Báo cáo chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài:
Năm 2008 chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Các nước trên thế
giới đang cố gắng đưa đất nước mình thoát khỏi khủng hoảng và cùng với đó là sự
phát triển đi lên của nền kinh tế thế giới. Để khôi phục lại một nền kinh tế tăng
trưởng cần có các biện pháp và chính sách phù hợp ở từng quốc gia và đặc biệt là các
gói kích cầu của chính phủ các nước. Khi đó NSNN với ý nghĩa là nội lực tài chính
giúp Nhà nước trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế sẽ là công cụ hữu hiệu để
NN đưa ra các chính sách kích cầu hợp lý, kịp thời. Một nước có nguồn lực NS mạnh
sẽ giúp chính phủ tốt hơn trong hoạt động thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
mình. Vì vậy NSNN là một nhân tố vô cùng quan trọng cần được quản lý tốt nhằm
tạo động lực tiền đề cho sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và giữ vững an ninh-
quốc phòng.
Nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nhằm
hướng tới một nền công nghiệp hiện đại. Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng,
công tác quản lý NS cũng có nhiều thay đổi phù hợp. Việc phân cấp quản lý NS ngày
càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho các chính quyền địa phương chủ động hơn
trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ công tác của mình.
NS Huyện có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động
của chính quyền huyện và cấp chính quyền cơ sở đồng thời là một công cụ để chính
quyền cấp Huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội trên địa
bàn Huyện. Tuy nhiên do NS Huyện là một cấp NS trung gian ở giữa NS cấp tỉnh và
NS cấp xã nên đôi khi NS Huyện chưa thể hiện được vai trò của mình đối với kinh tế
địa phương.
Do vậy để chính quyền Huyện thực thi được hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế
xã hội mà nhà nước giao cho thực hiện chiến lược phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế
địa phương trên các lĩnh vực đặc biệt là nông nghiệp nông thôn tại địa bàn thì cần có
một NS Huyện đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực, là một mục tiêu phấn
1
Báo cáo chuyên đề thực tập
Báo cáo chuyên đề thực tập
6. Bố cục chuyên đề:
Chuyên đề được chia thành 3 phần:
Phần I: Sự cần thiết tăng cường phân cấp quản lý NS cấp Huyện
Phần II: Thực trạng phân cấp quản lý NS Huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An.
Phần III: Giải pháp tăng cường phân cấp quản lý NS Huyện.
Qua việc nghiên cứu đề tài, em đã lĩnh hội được nhiều kiến thức mới về phân
cấp quản lý NS nói chung và NS Huyện nói riêng, cả về lý luận và thực tiễn. Tuy
nhiên với một sinh viên sắp tốt nghiệp thì kinh nghiệm thực tế hạn chế, khả năng
nhận thức lý luận và thực tiễn còn chưa sắc bén, thời gian hạn hẹp, cho nên đề tài
không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Vì vậy kính mong sự phê bình, góp
ý của thầy, các cán bộ quản lý NS và tất cả các bạn quan tâm đến đề tài để chuyên đề
thực tập của em được hoàn thiện và phong phú hơn.
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Trần Đình Độ
3
Báo cáo chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT CỦA TĂNG CƯỜNG PHÂN
CẤP QUẢN LÝ NS CẤP HUYỆN.
1.1 NSNN và phân cấp quản lý NSNN:
1.1.1.NSNN và vai trò của NSNN:
1.1.1.1. Khái niệm
Sự xuất hiện của nhà nước và sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa đã là tiền đề
cho sự ra đời của NSNN. Cho đến nay, thuật ngữ “ ngân sách nhà nước”được sử
dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội ở mọi quốc gia. Song, quan niệm về
NSNN lại chưa thống nhất. Trên thực tế, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về
NSNN không giống nhau tuỳ theo quan điểm của người định nghĩa thuộc các trường
phái kinh tế khác nhau hoặc tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau.
- Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì NSNN là một văn
khoản chi của NN để thể chế hoá bằng pháp luật thực hiện quyền lập pháp về NSNN
( quyết định về các khoản thu, các khoản chi, tổng số thu, tổng số chi ..) còn quyền
hành pháp giao cho chính phủ thực hiện.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN do cách tiếp cận và nhìn nhận vai trò
tác dụng của NSNN trên nhiều khía cạnh khác nhau. Song trong bài chuyên đề này
chúng ta thống nhất sự dụng định nghĩa được đưa ra trong luật NSNN hiện hành như
sau:
Theo điều 1 luật NSNN: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của
nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện
trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Như vậy có thể nói NSNN là một bảng dự toán bằng tiền các hoạt động thu và
chi của NN trong một thời gian nhất định ( thường là một năm). Trong đó có 2 khoản
mục thu chi được Quốc Hội phê chuẩn:
Quỹ NS được hình thành từ các khoản thu mà Quốc Hội quy định và tiến hành
giao cho các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ thu tạo lập quỹ.
Các khoản chi từ quỹ NS cũng được xem xét sao cho hợp lý để khuyến khích
phát triển kinh tế xã hội và đạt các mục tiêu quản lý của NN. Chi NS gồm các
khoản chi cho các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng.
5
Báo cáo chuyên đề thực tập
Hoạt động của NSNN chính là việc tạo nguồn thu và sự dụng nguồn thu đó
cho các hoạt động chi từ quỹ tiền tệ quốc gia, làm cho nguồn tài chính vận động giữa
một bên là chủ thể NN và một bên là các chủ thể kinh tế xã hội khác trong quá trình
phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị. Trong quá trình phân phối
này làm xuất hiện các mối quan hệ tài chính đó là:
Quan hệ tài chính giữa NN và các chủ thể doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Quan hệ tài chính giữa NSNN và các đơn vị quản lý NN nằm trong lĩnh vực
sự nghiệp văn hóa xã hội hành chính và an ninh quốc phòng.
Quan hệ kinh tế NSNN với cá hộ gia đình và dân cư.
Ngoài ta NSNN còn được sự dụng để kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định
tiền tệ giá cả thị trường, góp phần ổn định và phát triển sản xuất, ổn định đời sống
nhân dân.
Vai trò của NSNN trong việc ổn định xã hôi:
Việc NN phân phối tổng sản phẩm xã hội, trong ổn định và phát triển kinh tế,
nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho ổn định chính trị thông qua NSNN bảo
đảm các nhu cầu và điều kiện để không ngừng hoàn thiện bộ máy NN, phát huy vai
trò của bộ máy NN trong việc quản lý mọi lĩnh vực của đất nước, bảo đảm an ninh,
quốc phòng, bảo vệ và phát triển những thành tựu đã đạt được trong sự nghiệp cách
mạng
Các khoản chi từ NSNN nhằm tiến tới các mục đích xã hội to lớn: trợ cấp cho
người nghèo, chi cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, chi cho các mục tiêu
quốc gia như kế hoạch hóa dân số,nước sạch....nhằm tiến tới một xã hội văn minh và
bình đẳng.
1.1.2. Phân cấp NSNN:
1.1.2.1. sự cần thiết của phân cấp NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là việc phân định nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm
của các cơ quan NN có thẩm quyền trong việc điều hành và quản lý NSNN. Chế độ
pháp lý về phân cấp quản lý NSNN là tổng hợp các qui phạm pháp luật do cơ quan
NN có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
7
Báo cáo chuyên đề thực tập
trình phân định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan NN có thẩm quyền trong
lĩnh vực NSNN và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện việc phân
giao nguồn thu và chi của NS các cấp.
Quản lý NN về NS là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản
lý NN, đó là sự tác động, điều chỉnh của NN vào các quan hệ phát sinh trong việc
quản lý và sử dụng NSNN thông qua các công cụ pháp luật, chính sách nhằm quản lý
và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực tài chính quốc gia.
