1.1.4 Đặc điểm thứ tư là văn học trung đại cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn
hoá dân gian.
1.1.5 Đặc điểm thứ năm của loại hình VHTĐ là tính chất ước lệ.
1.2. Về ngôn ngữ văn học:
Thi pháp văn học trung đại nêu lên những đặc trưng của ngôn ngữ VHTĐ trong
sự phân biệt với ngôn ngữ văn học hiện đại như sau:
1.2.1 Do khái niệm “văn” được hiểu trong tương quan như văn của người, của
đạo, của tạo hoá, như nhật nguyệt, tinh, thần trên trời, sơn, xuyên, hoa, điểu trên mặt
đất, cho nên ngôn từ cũng được hiểu như người, dấu hiệu biểu hiện hơn là lời nói, phát
ngôn.
1.2.2 Tính nghi thức vốn có của xã hội phong kiến thấm vào ngôn ngữ, tạo thành
các hình thức, nghi thức.
1.2.3 Tính trang trí cũng là một đặc trưng nổi bật của ngôn từ VHTĐ.
Mấy đặc trưng trên đây làm cho ngôn ngữ VHTĐ khác hẳn hiện đại. Giảng dạy
văn NLTĐ không thể không chú ý tới đặc điểm câu văn (biền văn) thường “có cấu trúc
chặt chẽ về mặt số dòng, số chữ, bằng, trắc, đối, niêm ” .
1.2.4 Ngôn ngữ VHTĐ thường cốt đắc thể, phù hợp với phong cách, thể, loại,
tình huống biểu cảm
1.3. Về phương pháp giải mã văn bản VHTĐ:
1.3.1 Việc đầu tiên là cần xem tác phẩm ấy thuộc thể loại văn học nào. Mỗi thể
loại đều có một hình thức cấu trúc và cách diễn đạt riêng.
1.3.2 Xem xét tác phẩm ấy thuộc loại hình văn học nào: Văn học chức năng hành
chính, lễ nghi hay văn học có chức năng nghệ thuật.
1.3.3 VHTĐ gắn với liền với các học thuyết triết học, tôn giáo và chịu sự chi phối
của chúng, vì thế, nghiên cứu, phân tích tác phẩm trung đại không thể tách rời triết học
và tôn giáo trung đại.
1.3.4 Các thể loại VHTĐ đều có tính lịch sử và sự chuyển đổi. Có những thể văn
ở giai đoạn này nó thuộc văn học nghệ thuật, nhưng ở giai đoạn khác nó lại thuộc văn
học chức năng hành chính, lễ nghi.
3. Lý thuyết tiếp nhận văn học
Lí thuyết tiếp nhận nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa việc đọc, cảm nhận, thưởng
thức, suy ngẫm và nhận thức của người đọc với ý nghĩa của các thông điệp thẩm mĩ do
nghệ sĩ gửi gắm trong TPVH. Tiếp nhận văn học là một hoạt động tinh thần đòi hỏi
người đọc cảm thụ, thưởng thức, suy ngẫm, từ đó mà nhận ra, “vỡ ra”, “ngộ ra” nhiều
điều sâu sắc và lí thú về cuộc đời, về con người được tác giả gửi gắm qua tác phẩm của
mình.
Vì thế, việc đưa ra một PPDH tác phẩm nói chung, tác phẩm NLTĐ nói riêng là
hết sức quan trọng để giúp HS đọc, thưởng thức và đánh giá TPVH đúng các nguyên tắc
tiếp nhận nghệ thuật và theo đúng những đặc trưng thể loại. Cũng chỉ có như thế mới
giúp HS “từ đặc điểm tiếp nhận thô sơ, tự phát, thụ động, học sinh phải đạt tới việc tiếp
thu có ý thức - tự giác và lĩnh hội văn học có phê phán”.
II. LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN
1. Dạy học theo đặc trưng thể loại
Điều mà luận án quan tâm ở đây là phải làm thế nào và bằng cách nào để giúp
HS cùng ý thức được là các em đang được tiếp xúc với một TPVH thuộc một thể loại
nhất định - ở đây là văn NLTĐ.
Có thể nói, hướng dẫn HS đọc-hiểu TPVC theo đặc trưng thể loại là một hướng
đi có nhiều ưu thế để rèn luyện kĩ năng đọc, cảm thụ, phân tích, lí giải và đánh giá tác
phẩm một cách hợp lí, sáng tạo. Bởi TPVC nào cũng đều phải tồn tại trong hình thức
13
một thể loại nhất định, không có tác phẩm “siêu thể loại”. Thể loại chính là phạm trù về
chỉnh thể tác phẩm.
