Đẩy mạnh công tác huy động vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội - Pdf 28

Lời nói đầu
Hệ thống ngân hàng Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với sự phát
triển của nền kinh tế đất nước, giữ vai trò là động lực thúc đẩy sản xuất xã hội
phát triển. Trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước thì vai trò
này càng được thể hiện một cách rõ nét bởi một nhân tố không thể thiếu trong
quá trình này là nguồn vốn để thực hiện quá trình này. Mặt khác hệ thống
ngân hàng lại là kênh thu hút vốn quan trọng và hiệu quả nhất nên vai trò của
các NHTM là không thể phủ nhận.
Thực tế, không quá khó khăn khi nhận thức rằng nguồn vốn có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế nhưng sẽ là khó khăn khi đi tìm kiếm
nó. Câu hỏi đặt ra là: vốn được khơi nguồn từ đâu?
Cùng với việc nhận thức về vai trò của nguồn vốn đối với sự phát triển
kinh tế đất nước, sau một thời gian thực tập tại ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Hà Nội - chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển Nông thôn Việt Nam, rất quan tâm đến công tác huy động vốn,
với phương châm kinh doanh nguồn vốn huy động để nâng cao hoạt động
kinh doanh. Em xin chọn đề tài: “Đẩy mạnh công tác huy động vốn tại Ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội”.
Bài viết gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông
thôn Hà Nội
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội
Do kiến thức thực tế và lý luận có hạn nên chuyên đề không tránh khỏi
những thiếu sót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các cán
bộ nhân viên trong công ty để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin cảm ơn cô giáo: Th.S Nguyễn Thị Hoài Dung
Cùng các cán bộ nhân viên phòng Kế toán Ngân quỹ - Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành

khác trên địa bàn nội thành và ngoại thành Hà Nội.
a. Huy động vốn
- Khai thác và nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, tổ chức tin dụng
khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại
tiền gửi khác trong nước, ngoài nước bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, và giấy tờ khác để
huy động vốn các tổ chức, các cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy
định của NHNo&PTNT Việt Nam
- Tiếp nhận các nguồn tài trợ và uỷ tác của chính phủ, chính quyền địa
phương và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy
định của NHNo&PTNT Việt Nam
- Được phép vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng khác hoạt
động tại Việt Nam và tổ chức tín dụng nước ngoài khi được Tổng giám đốc
NHNo&PTNT Việt nam cho phép bằng văn bản
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNo&PTNT
Việt Nam
b. Cho vay
- Cho vay ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế và cá nhân nhằm đáp
ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
- Cho vay trung hạn và dài hạn đối với các tỏ chức kinh tế và cá nhân
nhằm thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời
sống
c. Kinh doanh ngoại hối
Huy động vốn và cho vay, mua, bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, bảo
lãnh, tái bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ và các dịch vụ khác
về ngoại hối theo chính quản lý ngoại hối của chính phí, Ngân hàng và của
NHNo&PTNT Việt Nam.
d. Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ gồm:
- Cung ứng các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán nước cho khách hàng

- Chi nhánh NHNN huyện Đan Phượng
- Chi nhánh NHNN huyện Thạch Thất
- Chi nhánh NHNN huyện Phúc Thọ
- Chi nhánh NHNN huyện Sơn Tây
- Chi nhánh NHNN huyện Ba Vì
Vào tháng 9/1991 tách 7 ngân hàng huyện về 2 chi nhánh tỉnh Hà tây và
Vĩnh Phúc.
Chi nhánh tỉnh Hà Tây bao gồm:
Hoài Đức Ba Vì Đan Phượng
Thạch Thất Sơn Tây Phúc Thọ
Chi nhánh huyện Mê Linh về công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
Năm 1994 thành lập thêm chi nhánh chợ Hôm sau này chuyển thành chi
nhánh quận Hai Bà Trưng.
Năm 1995 thành lập thêm 2 chi nhánh là chi nhánh quận Tây Hồ và chi
nhánh Giảng Võ sau này là chi nhánh quận Ba Đình
Ngay từ ngày đầu thành lập (tháng 6/1998) với điều kiện cơ sở vật chất
còn hạn chế, nguồn vốn nhỏ (18 tỷ VNĐ) trình độ cán bộ nhân viên còn bất
cập, công nghệ lạc hậu.v.v. chi nhánh đã phải đương đầu với những khó khăn
và thách thức trước sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt với nhiều ngân hàng
thương mại và các tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài trên địa bàn
Thủ đô.
Trong giai đoạn này thực hiện chủ trương của NHNo&PTNT Việt Nam,
chi nhánh đã chủ động phối kết hợp với Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn
thanh niên... để đầu tư cho các hộ sản xuất kinh doanh trồng dâu, nuôi tằm,
chăn nuôi bò sữa, khôi phục ngành nghề truyền thống, phát triển vùng chuyên
chanh rau, hoa, quả góp phần tích cực vào sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông
thôn ngoại thành tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần nâng cao đời
sống và giải quyết việc làm cho nhiều hộ dân. Đối với nền kinh tế nông
nghiệp: những năm 1988-1995 chỉ đạo các chi nhánh ngoại thành cho vay
phát triển kinh tế hộ nông nghiệp, giúp nông dân thực hiện các dự án nhỏ theo