Trong thời điểm hiện nay NN ta đã và đang tiến hành cải cách, đổi mới tổ
phương pháp tốt để NN ta quản lý và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài chính
Quốc gia
1.1.2.2. Nguyên tắc phân cấp NSNN:
Phân cấp NSNN là một công việc cấp thiết nhằm tăng tính chủ động sáng tạo
cho các cấp địa phương trong công tác quản lý và phát triển kinh tế-xã hội. Vì vậy
cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
Bảo đảm đúng quy định của Luật NSNN. Việc phân cấp quản lý NSNN đã
được đưa vào Luật NSNN năm 1996 (sửa đổi năm 2002). Vì vậy để thực hiện
phân cấp NSNN cho trung ương và địa phương, cũng như các cấp chính quyền
tại địa phương phải tuân thủ theo các quy định trong luật và các văn bản
hướng dẫn thi hành của cấp trên.
Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của địa
phương, đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư từng vùng và năng lực của đội ngũ
cán bộ, bảo đảm hiệu quả.
Phân cấp tối đa các nguồn thu nhằm tăng quyền chủ động trong quá trình quản
lý và điều hành NS phục vụ cho nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các cấp chính
quyền, nhất là cấp cơ sở, giảm dần sự phụ thuộc của NS cấp trên (số trợ cấp từ
NS cấp trên). Kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại
của việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ % phân chia các nguồn thu
giữa các cấp NS trong thời gian qua.
9
Báo cáo chuyên đề thực tập
Phân cấp nhiệm vụ chi bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội của các cấp
chính quyền.
Không phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho các cấp NS. Với mỗi
khoản thu được phân cấp theo tỷ lệ rõ ràng. Nhưng tùy theo điều kiện hoàn
cảnh kinh tế xã hội địa phương để áp dụng tỷ lệ phân chia, tránh trường hợp
phân nhỏ các nguồn thu mà nên khuyến khích giao các khoản thu 100% cho
cấp dưới.
nước liên bang và Nhà nước đơn nhất ( phi liên bang ).
Kiểu 1: Nhà nước liên bang ( Đức, Mỹ, Malaysia, Canada…)
Nhà nước liên bang là kiểu NN có từ hai hay nhiều thành viên hợp lại, cơ quan
quyền lực và cơ quan quản lý được tổ chức thành hai hệ thống. Trong đó một hệ
thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống riêng của từng thành viên. Đối với
những nước có cấu trúc nhà nước liên bang thì hệ thống NSNN được tổ chức thành 3
cấp như sau: NS liên bang, NS các bang và NS của các cấp địa phương trực thuộc
bang.
Kiểu 2: Nhà nước đơn nhất: ( Pháp, Anh, Ý, Nhật…)
Hình thức cấu trúc NN đơn nhất là NN có chủ quyền chung, cơ quan quyền
lực và cơ quan quản lý được thống nhất từ trung ương đến địa phương, tập trung
quyền lực cao ở cấp trung ương. Ở các nước này thì hệ thống NSNN bao gồm 2 cấp
đó là: NSTW và NSĐP. Trong đó mức độ và giới hạn, phần lớn tập trung ở NSTW.
Như vậy có thể thấy đối với mỗi hình thức cấu trúc NN khác nhau thì cách
phân cấp về quản lý hành chính NN cũng khác nhau và kéo theo là khác nhau trong
phân cấp quản lý NSNN.