Như vậy, văn học chỉ tồn tại trong đời sống dưới dạng tác phẩm cụ thể thuộc một
thể loại cụ thể. Thể loại văn học là sự thể hiện một cách tiếp cận đời sống, chiếm lĩnh
hiện thực đời sống của nhà văn, thể hiện nguyên tắc xây dựng thế giới nghệ thuật tác
3. Đọc-hiểu có nghĩa là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân
tích, khái quát, biện luận đúng sai về lôgic, kết hợp năng lực tư duy và biểu đạt.
4. Chú ý đặt câu hỏi để kiểm tra xem HS có đọc hay không, đọc rồi có hiểu hay
không, từ từ ngữ, câu, đoạn đến chi tiết, hình tượng.
III. Về các hình thức và cấp độ hướng dẫn đọc-hiểu
1. Đọc-hiểu nghĩa từ ngữ trong văn bản.
2. Đọc-hiểu nghĩa câu văn, đoạn văn trong văn bản.
3. Chọn thông tin quan trọng nhất trong bài văn.
4. Nắm bắt các câu then chốt trong bài văn.
5. Phân tích, quy nạp nội dung cơ bản của đoạn, của bài.
14
6. Phân tích, quy nạp quan điểm, tư tưởng của tác giả trong bài văn.
7. Phân tích, thưởng thức giá trị nghệ thuật của văn bản.
Đọc-hiểu văn nhất thiết phải khám phá được phương thức trình bày nghệ thuật
đặc sắc của tác phẩm. Đọc văn cuối cùng là để hiểu văn, hiểu được giá trị phản thân
biến đổi bên cạnh giá trị tự thân ổn định của TPVC.
Vậy, đọc và đọc-hiểu không chỉ là mục đích tiếp nhận TPVH mà còn là cách
thức, là phương pháp tiến hành tiếp nhận tác phẩm. Dạy văn là dạy đọc văn để hiểu văn,
xuất phát từ những cơ sở như thế.
3. Dạy học tích hợp với định hướng tích cực hoá hoạt động của người học
Quy trình dạy học tác phẩm NLTĐ, nếu được xây dựng và vận dụng thiết thực,
hiệu quả sẽ có ý nghĩa chiến lược đối với việc thực hiện hai trọng tâm lớn của vấn đề
đổi mới phương pháp dạy học bộ môn. Nói cách khác, đó là cách thực hiện “phương
châm hai chữ tích” trong CT và SGK mới:
- Thứ nhất là tích cực. Tích cực hoá hoạt động học tập của HS là tư tưởng, là mục
đích của quá trình đổi mới PPDH. Ở đây, GV giúp HS tự khám phá trên cơ sở tự giác và
tự do. HS phải được đặt ở vị trí trung tâm của hoạt động dạy - học. "Chống gò ép, ban
phát, giáo điều" là hạt nhân của đổi mới PPDH văn.
ny ũi hi trong quỏ trỡnh dy hc, khi la chn ni dung, phng phỏp v hỡnh thc t
chc dy hc phi khụng ngng nõng cao dn mc khú khn trong hc tp, phi to
nờn khú khn va sc, nhng yờu cu v nhim v hc tp ra phi tng ng vi
gii hn cao nht ca vựng phỏt trin trớ tu gn nht .
3. Lớ thuyt hot ng trong dy v hc
Hot ng l quy lut chung nht ca tõm lớ ngi. xut mt quy trỡnh c-
hiu tỏc phm vn hc núi chung, tỏc phm NLT núi riờng chớnh l s nh hng
hot ng c, hot ng tip nhn cho ngi hc, gúp phn hỡnh thnh cho HS nng
lc t tip nhn vn hc, kh nng t phõn tớch v thm nh nhng giỏ tr ca tỏc
phm vn hc mt cỏch c lp.