chính sách khách hàng thông thoáng, với nhiều giải pháp điều hành sáng tạo
đặc biệt chú trọng công tác đầu tư chất xám, thay đổi một cách căn bản phong
cách giao dịch với khách hàng, đầu tư và ứng dụng công nghệ hiện đại vào
quản trị kinh doanh đồng thời tranh thủ thời cơ mở rộng màng lưới các chi
nhánh và phòng giao dịch.
Giai đoạn 1995-2002 với chức năng kiêm nhiệm hoạt động Ngân hàng
phục vụ người nghèo, Chi nhánh đã góp phần tích cực vào chương trình xoá
đói, giảm nghèo của Thành phố đã tạo điều kiện giúp đỡ cho hàng ngàn hộ
thoát nghèo, do vậy đã được Thành uỷ, UBND Thành phố đánh giá cao về
công tác xoá đói giảm nghèo.
Với nguồn vốn huy động được Chi nhánh đã đáp ứng kịp thời đầy đủ
mọi nhu cầu vay vốn của các tổ chức kinh tế và dân cư trên địa bàn Thủ đô.
Từ năm 1995 đến nay, với địa bàn thu hẹp chỉ hoạt động kinh doanh tại quận
nội thành. Chi nhánh đã nhanh chóng thay đổi cách suy nghĩ, cách làm, mạnh
dạn mở rộng màng lưới và đầu tư cho các thành phần kinh tế để phát triển sản
xuất kinh doanh, mà trọng tâm là thay đổi cơ cấu đầu tư tín dụng từ chỗ chỉ
tập trung đầu tư ngắn hạn, đã mở rộng cho vay ngắn hạn, trung dài hạn đối
với các thành phần kinh tế nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các Công ty
TNHH, các Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân để phát triển sản xuất
kinh doanh thay đổi máy móc thiết bị công nghệ thực hiện CNH-HĐH góp
phần không nhỏ vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thủ đô theo hướng
Dịch vụ- Công nghiệp và Nông nghiệp. Bên cạnh đó chi nhánh còn mở rộng
cho vay tư nhân cá thể, hộ sản xuât, đặc biệt là các lực lượng vũ trang, cán bộ
công nhân viên trong các cơ quan, trường học, bệnh viện và dân cư để thiện
đời sống, mua sắm thiết bị sinh hoạt cũng như mua sắm nhà cửa.v.v.
Cùng với hoạt động kinh doanh nội tệ, từ năm 1995 NHNo&PTNT Hà
Nội phát triển thêm dịch vụ kinh doanh đối ngoại, thực hiện huy động vốn,
cho vay bằng ngoại tệ, thanh toán quốc tế, mở L/C phục vụ các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu, đến nay đã có quan hệ giao dịch và làm đại lý cho
các tổ chức tín dụng với 800 ngân hàng tại các quốc gia trên 5 châu lục,