Nhiệm vụ cung cấp hàng hoá công cộng
Một chức năng quan trọng của NN là việc cung cấp hàng hóa công cộng. Và
để việc cung cấp hàng hoá công cộng, dịch vụ công công có hiệu quả và đáp ứng
được nhu cầu của nhân dân thì cũng cần được giao cho các cấp chính quyền thực
hiện. Những hàng hoá, dịch vụ cần nguồn vốn lớn, phải có khả năng quản lý cao và
11
Báo cáo chuyên đề thực tập
mang tính chất quan trọng như: an ninh, quốc phòng… thường do chính quyền NN
trung ương đảm bảo, còn những hàng hoá mang tính phổ biến hơn thường giao cho
chính quyền địa phương thực hiện, đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp theo tình hình
mỗi địa phương. Mặt khác việc phân cấp về cung ứng hàng hoá và dịch vụ công cộng
chính là tiền đề để phân định nhiệm vụ thu, và nhiệm vụ chi cho từng cấp, và từng
địa phương do đó nó ảnh hưởng đến việc phân cấp quản lý NSNN
Đặc điểm tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ:
để cung cấp phương tiện vật chất cho chính quyền đó hoạt động thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ. Trong đó quan hệ giữa các cấp NS trong
hệ thống NSNN tuân thủ các nguyên tắc:
Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể cho NSTW và NSĐP. Thực hiện
phân chia theo tỷ lệ phần trăm các khoản thu giữa các cấp NS.
13
Ngân Sách Nhà Nước
Ngân Sách Trung Ương Ngân Sách Địa Phương
Ngân Sách cấp Tỉnh
Ngân Sách cấp Huyện
Ngân Sách cấp Xã
Báo cáo chuyên đề thực tập
Thực hiện bổ sung NS cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo công bằng phát triển
cân đối giữa các vùng và các địa phương. Số bổ sung này là khoản thu NS cấp
dưới.
Tỷ lệ phần trăn phân chia các khoản thu và số bổ sung từ cấp trên cho cấp
dưới ổn định trong vòng 3-5 năm (gọi chung là thời kỳ ổn định NS ). Chính
phủ trình Quốc Hội thời kỳ ổn định NS giữa NSTW và NSĐP. UBND cấp
tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định NS giữa các cấp NSĐP.
Nhiệm vụ chi thuộc NS cấp nào do NS cấp đó đảm bảo, trường hợp cần ban
hành chính sách chế độ mới làm tăng các khoản chi NS sau khi dự toán thì
phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của
NS từng cấp.
Trong thời kỳ ổn định NS các địa phương được phép sự dụng nguồn tăng thu
cho NSĐP ( phần mà NSĐP được hưởng ) để chi cho các nhiệm vụ phát triển
kinh tế xã hội trên địa bàn quản lý, sau mỗi thời kỳ ổn định NS phải tăng khả
năng tự cân đối phát triển NSĐP thực hiện giảm dần số lượng bổ sung của cấp
trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết cho cấp trên.
Trong trường hợp cơ quan quản lý NN cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý
cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải chuyển kinh phí cho cấp
hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
1.2.1.2. Vai trò của NS huyện:
Từ định nghĩa NS Huyện có thể thấy vai trò của NSNN trên địa bàn Huyện đó
là vai trò đảm bảo chức năng NN; an ninh, quốc phòng; thúc đẩy phát triển, ổn định
kinh tế; bù đắp những khiếm khuyết thị trường, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường. Thể hiện trên 3 khía cạnh sau:
NS Huyện bảo đảm thực hiện vai trò Nhà nước, bảo vệ quốc phòng và an
ninh trật tự cấp Huyện.
Là một cấp chính quyền nên Huyện cũng tổ chức ra cho mình một hệ thống
các cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng và quyền hạn của
NN. Điều đó cũng có nghĩa là để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động được cần
15
Báo cáo chuyên đề thực tập
phải có một quỹ tài chính tập trung cho nó- đó chính là NS Huyện. NS Huyện cũng
tạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng
Nhà nước ở điạ phương. Tuỳ theo phạm vi địa lý, tình hình kinh tế xã hội trên từng
Huyện mà nhu cầu đảm bảo này là khác nhau.