Chơng III
Các giải pháp dạy học tác phẩm nghị luận trung đại và thử
nghiệm s phạm
I. Các Giải pháp dạy học tác phẩm nghị luận trung đại
1. Xác định tiêu chí phân loại các tác phẩm nghị luận trung đại trong SGK Ngữ
văn THPT
Để xác định quy trình dạy đọc-hiểu tác phẩm NLTĐ trong SGK Ngữ văn 10,11,
luận án dựa trên một số tiêu chí sau:
1.1. Vấn đề thể loại của các tác phẩm nghị luận trung đại
Khi dạy học các tác phẩm NLTĐ không thể không chú ý đến các đặc trng về thể
loại của các tác phẩm này. Đây là một nguyên tắc bắt buộc trong dạy học TPVH nói
chung và tác phẩm NLTĐ nói riêng.
1.2. Vấn đề nội dung của các tác phẩm nghị luận trung đại
Có thể chia các tác phẩm NLTĐ thành hai nhóm sau:
- Nhóm 1 - các tác phẩm nghị luận văn học bao gồm: Tuỳ Viên thi thoại (Viên
Mai), Tựa " Trích diễm thi tập" (Hoàng Đức Lơng).
- Nhóm 2 - các tác phẩm nghị luận chính trị - xã hội bao gồm: Th dụ Vơng
d) Định hướng cho học sinh xác định chủ đề - tư tưởng của TPVH
Chủ đề là vấn đề cơ bản của TPVH. Nó thể hiện chiều sâu tư tưởng và quyết
định sức sống tác phẩm. Chủ đề - tư tưởng của tác phẩm NLTĐ gắn bó mật thiết với
vấn đề nội dung của nó (nghị luận chính trị xã hội hay nghị luận văn học) và chức năng
(tính hành chức) của nó.
2.2.2. Hướng dẫn HS đọc - hiểu nội dung văn bản nghị luận trung đại
GV nên hướng dẫn HS thực hiện theo trình tự các thao tác sau:
a) Giúp HS hiểu thấu đáo từ ngữ, điển tích, điển cố, biểu tượng và những ước lệ
tượng trưng trong văn bản văn học
Từ ngữ là “cửa ngõ” đầu tiên và cũng là “bức tường” đầu tiên mà người học phải
vượt qua để bước vào thế giới nghệ thuật đa dạng, phong phú của tác phẩm, đặc biệt là
đối với tác phẩm có nhiều điển tích, nhiều từ Hán Việt, từ Việt cổ, nhiều biểu tượng và
cách nói ước lệ, tượng trưng như tác phẩm NLTĐ.
Muốn thế, trước hết cần hướng dẫn HS tìm hiểu phần chú thích về từ khó trong
SGK. Phải tạo được cho HS niềm hứng thú, sự say mê tìm hiểu, khám phá từ khó và
thấy được ý nghĩa của việc tìm hiểu từ khó đối với công việc phân tích, cắt nghĩa, bình
giá các chi tiết nghệ thuật.
Ngoài việc tìm hiểu chú thích, cần hướng dẫn HS sử dụng Từ điển tiếng Việt và
Từ điển Hán Việt. Bởi vì, có một thực tế là không phải tất cả các từ khó trong văn bản
NLTĐ đều được tác giả SGK chú giải.
b) Hướng dẫn HS xác định và phân tích hệ thống lập luận của văn bản nghị luận
trung đại
Đây là khâu quan trọng nhất trong giờ dạy đọc - hiểu tác phẩm NLTĐ. Mỗi văn
bản NLTĐ được học trong chương trình Ngữ văn THPT đều viết theo một thể loại nhất
định với bố cục và kết cấu phù hợp với thể loại đó.
Mỗi một thể NLTĐ đều có một bố cục riêng, mỗi phần của bố cục tác phẩm lại
chứa đựng một nội dung - chức năng riêng và mỗi nội dung đó tương ứng với một luận
điểm. Một văn bản NLTĐ có thể loại có hai, ba hoặc bốn luận điểm, phụ thuộc vào số
lượng các phần của bố cục. Vậy, khâu đầu tiên trong việc phân tích hệ thống lập luận
của văn bản NLTĐ là tìm ra hệ thống luận điểm.
- BT tìm hiểu vai trò người tiếp nhận
b) Hệ thống BT luyện tập
Mục đích của các BT luyện tập là giúp HS vận dụng lí thuyết vào thực hành, vận
dụng kiến thức văn học đã được học trên lớp cũng như quá trình tự tìm hiểu của các em,
làm cho những kiến thức mà các em tiếp thu được trở nên nhuần nhuyễn hơn, HS sẽ tự
tin hơn bởi những kiến thức đó do chính HS lĩnh hội và làm chủ. Vì thế, các BT luyện
tập trên lớp cũng như ở nhà phải rất đa dạng, phong phú để rèn luyện được cho HS
nhiều thao tác, nhiều kĩ năng về việc cảm, hiểu tác phẩm NLTĐ ở các khía cạnh nội
dung cũng như nghệ thuật.