đến công tác huy động vốn, thông qua việc sử dụng rất nhiều các hình thức và
biện pháp tích cực chủ động nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và
tranh thủ những nguồn vốn khác nên qua các năm ngân hàng luôn có tốc độ
tăng trưởng nguồn vốn tương đối cao và đều đặn.
Bảng 1 :Cơ cấu nguồn vốn huy đông theo thành phần kinh tế
và theo thời gian
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006
Số tiền %
1. Tổng nguồn vốn 13.187 100
2. Nguồn vốn theo thành phần kinh tế
- Tiền gửi của khách hàng 6.718 46,9
- Tiền gửi 1.874 14,2
- Tiền gửi kho bạc 3.485 26,4
- Tiền gửi khác 1.650 12,5
3. Nguồn vốn huy động theo thời gian
- Tiền gửi không kỳ hạn 6.586 49,9
- Tiền gửi < 12 tháng 1.037 7,9
- Tiền gửi > 12 tháng 4.414 33,5
- Tiền gửi khác 1.150 8,7
(Nguồn: Phòng Kế toán- Ngân quỹ)
Tổng nguồn vốn đạt 13.187 tỷ VNĐ, tăng 1899 tỷ so với năm 2005
- Tiền gửi của khách hàng: 6.718 chiếm 46,9% tỷ giảm 449 tỷ so với
năm 2005.
- Tiền gửi TCTD: 1.874 tỷ chiếm 14,2% tăng 1471 tỷ so với năm 2005.
- Tiền gửi Kho bạc: 3.485 tỷ chiếm 26,4% tăng 251 tỷ so với năm 2005.
- Tiền gửi khác: 1650 chiếm 12,5 % tăng 1166 tỷ so với năm 2005.
Cơ cấu huy động nguồn vốn:
- Tiền gửi không kỳ hạn: 6.586 tỷ chiếm 49,9% tổng nguồn vốn.

2004 2005 2006
1. Tổng dư nợ 3.139.265 2.690.609 2.457.000
2. Dư nợ theo thành phần
kinh tế
- Doanh nghiệp Nhà nước 1.615.227 970.120 818.000
- Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh
1.093.508 1.159.864 1.293.000
- Hộ gia đình, cá nhân 430.530 560.625 344.000
3. Dư nợ theo thời hạn cho
vay
- Ngắn hạn 2.062.176 1.631.276 1.336.000
- Trung hạn 551.851 382.883 432.000
- Dài hạn 525.238 676.450 689.000
(Nguồn: Phòng kế toán ngân quỹ)
Trong năm 2005, tổng dư nợ đạt 2.690 tỷ, đạt 99,6% chỉ tiêu kế hoạch
NHNo Việt Nam giao, đây là sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ
tín dụng đã tích cực thu hút khách hàng, tìm kiếm dự án để mở rộng đầu tư tín
dụng.
Bảng 3: Cơ cấu dư nợ thành phần kinh tế và theo thời gian của
NHNo&PTNT Hà Nội năm 2005
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2005
Số tiền %
1. Tổng dư nợ 2.690.609 100
2. Dư nợ theo thành phần kinh tế
- Doanh nghiệp Nhà nước 970.120 36
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.159.864 43,1
- Hộ gia đình, cá nhân 560.625 20,9

ngân hàng.
Đến năm 2006 tổng dư nợ đạt 2.457 tỷ (thấp hơn năm 2005 do đã tiến
hành bàn giao chi nhánh Cầu Giấy) đạt kế hoạch Trung ương giao, dư nợ nội
tệ đạt 2.043 tỷ, dư nợ ngoại tệ đạt 414 tỷ (Quy đổi)
Bảng 4: Cơ cấu dư nợ thành phần kinh tế và theo thời gian của
NHNo&PTNT Hà Nội năm 2006
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2006
Số tiền %
1. Tổng dư nợ 2.457.000 100
2. Dư nợ theo thành phần kinh tế
- Doanh nghiệp Nhà nước 818.000 33
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1.293.000 53,06
- Hộ gia đình, cá nhân 344.000 16,94
3. Dư nợ theo thời hạn cho vay
- Ngắn hạn 1.336.000 54,3
- Trung hạn 432.000 17,6
- Dài hạn 689.000 28,1
(Nguồn: Phòng kế toán ngân quỹ)
* Kết cấu dư nợ như sau:
- Dư nợ ngắn hạn: 1.336 tỷ, chếm 54,3% tổng dư nợ.
- Dư nợ trung: 432 tỷ, chiếm 17,6% tổng dư nợ.
- Dư nợ dài hạn: 689 tỷ chiếm 28,1% trong tổng dư nợ
* Chia theo loại dư nợ:
- Dư nợ nội tệ: 2.043 tỷ, chiếm 83.15% tổng dư nợ.
- Dư nợ ngoại tệ: 414 tỷ chiếm 16,85% tổng dư nợ.
* Kết cấu dư nợ:
- Doanh nghiệp Nhà nước: 818 tỷ chiếm 33% tổng dư nợ, giảm 152,12
tỷ so với năm 2005. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 1.293 tỷ chiếm 53,06%