Trong các chức năng của Nhà nước, chức năng đảm bảo an ninh trật tự, quốc
phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Để đảm bảo cho chức năng đặc biệt này, NS
Huyện cần phải có kế hoạch cụ thể, chi tiết, có các khoản dự phòng hợp lý.
Ngân sách Huyện là công cụ thúc đẩy, phát triển ổn định kinh tế
Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính của cấp tỉnh, cấp trung ương,
cấp Huyện cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng.
Sẽ không có một cơ cấu kinh tế ổn định, phát triển nếu không có NS làm công cụ.
Các Huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình để định hướng, hình
thành cơ cấu kinh tế, kích thích phát triển. Đồng thời các Huyện phải cung cấp kinh
phí, vốn đầu tư, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh
nghiệp hoạt động.
Ngân sách Huyện là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường, đảm bảo
công bằng xã hội.
phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính Địa phương
Nguyên tắc này đòi hỏi: NSNN được xây dựng rành mạch, có hệ thống,các dự
toán thu, chi phải được tính toán một cách chính xác và phải đưa vào kế hoạch NS;
không được che đậy và bào chữa đối với tất cả các khoản thu, chi NSNN; không
được phép lập quỹ đen, NS phụ.
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NS:
Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường
sức mạnh vật chất của NN. Biểu hiện cụ thể sức mạnh vật chất của NN là thông qua
hoạt động thu - chi của NSNN. Nguyên tắc thống nhất trong quản lý NSNN được thể
hiện:
Mọi khoản thu - chi của NSNN phải tuân thủ theo những quy định của Luật
NSNN và phải được dự toán hàng năm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
17
Báo cáo chuyên đề thực tập
Tất cả các khâu trong chu trình NSNN khi triển khai thực hiện phải đặt dưới
sự kiểm tra giám sát của cơ quan quyền lực NN.
Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế, xã hội
của Huyện. Hoạt động kinh tế, xã hội của Huyện là nền tảng của hoạt động NSNN
cấp Huyện. Hoạt động NSNN phục vụ cho hoạt động kinh tế, xã hội, đồng thời là
hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế, xã hội.
Nguyên tắc cân đối NS:
Nguyên tắc này đòi hỏi các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ
các nguồn thu bù đắp. UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn
NSNN bằng cách đưa ra các quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và
cắt giảm những khoản chi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi
nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng.
1.2.3. Nội dung quản lý ngân sách huyện
1.2.3.1. Quản lý lập dự toán ngân sách:
Quản lý quá trình lập dự toán NS chính quản lý các quy trình lập dự toán có
theo đúng luật NS hay không, kiểm tra chất lượng bản dự toán NS có phù hợp với các
thu, chi giữa các cấp NS
1.2.3.2. Chấp hành dự toán ngân sách:
Công tác chấp hành dự toán NS là rất quan trọng. Đây là khâu quyết định đến
sự ảnh hưởng của NSNN cấp huyện đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở địa
phương. Vì vậy cần bám sát vào dự toán để tổ chức quản lý việc chấp hành các khoản
thu và khoản chi trên địa bàn Huyện.
Trong thu ngân sách:
Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế, và cơ quan khác được giao nhiệm vụ
thu NS (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN. Cơ quan thu có nhiệm
vụ, quyền hạn như sau: Phối hợp với các cơ quan NN hữu quan tổ chức thu đúng
pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của UBND huyện và sự giám sát của HĐND
huyện về công tác thu NS trên địa bàn; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm
19
Báo cáo chuyên đề thực tập
chỉnh nghĩa vụ nộp NS theo quy định của Luật NS và các quy định khác của Pháp
luật .
Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp NS phải nộp đầy đủ,
đúng hạn các khoản nộp vào NSNN
Trong chi NS:
Sau khi Uỷ ban nhân dân giao dự toán NS, các đơn vị dự toán tiến hành phân
bổ và giao dự toán chi NS cho các đơn vị sử dụng NS trực thuộc. Dự toán chi thường
xuyên giao cho đơn vị sử dụng NS được phân bổ theo từng loại của mục lục NSNN
theo các nhóm mục. Chi NS gồm 2 khoản mục lớn đó là:.