2.4. Củng cố và rèn luyện
2.4.1. Hướng dẫn HS sử dụng SGK Ngữ văn
a) Sử dụng SGK Ngữ văn ở nhà
Mỗi bài học trong SGK Ngữ văn đều được cấu trúc hợp lí, thuận tiện để giúp các
em chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
b) Sử dụng SGK Ngữ văn trên lớp
Trên lớp, SGK Ngữ văn gần như là phương tiện học tập duy nhất của HS. Vì vậy,
cùng với phần chuẩn bị ở nhà, SGK là tài liệu quan trọng để HS dựa vào đó lĩnh hội
được những tri thức, kĩ năng cần thiết. Thoát li SGK, HS sẽ không có căn cứ, cơ sở để
trả lời các câu hỏi và BT của GV.
18
2.4.2. Hướng dẫn HS đọc thêm ở nhà
a) Về tài liệu đọc thêm
GV có thể cung cấp cho HS những tài liệu để các em đọc thêm như các văn bản
NLTĐ ngoài chương trình.
b) Cách đọc thêm
GV định hướng cho HS vận dụng những kĩ năng đọc - hiểu tác phẩm NLTĐ đã
được cung cấp trên lớp vào việc đọc thêm ở nhà, như đã nêu ở trên.
2.4.3. Sử dụng đề kiểm tra, đánh giá
Sử dụng đề KTĐG là một biện pháp tiếp nối và khép kín hệ thống các biện pháp sư
Thứ nhất, triển khai thử nghiệm nhằm kiểm nghiệm sự phù hợp và tính hiệu quả
của những đề xuất về các GPDH tác phẩm NLTĐ được đưa ra trong luận án.
Thứ hai, việc thử nghiệm nhằm mục đích thu nhận những kết quả phản hồi từ
phía GV và HS về các nội dung và quy trình dạy học các tác phẩm NLTĐ.
1.2. Nội dung thử nghiệm
1.2.1 Chuẩn bị giáo án
19
Tất cả các GV tham gia thử nghiệm đều được giới thiệu ( tập huấn) về cách soạn
giáo án các tác phẩm NLTĐ trong sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao. Sau đó
tham khảo một số giáo án do luận án đề xuất.
1.2.2 Quy trình tổ chức dạy học trên lớp
Các GV thử nghiệm thực hiện quy trình lên lớp theo ý đồ và giáo án của luận án
đề xuất. Các lớp đối chứng thực hiện bình thường. Quy trình tổ chức dạy học tác phẩm
NLTĐ mà luận án đề xuất nhấn mạnh các điểm sau:
a) Giờ học phải kết hợp hài hoà giữa yêu cầu tích cực hoá hoạt động của người
học, hướng tới người học (nguyên tắc chung) với các yêu cầu xuất phát từ đặc trưng bộ
môn (nguyên tắc đặc thù).
b) Giờ học phải thực hiện được “nhiệm vụ kép”: một mặt tổ chức hướng dẫn cho
HS tự tìm hiểu và khám phá vẻ đẹp cụ thể của tác phẩm NLTĐ được học, mặt khác hình
thành và rèn luyện cho HS cách thức phân tích, giải mã, tiếp nhận loại tác phẩm NLTĐ
theo một thể nhất định (cáo, chiếu, hịch, bình sử, tựa ) bằng nhiều con đường và cách
thức đa dạng, phong phú.
1.2.3. Xây dựng hệ thống bài tập
Đa dạng hóa hệ thống BT và đề xuất phương hướng sử dụng chúng một cách hợp
lí nhằm rèn luyện năng lực tiếp nhận tác phẩm NLTĐ một cách độc lập cho HS THPT.
1.2.4. Kiểm tra đánh giá
Các bài KTĐG không chỉ giúp HS củng cố nội dung bài học có trong SGK mà
còn phân tích những văn bản, những tác phẩm NLTĐ cùng thể loại ở bên ngoài. Hình
thức KTĐG có sự kết hợp giữa kiểm tra trắc nghiệm khách quan và tự luận truyền
- Không khí lớp học.
- Thái độ và hứng thú học của HS .