- Việc thẩm định hồ sơ cho vay còn chưa chi tiết, qua loa. Công tác
kiểm tra trước trong và sau khi cho vay tuy đã làm xong vẫn còn mang tính
hình thức đối phó chưa xác định được ý nghĩa quan trọng của công tác này
nên dẫn đến rủi ro trong quá trình đầu tư tín dụng.
- Việc lưu trữ và sắp xếp hồ sơ tín dụng mặc dù được chỉ đạo thường
xuyên ngay từ đầu năm xong ý thức của cán bộ tín dung vẫn còn kém đặc biệt
tại phòng kinh doanh Hội sở…
- Việc đôn đốc thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn đối với các thành phần kinh
tế của một bộ phận cán bộ còn chậm do không thường xuyên theo dõi và đôn
đốc khách hàng trả hàng đặc biệt là nợ quá hạn cho vay tiêu dùng.
- Phong cách giao dịch của một số cán bộ tín dụng tuy đã dược đổi mới,
nhưng việc tiếp nhận hồ sơ thẩm định dự án, hướng dẫn cho khách hàng, điều
tra xử lý cho vay còn chưa kịp thời và sơ sài.
Năm 2006 hoạt động tín dụng cần phải thay đổi mạnh nhất là phong
cách giao dịch, xử lý nhũng yêu cầu tín dụng của khách hàng cần phải nhanh,
an toàn, chính xác, đúng chế độ. Tuy vậy phải đặc biệt quan tâm đến chất
lượng tín dụng.
c. Thanh toán quốc tế:
Trong năm 2006 hoạt động của NHNo Hà Nội nói chung gặp không ít
những khó khăn. Như thị trường nhập khẩu mất cân đối, bên cạnh là sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng
trên địa bàn Hà Nội nhằm duy trì sự phát triển và mở rộng thị phần. Các ngân
hàng chỉ có thể khắc phục bằng cách không ngừng cải tiến phương thức hoạt
đong và nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đứng trước những khó khăn thách thức trong công tác thanh toán quốc
tế, Chi nhánh đã xây dựng đề án phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, kinh
doanh ngoại tệ giai đoạn 2006-2010 là mục tiêu cho năm 2006 và các năm
tiếp theo.
- Công tác nhập khẩu
Trong năm chi nhánh đã đáp ứng tốt mọi nhu cầu nhập khẩu thiết bị

biên mậu như: chuyển tiền (thương mại và phi thương mại), thanh toán bằng
hồi phiếu, thanh toán bằng chứng từ chuyên dùng biên mậu, thanh toán bằng
thư uỷ thác, thanh toán bằng thư tín dụng bằng đồng bản tệ doanh số gần đạt
30 triệu CNY tăng 13 triệu CNY so với năm 205. Trong năm Chi nhánh đã
tiếp tục thu đổi đồng CNY mặt và trong thời gian tới sẽ xúc tiến một số
chương trình quảng cáo, giảm phí dịch vụ, lãi suất ưu đãi nhằm thu hút khách
hàng và tạo điều kiện cho việc nhập khẩu nguyên liệu phục vụ cho sản xuất
cũng như tiêu thụ hàng xuất khẩu. Phí dịch vụ thu được năm 2006 đạt gần 370
ngàn USD, lãi suất kinh doanh ngoại tệ trong năm đạt gần 2 tỷ VNĐ.
+ Tiếp tục hướng dẫn áp dụng mức thu phí cho nhũng đơn vị xuất khẩu
tại NHNo Hà Nội theo biẻu phí quy định cuả NHNo Việt Nam và mặt bằng
phí trên địa bàn đảm bảo tính cạnh tranh và thu phí đầy đủ, chính xác. Đơn
giản hoá một số thủ tục giấy tờ trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán
xuất khẩu nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng và chính xác, trong quá
trình thực hiện đã có sự phối kết hợp hết sức nhịp nhàng giữa các phòng
nghiệp vụ với nhau và đã tạo được hiệu quả tốt trong công việc.
d. Kết quả tài chính
+ Thu nhập:
Năm 2006 Chi nhánh đã tập trung tận thu mọi nguồn thu như thu lãi
cho vay đạt trên 91%, thu thừa vốn và các khoản thu khác: Tổng thu nhập đạt
2.553 tỷ tăng 725 tỷ trong đó thu lãi đạt trên 260 tỷ đồng, thu dịch vụ và thu
bất thường đạt gần 71 tỷ đông, còn lại là thu phí thừa vốn…
+ Chi phí
- Năm 2006 Chi nhánh đã thực hiện chi phí 2.377 tỷ tăng 659 tỷ so với
2005.
Chênh lệch thu nhập trừ chi phí chưa lương: 190.918 triệu tăng 80.618
triệu đồng so với năm 2005. Quỹ thu nhập đạt 190.918 triệu.
+ Chênh lệch lãi suất đầu vào thực tế- đầu ra thực tế: 0,309%
+ Hệ số tiền luơng làm ra: Đảm bảo đủ chi lương theo quy định của
NHNo Việt Nam.