Nội dung cơ bản của chi thường xuyên NS huyện bao gồm:Chi cho các hoạt
động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao, khoa học và công
nghệ, văn hoá xã hội, chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của NN,chi cho hoạt
động hành chính NN, chi cho Quốc phòng - An ninh và trật tự an toàn xã hội,chi
khác.
Tài chính-kế hoạch Huyện để lập báo cáo quyết toán. Kho bạc nhà nước xác nhận số
liệu thu, chi NS trên báo cáo quyết toán của NS các cấp, đơn vị sử dụng NS
Thứ hai là: Quản lý trong việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Hết năm kế hoạch, chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư năm theo biểu mẫu
quy định trong chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị chủ đầu tư.
Nội dung báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành: Nguồn vốn đầu tư thực
hiện dự án đến ngày khoá sổ lập báo cáo quyết toán, chi phí đầu tư đề nghị quyết
toán, chi tiết theo cơ cấu xây lắp, thiết bị, chi phí khác, chi tiết theo từng hạng mục,
khoản mục chi phí đầu tư; Xác định chi phí đầu tư thiệt hại không tính vào giá trị tài
sản hình thành qua đầu tư.
21
Báo cáo chuyên đề thực tập
Thứ ba là: Quản lý quyết toán các khoản chi thường xuyên
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo đó đến
các cơ quan có thẩm quyền, số liệu trong báo cáo quyết toán phải đảm bảo tính trung
thực, chính xác, báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán trước khi trình cơ
quan NN có thẩm quyền phê chuẩn và phải có sự xác nhận của Kho bạc nhà nước,
báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy tình trạng quyết toán
chi lớn hơn thu; Cơ quan kiểm toán NN thực hiện kế hoạch kiểm toán, xác định tính
đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp, cơ quan đơn vị có liên
quan theo quy định của pháp luật.
Thứ tư là: Quản lý trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán năm
của các đơn vị dự toán
1.2.4. Sự cần thiết tăng cường phân cấp quản lý NS Huyện:
Như đã phân tích ở trên ta thấy rằng Huyện là một cấp quản lý hành chính
trung gian giữa tỉnh và xã. Chính quyền cấp Huyện đã được trao quyền phân cấp về
quản lý hành chính nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mình đối
với địa phương. Để chính quyền Huyện có thể thực hiện tốt chức năng nhằm phát
triển kinh tế xã hội trên địa bàn cần phải có một nguồn lực tài chính đủ mạnh. Vì vậy
NS cấp Huyện cần phải được phân cấp quản lý chặt chẽ đảm bảo hiệu quả cao nhất.
Nam Đàn có 24 xã và thị trấn. Bao gồm các xã: Nam Kim, Nam Thanh, Nam
Thượng, Nam Thái, Nam Nghĩa, Nam Hưng, Nam Anh, Nam Phúc, Nam
Cường,Nam Cát, Vân Diên,Xuân Hòa, Kim Liên, Hồng Long, Nam Lĩnh, Hùng Tiến,
Nam Giang, Khánh Sơn, Nam Lộc, Nam Tân, Xuân Lâm, Nam Trung, Nam Xuân và
thị trấn Nam Đàn. Huyện lỵ đóng ở Thị Trấn Nam Đàn_nằm trên đường quốc lộ 46
( Nối Vinh đi Đô Lương ) cách Thành Phố Vinh 21 km về phía Tây.