1.6. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thử nghiệm
Thu thập các số liệu và kết quả kiểm tra từ đó lập bảng phân phối kết quả thử nghiệm.
2. Tiến trình và kết quả thử nghiệm
2.1. Tiến trình thử nghiệm: Cung cấp cho GV các tài liệu thử nghiệm, bao gồm:
a)Tóm tắt tinh thần cơ bản của quy trình dạy đọc-hiểu tác phẩm NLTĐ trong
SGK Ngữ văn THPT.
b) Giáo án tham khảo (được thiết kế theo tinh thần của luận án).
c) Đề bài và đáp án của các đề kiểm tra
d) Các mẫu bảng thống kê và bảng phân phối thử nghiệm cho mỗi loại lớp.
2.2. Kết quả thử nghiệm
2.2.1. Về mặt định lượng
Từ các bảng thống kê kết quả (bảng 1 đến bảng 6) trong luận án, có thể nêu lên
kết quả tổng hợp qua ba bài kiểm tra và các phân tích đánh giá sau.
B¶ng 7. KÕt qu¶ (tÝnh ra %) c¸c nhãm TN vµ §C-Bµi kiÓm tra sè 1
KÕt qu¶ (%)
Nhãm
Tæng
sè HS
Giái Kh¸ §¹t Kh«ng ®¹t
TN
391 0
0%
123
31.35%
6.88%
165
45.45%
136
37.46%
37
10.19%
B¶ng 9. KÕt qu¶ (tÝnh ra %) c¸c nhãm TN vµ §C- Bµi kiÓm tra sè 3
21
KÕt qu¶ (%) Nhãm
Tæng sè
HS
Giái Kh¸ §¹t Kh«ng ®¹t
TN
371 13
3.50%
112
30.18%
182
49.05%
64
17.25%
§C
362 1
0.27%
48
13.25%
Đây là một điều kiện cần thiết cho việc dạy học thử nghiệm về sự vận dụng rộng rãi và
tính khả thi của quy trình dạy học tác phẩm NLTĐ mà luận án xây dựng.
3. Với đề kiểm tra số 3, yêu cầu HS nghị luận về một văn bản NLTĐ không có
trong chương trình, SGK. Đó là bài Thư cho Vương Thông. Đề cho văn bản kèm với 03
câu hỏi:
a) Theo anh (chị), Nguyễn Trãi viết bức thư trên nhằm mục đích gì?
b) Kết hợp với nội dung của Thư dụ Vương Thông lần nữa (thư số 35) đã học,
hãy nêu rõ tư tưởng, chiến lược của Nguyễn Trãi ở bức thư này .
c) Viết một đoạn văn ngắn, phân tích cái hay, cái đẹp của bức thư này.
22
Kt qu thu c cho thy rt rừ nng lc t tip nhn, t c-hiu v khỏm phỏ
mt tỏc phm NLT ca hai i tng rt khỏc nhau. cỏc lp dy hc i chng,
phn ln HS khụng lm c, nhiu HS b giy trng, nhiu HS ch nờu li ni dung
bc th mt cỏch rt ngụ nghờ.
Nhỡn chung, cỏc lp th nghim cú khỏ nhiu bi lm ca HS t kt qu tt.
Nhiu bi lm khỏ hay, th hin s sỏng to, ch ng, tớch cc ca cỏc em trong cm
nhn TPVH, chỳng tụi ó thu c nhiu bi vit tt v sõu sc.
2.2.2. V mt nh tớnh:
Vi GV:
+ a s ý kin ca GV u cho rng quy trỡnh dy c-hiu tỏc phm NLT nh
ó nờu trờn, nu c t chc tt, s em li hiu qu tớch cc cho HS, to cho HS cú
c hi th hin s tip thu, mc cm nhn ca mỡnh trong gi dy hc, gi hc
cỏc tỏc phm ny c ỳng hng v phỏt huy c giỏ tr tớch cc ca nú. Vi quy
trỡnh ny v cỏc bin phỏp c th ca nú buc HS phi suy ngh, ng nóo, phi lm
vic nhiu hn, thỳc y s hỡnh thnh v rốn luyn cỏc k nng c-hiu TPVC núi
chung, tỏc phm NLT núi riờng.
+ Cỏc GV dy TN u cho rng khi ỏp dng quy trỡnh ny ny, kt qu hc tp
c nõng lờn rừ rt.
+ Song, bờn cnh ú cng cú mt s ý kin ca GV cho rng mun dy tỏc phm