- Nguồn vốn tiếp tục tăng trưởng, đặc biệt nguồn vốn huy động từ dân
cư tăng ổn định đảm bảo thu hút vốn và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.
Mạng lưới kinh doanh đã tiếp tục được nâng cấp chỉnh trang toàn diện tạo đà
cho NHNo Hà Nội vươn lên trong cạnh tranh những năm sau này.
- Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao.
- Tỷ lệ thu lãi cho vay khá tốt.
- Tiếp tục xử lý rủi ro nợ tồn đọng theo 493.
- Tinh thần lao động nhiệt tình của cán bộ nhân viên tuy làm với đặc thù
của Chi nhánh có bộ phận phải làm ngoài giờ nhiều nhưng vẫn vui vẻ hoàn
thành tốt trách nhiệm.
- Khoán tài chính và tiền lương đã có tác động tích cực làm chuyển
biến đến hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như tinh thần lao động và trách
nhiệm của các thành viên thuộc NHNo&PTNT Hà Nội.
Nguyên nhân của thành công
Đạt được kết quả trong hoạt động kinh doanh năm 2006 NHNo Hà Nội
đã có một số thuận lợi:
- NHNo Hà Nội được NHNNVN, NHNo Việt Nam, Thành uỷ, UBND
Thành phố Hà Nội thường xuyên quan tâm hỗ trợ về nhiều mặt, được sự hỗ
trợ tích cực của các ban ngành Trung ương và Hà Nội, sự cộng tác trên
nguyên tắc cùng có lợi các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế.
- Sự đoàn kết quả ban lãnh đạo và tập thể cán bộ viên và sự nhận thức
đầy đủ kịp thời tình hình kinh tế, xã hội của cả nưứoc cũng như Thủ đô Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay theo định hướng phát triển kinh tế của Thành uỷ,
UBND Thành phố Hà Nội, cùng với sự cố gắng của tập thể cán bộ nhân viên
toàn chi nhánh góp phần hoàn thành kế hoạch kinh doanh năm 2006.
- Công tác chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh của HNNo hà Nội
luôn đảm bảo tính dân chủ tập trung cao, sự nhận thức, xác định đúng vị trí
vai trò và trách nhiệm của từng cán bộ nhân viên, xác định đúng vị trí vai trò
điều hành của Đảng uỷ, Ban giám đốc, tính công bằng trong quả lý kinh
doanh là động lực thúc đẩy và tạo điều kiện tiên quyết hoàn thành nhiệm vụ