Nam Đàn nằm trong vùng khí hậu chuyển tiếp, vừa mang đặc tính mùa đông
lạnh của khí hậu miền Bắc, vừa mang đặc tính nóng của khí hậu miền Nam, chia
thành 2 mùa rõ riệt: mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, mùa lạnh từ tháng 10 đến
tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm là 1900mm. Lượng mưa phân bố không
đều, mưa nhiều ở trung tuần tháng 9 đến đầu tháng 10 gây ngập úng cục bộ ở vùng
thấp. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 4, lượng mưa chỉ đạt 10% lượng mưa cả năm nên
gây khô hạn nghiêm trọng. Có hai hướng gió chính là gió mùa Đông Nam ( tháng 4
đến tháng 10) và gió mùa Đông Bắc ( tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Trong các
tháng 5, 6, 7 thường có gió mùa Tây Nam ( gió Lào ) khô nóng gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến mùa màng.
23
Báo cáo chuyên đề thực tập
Nam Đàn nằm kẹp giữa hai dãy núi là Đại Huệ ở phía Bắc và Thiên Nhẫn ở
phía Tây tạo ra thung lũng đồng bằng hình tam giác, có sông Lam chảy dọc theo
hướng Bắc Nam chia huyện thành 2 vùng tả ngạn và hữu ngạn sông Lam.
Nam Đàn được coi là trọng điểm phát triển ngành du lịch đứng thứ 2 của tỉnh
Nghệ An bởi có cảnh quan thiên nhiên hữu tình và đặc biệt có nhiều di tích lịch sử
được Bộ Văn Hóa công nhận. Đó là: Nhà lưu niệm cụ Phan Bội Châu ở Thị trấn
Nam Đàn, Mộ và Điền Thờ vua Mai Hắc Đế ở Thị trấn và xã Vân Diên, Điền thờ
Nhạn Tháp ở xã Hồng Long, Đình Hoành Sơn ở xã Khánh Sơn, Đình Trung Cần và
Mộ Tống Tất Thắng ở xã Nam Trung, Mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp ở xã Nam
Kim, Thành Lục Niên trên dãy núi Thiên Nhẫn.Đặc biệt là khu di tích nhà lưu niệm
Chủ Tịch Hồ Chí Minh.
Nam Đàn là quê hương của nhiều danh nhân và cũng là mảnh đất hiếu học. Đi
Dịch vụ 20,22 21,29 20,62
Tổng số 100 100 100
(Nguồn: Số liệu Phòng thống kê huyện Nam Đàn)
Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển nhanh và ổn định. Tổng sản lượng
lương thực tăng dần qua các năm : năm 2007 là 80.869 tấn và năm 2008 đạt 87.367
tấn. Trong trồng trọt cơ cấu giống cây trồng được chuyển đổi theo hướng tăng giống
có năng suất, chất lượng,chỉ đạo mở rộng trồng dưa đỏ, rau màu có giá trị cao, phát
triển cây ớt cay,cây sắn dây… trong 3 năm 2006 đến năm 2008. Năm 2008 đưa được
một số giống mới có năng suất chất lượng cao vào sản xuất như: lúa Khải Phong 7,
khang dân đột biến, TH3-3, ĐB1, ớt cay Thái Lan NĐ1, HT9, gấc hàng hóa. Trong
chăn nuôi thì do làm tốt công tác phòng chống, khống chế dập dịch để ko xảy ra lây
lan nên trên địa bàn huyện chăn nuôi tiếp tục được duy trì. Chăn nuôi trâu bò hàng
hóa, chăn nuôi gia cầm có bước phát triển.
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong những năm gần đây có sự
thay đổi và những bước phát triển mới, ngày càng tăng về cơ sở và số hộ sản xuất, đa
dạng hoá ngành nghề và số lượng sản phẩm, đặc biệt phát triển các cơ sở chế biến
lương thực thực phẩm, sản xuất đồ mộc gia dụng, mộc xây dựng, sửa chữa máy móc,
thiết bị. Các sản phẩm thuộc ngành công nghiệp như :khai thác khoáng sản, sản xuất
gạch ngói...luôn vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó tiếp tục đầu tư thu hút
25