ban lãnh đạo quan tâm chỉ đạo kịp thời trong hoạt động kinh doanh từng bước
nâng cao nhận thức, kiến thức về nghiệp vụ cũng như kiến thức pháp luật tạo
đà hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Duy trì cơ chế điều hành tập trung, kiên quyết nhung nhanh nhạy và
toạ quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh cho cán bộ lãnh đạo từ hội sở
đến các chi nhánh trong các mặt nghiệp vụ Ngân hàng theo chế độ cho phép.
Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội
I. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng đến công tác huy động
vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triên Nông thôn Hà Nội
1. Môi trường kinh doanh.
Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có liên
quan biện chứng tác động ràng buộc lẫn nhau. Sự biến động của một hoạt
động kinh tế đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực còn
lại. Hoạt động kinh doanh của các NHTM được coi là chiếc cầu nối giữa các
lĩnh vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế. Do vậy, sự tác động ổn định hay
bất ổn định, tăng nhanh hay chậm chạp của nền kinh tế đều tác động mạnh mẽ
đến hoạt động của ngân hàng. Rõ ràng, hoạt động kinh doanh nói chung và
hoạt động huy động vốn nói riêng của ngân hàng luôn gắn với môi trường
kinh doanh. Môi trường kinh doanh bao gồm:
a. Môi trường pháp lý
Hoạt động của ngân hàng có mức độ ảnh hưởng, tác động hết sức mạnh
mẽ đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào. Cụ thể việc huy động vốn và
sử dụng vốn của ngân hàng đều tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc độ chu chuyển vốn, tình trạng thất
nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Chính vì lẽ đó, hoạt động của ngân hàng phải chịu sự
quản lý chặt chẽ gắt gao hơn so với các doanh nghiệp khác. Thực tế là ngân
hàng phải chịu sự điều chỉnh của rất nhiều chính sách, các quy định của chính
phủ, của NHTW; đó là Luật các tổ chúc tín dụng, luật kinh tế, luật dân sự,
hàng loạt hệ thống các quy định cụ thể trong từng thời kỳ về lãi suất, dự trữ,

ngân hàng sẽ diễn ra thuận lợi, dễ dàng hơn. Ngược lại nếu nền kinh tế đang
trong giai đoạn suy thoái thì khả năng khai thác vốn đưa vào nền kinh tế ắt
hẳn sẽ bị hạn chế, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy động vốn.
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường. Cạnh
tranh không phải lúc nào cũng tốt vì cạnh tranh có thể dẫn đến rất nhiều
những tiêu cực, hạn chế. Vì vậy, cạnh tranh là một thách với sự phát triển vừa
là nhân tố thúc đẩy sự phát triển. Để công tác huy động vốn nói riêng và hoạt
động kinh doanh của ngân hàng nói chung đạt được hiệu quả, ngân hàng phải
quan tâm đến vấn đề cạnh tranh. Cụ thể ngân hàng phải xác định rõ trong địa
bàn hoạt động của mình có bao nhiêu ngân hàng, các đối thủ khác cũng cung
cấp các dịch vụ tương như ngân hàng, có bao nhiêu cơ hội để đầu tư kinh
doanh. Trên cơ sở đó ngân hàng sẽ tính toán đưa ra loại hình dịch vụ nào có
hiệu quả nhất, ấn định một mức lãi suất phù hợp không chỉ với thị trường mà
còn tiết kiệm được chi phí huy động.
Trong những năm gần đây, môi trường kinh doanh đã có nhiều thay đổi
khi thị trường chứng khoán phát triển mạnh ở nước ta. Sự sôi động của thị
trường chứng khoán đã khiến cho các dịch vụ thẻ, mở toàn khoản của các cá
nhân và tổ chức nhộn nhịp hơn. Điều này cùng với một số dịch vụ khác về
quản lý tài chính doanh nghiệp và cá nhân đã mang lại những nguồn thu đáng
kể cho các ngân hàng. Đồng thời nó cũng khiến cho việc huy động vốn của
các ngân hàng trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Sức nóng của thị trường
chứng khoán , tỷ lệ chia cổ tức được các ngân hàng công bố ở mức cao, cùng
với sự kỳ vọng của nhà đầu tư vào lợi nhuận dài hạn của các ngân hàng đã
khiến việc phát hành cổ phiếu tăng vốn trở nên quá thuận lợi. Tuy nhiên sự
phát triển của thị trường chứng khoán đã làm cho dòng vốn nhàn rỗi trong dân
đang ngày càng đổ dồn vào thị trường chứng khoán, thay thế cho thói quen
gửi tiét kiệm tại ngân hàng, đặt ngành ngân hàng trước sức ép cạnh tranh mới.
Sức ép cạnh tranh đã khiến gần như đồng loạt các ngân hàng công bố tăng lãi
suất huy động vốn, điều này dẫn đến tình trạng lãi suất đang va chạm với giới
hạn sinh lãi, khả năng an toàn và tác động tới tăng trưởng kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status